MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn 2001
-2010, tách tín dụng ưu đãi ra khỏi tín dụng thương mại, để xây dựng hệ
thống Ngân hàng thương mại Nhà nước thành những doanh nghiệp kinh
doanh tiền tệ có uy tín, đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực
và thế giới.
Trong tiến trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, ngày 04/10/2002 Thủ
tướng Chính phủ ra quyết định số 131/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân
hàng Chính sách xã hội Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ
người nghèo nhằm tách bạch chức năng tín dụng chính sách ra khỏi ngân
hàng thương mại. Ngân hàng Chính sách xã hội ra đời nhằm tập trung các
nguồn lực của nhà nước thực hiện tín dụng chính sách đối với hộ nghèo,
học sinh sinh viên và các đối tượng chính sách khác góp phần thực hiện
mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo. Đây là một định chế tài chính tín
dụng đặc thù của nhà nước nhằm chuyển tải vốn tín dụng ưu đãi đến người
nghèo, học sinh sinh viên và các đối tượng chính sách khác, góp phần thực
hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN và thực hiện các mục tiêu
chính trị - kinh tế - xã hội.
Cho vay học sinh, sinh viên là chính sách quan trọng của Đảng và
Nhà nước, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho nền kinh
tế tri thức “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Đặc biệt Đảng và Nhà nước ta
luôn quan tâm đến đối tượng là HSSV có hoàn cảnh khó khăn, HSSV
nghèo, ở vùng
sâu, vùng xa để có điều kiện vươn lên học tập tốt, nhằm nâng cao địa vị xã
hội, giảm bớt dần sự thiếu hụt cán bộ, rút dần khoảng cách chênh lệch về
dân trí về kinh tế giữa các vùng miền.
Xuất phát từ tình hình đó tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng
cho vay đối với học sinh, sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của
pháp luật Việt Nam vay nhằm góp phần trang trải chi phí cho việc học tập,
sinh hoạt của HSSV trong thời gian theo học tại trường bao gồm: tiền học
phí, chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại.
1.1.2. Sự cần thiết của cho vay đối với học sinh, sinh viên
Bài học rút ra từ một số nước trên thế giới cho thấy những nước có
nền kinh tế phát triển là những nước đã quan tâm đầu tư cho giáo dục đào
tạo. Bởi vậy, trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh
tế, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là Việt Nam đã gia nhập WTO.
Đảng và Nhà nước ta lại càng chú trọng tới sự nghiệp giáo dục đào tạo. Giáo
dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn
dân. Để phát triển sự nghiệp giáo dục, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước
về giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lức, bồi dưỡng nhân tài
phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đáp ứng nhu cầu xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ văn minh.
Tuy nhiên có một thực tế đáng lo ngại ở nước ta hiện nay là HSSV có
hoàn cảnh khó khăn chiếm tỷ lệ cao so với tổng số HSSV đang theo học tại
các trường ĐH, CĐ, THCN, học nghề có hoàn cảnh khó khăn, nếu không
được sự hỗ trợ của Nhà nước thì bộ phận HSSV này khó có thể theo học
được, đất nước sẽ mất đi một số lượng lớn nhân tài, những vùng sâu, vùng
xa, vùng núi hải đảo không có điều kiện tiếp nhận cán bộ.
Nhận thức được đầy đủ những vấn đề này, ngày 02/03/1998 thủ tướng
Chính phủ đã ký quyết định số 51/1998/QĐ-TTg thành lập Quỹ tín dụng đào
tạo để hỗ trợ vốn cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn nhằm mục đích:
- Giúp HSSV giải quyết những khó trong thời gian học tập tại trường,
để tiếp tục theo học, giải quyết những khó khăn cho cha mẹ HSSV.
- Giúp HSSV và cha mẹ HSSV ( hoặc người đỡ đầu) xác định rõ trách
nhiệm của mình trong quan hệ vay mượn, khuyến khích người vay sở dụng
vốn vào mục đích học tập tốt để sau này ra trường có việc làm thu nhập trả
Căn cứ Công văn số 2162A/NHCS-TD về hướng dẫn cho vay
HSSV theo Quyết định 157/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ.
