CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - Pdf 22

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
PHAN THỊ BÌNH
CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, Năm 2010
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
PHAN THỊ BÌNH
CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính Ngân hàng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ĐỨC HƯỞNG
Hà Nội, Năm 2010
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BIDV: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
CBTD: Cán bộ tín dụng
DNXL: Doanh nghiệp xây lắp
SXKD: Sản xuất kinh doanh
NHTM: Ngân hàng thương mại
TCTD: Tổ chức tín dụng
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
1. Sơ đồ 2.1- Mô hình tổ chức hệ thống BIDV 32
2. Sơ đồ 2.2- Cơ cấu bộ máy quản lý của BIDV 33

dụng và thu nhập của ngân hàng. Một trong những biểu hiện của tình trạng trên là tỷ lệ
nợ quá hạn cao, nợ xấu còn ở mức cao…Chính vì vậy, việc chỉ ra những hạn chế,
nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho
vay đối với doanh nghiệp xây lắp là việc cần thiết. Xuất phát từ mong muốn trên, đề tài
“Nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam” đã được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay đối với Doanh
nghiệp xây lắp của Ngân hàng thương mại.
6
- Từ lý thuyết nghiên cứu kết hợp với thực trạng hoạt động cho vay đối với
Doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam để đánh giá những
ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp xây lắp
tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong bài viết chỉ xét trên giác độ ngân hàng và tập trung
nghiên cứu chất lượng cho vay dưới giác độ cho vay đối với các doanh nghiệp xây lắp
để phục vụ hoạt động thi công xây lắp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
trong giai đoạn 2007-2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê kinh tế, điều tra chọn mẫu, tổng hợp so
sánh một cách logic để làm sáng tỏ các vấn đề đặt ra nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao
chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp xây lắp.
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng thương
mại.

trình theo quy định.
8
- Thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, thực hiện an toàn lao động,
bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình xây dựng. Thông tin rộng rãi về năng lực
hoạt động của doanh nghiệp để Chủ đầu tư biết và lựa chọn.
1.1.1.2. Đặc trưng của doanh nghiệp xây lắp
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế - kỹ
thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của
ngành. Những đặc điểm riêng của ngành và đặc điểm sản phẩm xây lắp sẽ chi phối công
tác tổ chức quản lý, điều hành. Việc nghiên cứu nắm rõ các đặc điểm này, giúp Ngân
hàng đưa ra những quyết định chính xác, nắm rõ được những hạn chế và đề ra những
phương án khắc phục nhằm nâng cao chất lượng cho vay, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
a. Về sản phẩm xây lắp
- Sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc:
Mỗi sản phẩm đều có thiết kế riêng theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế, mặc dù
sản phẩm xây lắp có thể giống nhau về hình thức song về kết cấu, quy phạm thì không
giống nhau hoàn toàn nếu xây dựng ở những địa điểm khác nhau, nên mặc dù có thể sản
xuất hàng loạt theo mẫu thiết kế thống nhất nhưng chi phí xây dựng không thống nhất.
Bên cạnh đó, với đặc điểm quy mô (thể tích) lớn và phức tạp của sản phẩm xây lắp dẫn
đến chu kỳ sản xuất dài, vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí, hoặc
ngược lại nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời gian xây
dựng.
Do đó, từ đặc điểm này, yêu cầu công tác quản lý tài chính phải có kế hoạch, tiến
độ thi công, dự toán cụ thể cho từng công trình, từng hạng mục công trình và dự toán chi
tiết theo thiết kế tổ chức thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rút ngắn thời gian
xây dựng, tiết kiệm vật tư, lao động, tiết kiệm chi phí quản lý để hạ giá thành xây dựng.
- Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản
phẩm:
9
Các tư liệu sản xuất (các máy móc, thiết bị thi công, công nhân,...) phải di chuyển

Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNXL phần nào phụ thuộc vào khả năng phát triển,
đầu tư và mở rộng của nền kinh tế, nếu đầu tư của nền kinh tế tăng trưởng cao thì thị
trường tiêu thụ của DNXL có khả năng được mở rộng. Trên cơ sở đó, hoạt động cho vay
của Ngân hàng đối với khách hàng DNXL để tham gia thi công các công trình phục vụ
cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng có khả năng mở rộng.
- Kết quả sản xuất kinh doanh của DNXL được thực hiện khi các công trình xây lắp
(sản phẩm xây lắp) được chủ đầu tư chấp thuận và thanh toán, và chỉ khi đó DNXL mới
có khả năng trả nợ ngân hàng. Vì vậy, quan hệ tín dụng giữa DNXL và Ngân hàng, hay
nói cách khác chất lượng cho vay đối với DNXL sẽ phụ thuộc lớn vào mối quan hệ giữa
chủ đầu tư (bên A) và DNXL (bên B), mối quan hệ này thể hiện ở: Chất lượng thực hiện
công trình, phương thức nghiệm thu thanh toán của chủ đầu tư, tiến độ xây dựng, nguồn
vốn xây dựng cơ bản của chủ đầu tư…
c. Về tình hình tài chính của doanh nghiệp xây lắp
- Nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh:
Do tính chất hoạt động của DNXL nên cơ cấu vốn có đặc thù riêng khác với ngành
công nghiệp và các ngành khác, cụ thể là nhu cầu vốn lưu động (vốn kinh doanh doanh
ngắn hạn) cho hoạt động SXKD chiếm tỷ trọng lớn nhất. Các Ngân hàng thường cho
vay các DNXL chủ yếu để tài trợ vốn lưu động phục vụ thi công các công trình. Đối với
nhu cầu đầu tư mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất,
Ngân hàng chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn lại các DNXL phải bỏ vốn tự có của
mình.
- Tốc độ chu chuyển vốn trong các DNXL thường không cao:
11
Do đặc điểm xây dựng một đơn vị sản phẩm đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời
gian thi công kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trình
thi công dở dang. Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanh
toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tư. Các DNXL thường xuyên bị chiếm dụng vốn
trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lưu động thường rất thấp, nhu cầu vốn lưu
động cần thiết cho thi công lớn. Trong khi đó vốn chủ hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng

thể như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu phục vụ thi công xây lắp: cát, đá sỏi, thuê xe vận
chuyển, xi măng, sắt thép và các chi phí nguyên vật liệu khác.
- Chi phí nhân công: Lương Cán bộ nhân viên, công nhân xây dựng, nhân công
thuê ngoài và các chi phí nhân công khác.
- Chi phí thuê thiết bị máy móc thi công, chi phí sửa chữa nhỏ thiết bị, công cụ
phân bổ vào công trình.
- Chi phí ban đầu triển khai thi công công trình như: Chi phí lán trại, chuyển máy
móc thiết bị và các chi phí khác.
- Chi phí chung.
- Thanh toán cho nhà thầu phụ (B’) trong trường hợp khách hàng là Nhà thầu
chính.
- Các chi phí khác phục vụ thi công công trình xây lắp trong dự toán xây lắp công
trình.
Thứ hai, việc cho vay phải căn cứ trên cơ sở Hợp đồng giao nhận thầu xây lắp đã
được ký kết giữa Bên nhận thầu và Bên giao thầu; Bên giao thầu có thể chính là Chủ đầu
tư hoặc là người được Chủ đầu tư ủy quyền. Đồng thời, để xác định doanh số cho vay
13
đối với một công trình cần dựa vào các yếu tố: Giá trị hợp đồng xây lắp công trình; Vốn
tự có và huy động khác tham gia vào công trình là bao nhiêu? Lợi nhuận định mức của
công trình là bao nhiêu? vốn chủ đầu tư ứng trước tiền là bao nhiêu?... từ đó xác định
doanh số cho vay đối với một công trình.
Xuất phát từ đặc điểm này, để đảm bảo chất lượng khoản vay, quản lý được rủi
ro tín dụng, các ngân hàng thường phải thực hiện cho vay theo từng công trình, đánh giá
hiệu quả kinh doanh, khả năng trả nợ của từng công trình để đưa ra quyết định cho vay
hay không.
Thứ ba, Thời gian cho vay vốn lưu động thường kéo dài hơn thời gian cho vay
của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác (Doanh nghiệp thương mại, sản
xuất kinh doanh khác). Vì đặc điểm của ngành xây lắp là thời gian thi công, nghiệm thu,
thanh toán và quyết toán của công trình thường kéo dài, vòng quay vốn lưu động của các