1.1.3.1. Đối tượng HSSV được vay vốn
Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại
học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại
các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp
luật Việt Nam, gồm:
- Học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc
mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động.
- Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các
đối tượng:
+ Hộ nghèo theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật.
+Hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150%
mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo theo quy định
của pháp luật.
- Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn,
bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận
của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.
1.1.3.2.Phương thức cho vay
Việc cho vay đối với học sinh, sinh viên được thực hiện theo phương
thức cho vay thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình là người trực tiếp
vay vốn và có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng Chính sách xã hội. Trường
hợp học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ
nhưng người còn lại không có khả năng lao động, được trực tiếp vay vốn
tại Ngân hàng Chính sách xã hội nơi nhà trường đóng trụ sở.
1.3.1.3. Điều kiện vay vốn
- Học sinh, sinh viên đang sinh sống trong hộ gia đình cư trú hợp pháp tại
địa phương nơi cho vay có đủ các tiêu chuẩn quy định tại mục 1.1.3.1
- Đối với học sinh, sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển
hoặc giấy xác nhận được vào học của nhà trường.
bằng thời gian phát tiền vay.
-Trường hợp một hộ gia đình vay vốn cho nhiều HSSV cùng một lúc,
nhưng thời hạn ra trường của từng HSSV khác nhau, thì thời hạn cho vay được
xác định theo HSSV có thời gian còn phải theo học tại trường dài nhất.
1.1.3.6. Lãi suất cho vay
- Các khoản vay từ 01/10/1007 trở đi được áp dụng lãi suất cho vay
0,5%/tháng.
- Các khoản cho vay từ 30/09/2007 trở về trước còn dư nợ đến ngày
30/09/2007 vẫn được áp dụng mức lãi suát cho vay đã ghi trên Khế ước
nhận nợ cho đến khi thu hồi hết nợ.
- Lãi suất quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.
1.1.3.7.Hồ sơ cho vay và quy trình cho vay
♦ Đối với hộ gia đình
Hồ sơ cho vay bao gồm
- Giấy đề nghị vay vốn kiêm Khế ước nhận nợ ( mẫu số 01/TD) kèm
Giấy xác nhận của nhà trường (bản chính) hoặc Giấy báo nhập học (bản
chính hoặc bản phôtô có công chứng).
- Danh sách hộ gia đình có HSSV đề nghị vay vốn với NHCSXH
(mẫu 03/TD).
- Biên bản họp tổ TK&VV (mẫu số 10/TD).
- Thông báo kết quả phê duyệt cho vay (mẫu số 04/TD).
Quy trình cho vay
- Người vay viết Giấy đề nghị vay vốn ( mẫu số 01/TD) kèm Giấy xác
nhận của nhà trường hoặc Giấy báo nhập học gửi cho Tổ TK & VV.
- Tổ TK &VV nhận được hồ sơ xin vay của người vay, tiến hành họp
Tổ để bình xét cho vay, kiểm tra các yếu tố trên Giấy đề nghị vay vốn, đối
chiếu với đối tượng xin vay đúng với chính sách vay vốn của Chính phủ.
Trường hợp người vay chưa là thành viên của Tổ TK&VV thì Tổ TK&VV
tại thôn đang hoạt động hiện nay tổ chức kết nạp thành viên bổ sung hoặc
thành lập Tổ mới nếu đủ điều kiện. Nếu chỉ có từ 1 đến 4 ngươi vay mới
tháng của từng học kỳ.
+ Giấy xác nhận của nhà trường hoặc giấy báo nhập học được sử
dụng làm căn cứ giải ngân cho 2 lần của năm học đó. Để giải ngân cho năm
học tiếp theo
- Đến kỳ giải ngân, người vay mang chứng minh nhân dân, Khế ước
nhận nợ đến điểm giao dịch quy định của NHCSXH để nhận tiền vay.
Trường hợp, người vay không trực tiếp đến nhận tiền vay được uỷ quyền
cho thành viên trong hộ lĩnh tiền nhưng phải có giấy uỷ quyền có xác nhận
của UBND cấp xã. Mỗi lần giải ngân, cán bộ Ngân hàng ghi đầy đủ nội
dung và yêu cầu người vay ký xác nhận tiền vay theo quy định.
- NHCSXH có thể giải ngân bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản cho
người vay theo phương thức NHCSXH nơi cho vay chuyển tiền cho HSSV
nhận tiền mặt tại trụ sở NHCSXH nơi gần trường học của HSSV hoặc
chuyển khoản cho HSSV đóng học phí cho nhà trường theo đề nghị của
người vay.
1.1.3.9. Định kỳ hạn trả nợ, thu nợ, thu lãi tiền vay
- Khi giải ngân số tiền cho vay của kỳ học cuối cùng, NHCSXH nơi
cho vay cùng người vay thoả thuận việc định kỳ hạn trả nợ của toàn bộ số
tiền cho vay. Người vay phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên khi
HSSV có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày
HSSV kết thúc khoá học. Số tiền cho vay được phân kỳ trả nợ tối đa 6
tháng 1 lần, phù hợp với khả năng trả nợ của người vay do Ngân hàng và
người vay thoả thuận ghi vào Khế ước nhận nợ.
- Trường hợp người vay vốn cho nhiều HSSV cùng một lúc, nhưng
thời hạn ra trường của từng HSSV khác nhau, thì việc định kỳ hạn trả nợ
được thực hiện khi giải ngân số tiền cho vay kỳ học cuối của HSSV ra
trường sau cùng.
1.1.3.10.Thu nợ gốc
- Việc thu nợ gốc được thực hiện theo phân kỳ trả nợ đã thoả thuận
trong Khế ước nhận nợ.
x
Lãi suất cho vay
x
50%
30 ngày
Số ngày trả nợ trước hạn được tính từ ngày trả nợ đến ngày trả nợ
cuối cùng ghi trên khế ước nhận nợ.
1.1.3.13. Gia hạn nợ
- Đến thời điểm trả nợ cuối cùng, nếu người vay có khó khăn khách
quan chưa trả được nợ thì được NHCSXH xem xét cho gia hạn nợ.
- Thủ tục gia hạn nợ: Người vay viết Giấy đề nghị gia hạn nợ (theo
mẫu số 09/TD) gửi NHCSXH nơi cho vay xem xét cho gia hạn nợ.
- Thời gian cho gia hạn nợ: tuỳ từng trường hợp cụ thể, ngân hàng có
thể gia hạn nợ một hoặc nhiều lần cho một khoản vay, nhưng thời gian gia
hạn nợ tối đa bằng 1/2 thời hạn trả nợ.
1.2. Chất lượng cho vay đối với học sinh, sinhviên của NHCSXH
1.2.1. Khái niệm chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh viên
Chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh viên được hiểu là khả
năng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của HSSV và được HSSV sử
dụng vào mục đích đóng học phí, mua sắm phương tiện học tập và các chi
phí khác phục vụ cho việc học tập tại trường.
Có hai yếu tố cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng chính sách đối với
HSSV, bao gồm:
* Chỉ tiêu định tính: Thể hiện ở tính hiệu quả kinh tế, chính trị, xã
hội. Mục tiêu tối cao của tín dụng chính sách là xoá đói, giảm nghèo, ổn
định chính trị - xã hội. Do đó, chất lượng tín dụng chính sách đối với
HSSV thể hiện ở việc Ngân hàng giúp cho HSSV có được sự hỗ trợ cần
thiết về vốn vay để đảm bảo điều kiện theo học tại trường, từ đó đạt được
mục tiêu xoá đói giảm nghèo và ổn định chính trị - kinh tế - xã hội trên
phạm vi quốc gia, thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo, ổn định chính trị.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
- Thứ nhất, Tỷ lệ HSSV có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn ngân
hàng.