đến tính an toàn và sinh lợi của hoạt động tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của
khách hàng. Dựa vào căn cứ này, có thể phân chia cho vay đối với DNXL thành các loại
như sau:
* Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Cho vay
ngắn hạn đối với DNXL thường bao gồm hai loại sau:
- Cho vay từng lần (cho vay theo món):
+ Đối tượng áp dụng: Đối với khách hàng có quan hệ không thường xuyên, có
nguồn thu không ổn định và một số khách hàng có nhu cầu vay theo món khác như vay
bù đắp thiếu hụt tài chính tạm thời, vay bắc cầu…
+ Mức cho vay thường được xác định như sau:
Mức cho vay
= Chi phí cần thiết cho
SXKD
- Vốn tự có - Vốn khác
15
Chi phí cần thiết cho
SXKD
=
Giá trị
hợp đồng thi
công xây lắp
-
Khấu hao
cơ bản
- Thuế -
Lợi nhuận
định mức
+ Mức trả nợ và kỳ hạn trả nợ có thể được xác định dựa trên cơ sở từng chu kỳ sản
xuất kinh doanh, hoặc khả năng thu tiền tại thời điểm gần nhất của khách hàng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng:

thuê thiết bị máy móc thi công, chi phí sửa chữa nhỏ thiết bị, công cụ phân bổ vào công
trình...
- Cho vay vốn cố định: Là hình thức cho vay để tài trợ cho tài sản cố định của
DNXL như phương tiện vận tải, máy móc thiết bị thi công, văn phòng, trụ sở...
c. Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay
- Cho vay không có bảo đảm (cho vay tín chấp): Là loại hình cho vay mà ngân
hàng cho vay chủ yếu dựa vào uy tín của khách hàng, không đòi hỏi phải có tài sản bảo
đảm.
- Cho vay có bảo đảm: Là loại hình cho vay mà ngân hàng đòi hỏi người vay phải
có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba hoặc bảo đảm bằng tài sản hình
thành từ vốn vay.
1.1.2.2. Quy trình cho vay DNXL
Qui trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, qui định của ngân hàng trong việc
cho vay. Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định, có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau. Quy trình tín dụng được bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng bộ phận
quan hệ trực tiếp với khách hàng tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi tất toán
thanh lý hợp đồng tín dụng, được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng
Khi một khách hàng có nhu cầu đề nghị ngân hàng cung cấp các sản phẩm tín
dụng, cán bộ tín dụng trao đổi với khách hàng, tìm hiểu sơ bộ về ngành nghề sản xuất
kinh doanh của khách hàng, nhu cầu vay, mục đích vay vốn…từ đó CBTD xác định xem
17
liệu dự án, phương án vay vốn đó có nằm trong phạm vi và khả năng tổ chức của khách
hàng hay không, đề xuất vay vốn có phù hợp với chiến lược phát triển, chính sách tín
dụng của ngân hàng không. Nếu phù hợp, CBTD hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ
sơ vay vốn, đầu mối tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của các tài
liệu trong hồ sơ.
Thông thường hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp gồm có:
- Đề nghị vay vốn
- Hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp (Quyết định thành lập, điều lệ doanh nghiệp,