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của công tác tín dụng chính sách đối
với HSSV.Thông qua vốn vay ngân hàng, HSSV có điều kiện vươn lên học
tập tốt nhằm nâng cao địa vị xã hội, giảm bớt sự thiếu hụt cán bộ, rút dần
khoảng cách chênh lệch về dân trí giữa các vùng miền.
Tỷ lệ HSSV được vay
vốn Ngân hàng
=
Tổng số HSSV được vay vốn Ngân hàng
Tổng số HSSV
- Thứ hai, Tỷ lệ HSSV vay vốn thoát khỏi khó khăn
Tỷ lệ HSSV vay vốn
thoát khỏi khó khăn
=
Tổng số HSSV vay vốn thoát khỏi khó khăn
Tổng số HSSV vay vốn
Tỷ lệ HSSV vay vốn đã thoát khỏi khó khăn cho thấy phần trăm trên
tổng số vốn ngân hàng cho HSSV vay đã được HSSV sử dụng và phát huy
hiệu quả, giúp HSSV thoát khỏi khó khăn vươn lên trong học tập. Tỷ lệ này
càng cao chứng tỏ vốn ngân hàng được sử dụng đúng mục đích, phát huy
hiệu quả, điều đó phản ánh chất lượng tín dụng chính sách đối với HSSV
ngày càng được nâng cao. Ngược lại, tỷ lệ này thấp cho thấy vốn ngân
hàng đã được sử dụng sai mục đích, điều này phản ánh chất lượng tín dụng
chính sách đối với HSSV thấp.
- Thứ ba, Luỹ kế số lượt HSSV được vay vốn ngân hàng
Chỉ tiêu luỹ kế số lượt HSSV được vay vốn được tính luỹ kế từ lượt
vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả.
Tổng số lượt HSSV
mại áp dụng quan điểm 2 khi chuyển nợ quá hạn, quan điểm này phù hợp
với thông lệ quốc tế.
Đặc điểm quan trọng trong cho vay HSSV là đối tượng khách hàng
rộng lớn, món vay nhỏ, khi ra trường đi kiếm việc ở nơi xa thiếu trách
nhiệm trả nợ nên không tránh khỏi nợ quá hạn. Tuy nhiên, đối với các món
cho vay HSSV, việc ngân hàng áp dụng biện pháp chuyển nợ quá hạn, lãi
phạt quá hạn, ngừng không tiếp tục cho vay nữa… thường không mang lại
hiệu quả mong muốn bằng việc đánh giá từng bước tình hình sử dụng vốn
của HSSV, phân tích nguyên nhân rủi ro, tìm biện pháp giải quyết.
- Thứ năm, Qui mô tín dụng đối với HSSV
Qui mô tín dụng thể hiện ở 2 chỉ tiêu: Tỷ trọng dư nợ tín dụng và tốc
độ tăng trưởng tín dụng đối với HSSV.
+ Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với HSSV:
Tỷ trọng dư nợ tín dụng
đối với HSSV
=
Dư nợ tín dụng HSSV
x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh qui mô tín dụng đối với HSSV của Ngân hàng
Chính sách so sánh với việc cho vay các đối tượng khác. Nếu chỉ tiêu này
phản ánh việc ngân hàng chính sách có tập trung vào việc cho vay đối với
HSSV và bên cạnh đó còn mở rộng cho vay các đối tượng khác nhằm mục
tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo toàn diện.
+ Tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với HSSV: Chỉ tiêu này phản ánh
tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với HSSV qua các năm.
Tốc độ tăng trưởng dư nợ
tín dụng đối với HSSV
=
Dư nợ tín dụng HSSV năm sau
khoản huy động vốn, thực hiện tốt các loại dịch vụ Ngân hàng. Đây là cơ sở để
tiến hành hoạt động cho vay HSSV một cách lành mạnh và có hiệu quả.
Chất lượng nhân sự: Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại
trong hoạt động nghiệp vụ và quản lý kinh doanh Ngân hàng. Xã hội ngày
càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể đáp úng
kịp thời. Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệp tốt và giỏi về
chuyên môn sẽ giúp Ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có
thể xảy ra khi thực hiện hoạt động cho vay đối với HSSV.
Công tác thông tin: Thông tin có vai trò quan trọng trong hoạt động
cho vay đối với HSSV; theo dõi và quản lý HSSV; thông tin có thể thu
được từ những nguồn sẵn có ở Ngân hàng (hồ sơ vay vốn, phân tích của
cán bộ Ngân hàng…), từ HSSV, từ các cơ quan chuyên về thông tin cho
vay đối với sinh viên ở trong và ngoài nước, từ các nguồn tin khác( báo, đài
…). Số lượng, chất lượng của thông tin thu thập được liên quan đến mức
độ chính xác trong việc phân tích, nhận định tình hình thị trường, HSSV…
để đưa ra những quyết định phù hợp. Vì vậy, thông tin càng đầy đủ, nhanh
nhậy, chính xác và toàn diện thì tạo ra khả năng hoạt động cho vay
HSSVcủa Ngân hàng càng có hiệu quả.
Như vậy, hoạt động cho vay HSSV chịu tác động của nhiều nhân tố.
Để hoạt động cho vay HSSV phát huy vai trò của mình trong việc thúc đẩy
nền kinh tế tri thức, vấn đề quan trọng là các tổ chức tín dụng phải đánh giá
được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới hoạt động cho vay HSSV, để
phát huy những mặt tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực tới hoạt
động cho vay HSSV.
1.3.Kinh nghiệm của một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước
Tất cả các quốc gia trên thế giới kể cả nước giầu và nước nghèo đều
phải coi việc giải quyết vấn đề cho vay đối với HSSV, vấn đề chính sách xã
hội như một chiến lược xây dựng kinh tế xã hội toàn cầu. Nhưng tùy theo
điều kiện về chính trị và kinh tế mà mỗi quốc gia có một chính sách khác
Các cơ quan điều hành quỹ cho sinh viên vay là Bộ Tài chính, Bộ
Giáo dục, phòng ngân quỹ cho vay giáo dục. Nhà quản lý và các cơ quan
chịu trách nhiệm cho vay là Ngân hàng công cộng Thai Krung.
Những tiêu chí làm cơ sở cho việc đăng ký vay tiền là:
+ Quốc tịch Thái Lan.
+ Khó khăn tài chính dựa theo những tiêu chí đặt ra bởi Hội đồng Quỹ
cho sinh viên vay.
+ Đáp ứng được những tiêu chí khác của Hội đồng Quỹ cho sinh viên
vay, không có những điều kiện bị giới hạn bởi Quỹ cho sinh viên vay.
Giới hạn cho vay sinh viên không vượt quá 100.000 Bath cho học phí
từng năm (khoản tiền này đóng trực tiếp cho các cơ sở đào tạo) và chi phí
ăn ở (trả trực tiếp hàng tháng tới sinh viên qua tài khoản của Ngân hàng).
Sau khi tốt nghiệp sinh viên có 2 năm để tìm việc làm và sau đó phải
hoàn trả lại số tiền cho chính phủ trong vòng 15 năm với lãi suất 1%.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ thực tế ở một số nước trên thế giới và các nước trong khu vực,với
lợi thế của người đi sau, Việt Nam chắc chắn sẽ học hỏi và rút ra được
nhiều bài học bổ ích cho mình, làm tăng hiệu quả hoạt động tín dụng của
Ngân hàng.
Tuy vậy, vấn đề là áp dụng như thế nào cho phù hợp với tình hình Việt
Nam lại là vấn đề đáng để quan tâm, bởi lẽ mỗi mô hình phù hợp với từng
hoàn cảnh cũng như điều kiên kinh tế của chính nước đó.
Việc cho vay thông qua tổ, nhóm tương hỗ nhằm tăng cường quản lý,
giám sát lẫn nhau, hạn chế tình trạng sử dụng vốn vay không đúng mục
đích, liên đới chịu trách nhiệm trong việc trả nợ, lãi ngân hàng. Tính liên
đới trách nhiệm của các thành viên trong tổ, nhóm tương hỗ là công cụ hữu
hiệu giúp ngân hàng kiểm soát việc sử dụng vốn đúng mục đích và hoàn trả
đúng hạn của người vay.
Lãi suất cho vay dần chuyển sang áp dụng cơ chế lãi suất thực dương
phù hợp với điều kiện thực tế hoạt động. Lãi suất đủ bù đắp chi phí và có
2.1.1. Bối cảnh ra đời Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
Những năm cuối của thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thực hiện lộ trình gia
nhập WTO đòi hỏi hệ thống tài chính tín dụng Việt Nam phải nhanh chóng
cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng
thương mại cho phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo điều kiện cho các ngân
hàng thương mại nhà nước rảnh tay vươn ra nắm giữ thị trường.
Yêu cầu tập trung nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước dành cho
các đối tượng chính sách xã hội đang do nhiều cơ quan hành chính Nhà
nước và Ngân hàng thương mại thực hiện theo các kênh khác nhau, làm
cho nguồn lực của Nhà nước bị phân tán, cho vay chồng chéo, trùng lắp, thậm
chí cản trở lẫn nhau vào một kênh duy nhất để thống nhất quản lý cho vay.
Về mục tiêu xoá đói giảm nghèo, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX khẳng định “Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội,
tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề,
cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm đối
với những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo” [3, 13, tr 211].
Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,
Luật các Tổ chức tín dụng và Nghị Quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá X
về chính sách tín dụng đối với người nghèo, các đối tượng chính sách khác
và tách việc cho vay chính sách ra khỏi hoạt động tín dụng thông thường
của các ngân hàng thương mại Nhà nước, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 về
tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đồng thời
Thủ tướng chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân
hàng Chính sách xã hội trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng phục vụ người
nghèo (NHNg được thành lập theo Quyết định số 230/QĐ-NH5, ngày 01
tháng 09 năm 1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).
Sự ra đời của NHCSXH là mốc lịch sử đánh dấu sự phát triển của hệ
thống tài chính Việt Nam trong việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, tách tín
dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại, tập trung một đầu mối để
- Quản trị NHCSXH là Hội đồng quản trị. Tại trung ương HĐQT có 12
thành viên, gồm 09 thành viên kiêm nhiệm và 03 thành viên chuyên trách.
09 thành viên kiêm nhiệm là đại diện có thẩm quyền của Bộ Tài chính, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban Dân tộc, Văn
phòng Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,
03 thành viên chuyên trách gồm: 01 Uỷ viên giữ chức Chủ tịch Hội đồng
quản trị, 01 Uỷ viên giữ chức Tổng Giám đốc, 01 Uỷ viên giữ chức Trưởng
Ban kiểm soát.
Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT NHCSXH là 5 năm và có thể được bổ
nhiệm lại.
Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch,
các Uỷ viên HĐQT và Tổng Giám đốc.
Hội đồng quản trị có chức năng quản trị NHCSXH, ban hành các văn
bản về chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển NHCSXH hàng năm
và 5 năm, cơ chế tổ chức và hoạt động của NHCSXH các cấp, nghị quyết
các kỳ họp Hội đồng quản trị đột xuất, thường kỳ hàng quý, hàng năm.
Ngoài các nhiệm vụ trên, các thành viên kiêm nhiệm Hội đồng quản trị còn
trực tiếp chỉ đạo Hệ thống của mình tham gia quản lý, giám sát hoạt động
của NHCSXH.
Giúp việc cho Hội đồng quản trị có Ban chuyên gia tư vấn Hội đồng
quản trị có chức năng tư vấn cho Hội đồng quản trị trong việc thực hiện
chức năng quản trị NHCSXH.
Ban kiểm soát Hội đồng quản trị có chức năng kiểm tra , giám sát hoạt
động của Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh, huyện và bộ máy điều
hành của NHCSXH trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật
của Chính phủ, điều lệ NHCSXH và các văn bản, Nghị quyết của Hội đồng
quản trị.
- Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh được thành lập BĐD HĐQT do Chủ tịch hoặc Phó Chủ