• Mục tiêu đầu tư
• Sự cần thiết đầu tư
• Quy mô vốn đầu tư: tổng vốn đầu tư, cơ cấu vốn đầu tư
• Phương án tiêu thụ sản phẩm
• Dự kiến tiến độ triển khai thực hiện dự án
- Đánh giá thị trường mục tiêu và khả năng tiêu thụ sản phẩm
- Đánh giá khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào của phương án/dự án
- Đánh giá các nội dung về phương diện kỹ thuật, tổ chức quản lý thực hiện
- Thẩm định tổng vốn đầu tư và tính khả thi phương án nguồn vốn
- Xác định nhu cầu vốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án
- Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính của dự án.
- Đánh giá rủi ro của dự án
* Phân tích đánh giá các biện pháp bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là việc khách hàng dùng các loại tài sản của mình hoặc của bên
thứ ba để cầm cố, thế chấp, bảo lãnh nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng.
19
Tài sản bảo đảm là cơ sở để xác lập trách nhiệm người vay, được coi là nguồn trả nợ thứ
hai trong cho vay. Cần lưu ý không coi đây là điều kiện duy nhất để quyết định cho vay,
không xem là phương tiện duy nhất để bảo đảm an toàn vốn vay.
Việc thẩm định bảo đảm tiền vay phải đảm bảo các nội dung chính sau:
- Kiểm tra tình trạng thực tế của tài sản bảo đảm tiền vay.
- Phân tích, thẩm định bảo đảm tiền vay: Tuỳ thuộc vào loại tài sản bảo đảm mà
kiểm tra các yếu tố thích hợp (về nguồn gốc pháp lý, giấy tờ về quyền sở hữu...) và định
giá bảo đảm tiền vay.
Bước 3. Xét duyệt cho vay, ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền
vay.
Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng phải ra quyết định chấp thuận hay không chấp
thuận cho vay, lập tờ trình trình lãnh đạo phê duyệt.
Việc quyết định cho vay trên cơ sở các thông tin thu thập, phân tích từ khâu thẩm
định, ngoài ra còn phải dựa trên các thông tin thu thập được từ thị trường và các cơ quan

+ Gia hạn.
+ Chuyển nợ quá hạn.
+ Xử lý thu hồi nợ quá hạn.
+ Xử lý các phát sinh khác: giãn nợ, khoanh nợ, xóa nợ.
+ Phát mại tài sản cầm cố, thế chấp.
Bước 6. Thanh lý hợp đồng tín dụng
Khi khoản cho vay được thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi vay thì coi như nghĩa vụ
của khách hàng với ngân hàng đã được thực hiện, ngân hàng sẽ làm thủ tục thanh lý hợp
đồng tín dụng, giải chấp tài sản, lập biên bản giao nhận tài sản (nếu có), đồng thời tất
toán khoản vay, chuyển hồ sơ cho vay vào lưu trữ.
21
1.2. Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp
Chất lượng cho vay đối với DNXL của ngân hàng thương mại là một thuật ngữ
phản ảnh mức độ an toàn và khả năng sinh lời của hoạt động cho vay đối với doanh
nghiệp xây lắp mang lại cho ngân hàng; đồng thời nó cũng phản ảnh sự thỏa mãn của
khách hàng là DNXL về nhu cầu vốn, thời gian đáp ứng, tiện ích… trong hoạt động cho
vay của ngân hàng.
Để đánh giá chất lượng cho vay đối với DNXL của ngân hàng thương mại một
cách hoàn toàn chính xác là một công việc không dễ bởi nó đòi hỏi phải xem xét trên
nhiều mặt, thông qua sự tổng hợp kết quả phân tích nhiều chỉ tiêu khác nhau. Trong
phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích chất lượng cho vay đối với
DNXL nhằm phục vụ hoạt động thi công xây lắp dưới giác độ của ngân hàng:
+ Chất lượng cho vay trước hết được đánh giá qua tính an toàn của khoản cho vay
hay khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng. Vốn cho vay ra phải được hoàn trả đầy
đủ, đúng hạn.
+ Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền
tệ, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng,
do đó ngoài việc đảm bảo an toàn vốn vay thì việc gia tăng lợi nhuận là mục tiêu mà các
NHTM luôn hướng tới. Vì vậy Ngân hàng phải xem xét sao cho cân bằng giữa lợi nhuận

23
Nếu tổng dư nợ cho vay DNXL cao cho thấy ngân hàng đã tạo được uy tín đối với
các DNXL, đã và đang mở rộng thị phần trong ngành XDCB và có khả năng tiếp thị
khách hàng DNXL tốt hơn. Tuy nhiên tăng trưởng cho vay đối với DNXL phải phù hợp
với khả năng về vốn, quản lý rủi ro cũng như các nguồn lực về con người, công nghệ của
ngân hàng. Việc tăng trưởng dư nợ cho vay đối với DNXL vượt quá khả năng của ngân
hàng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và việc ngân hàng không đủ điều kiện nguồn lực để kiểm
soát chặt chẽ các khoản vay sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng hoạt động cho vay.
- Tỷ trọng dư nợ cho vay DNXL/ Tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu khá quan trọng, phản ánh vị trí của hoạt động cho vay đối với
DNXL trong hoạt động cho vay chung của ngân hàng. Tổng dư nợ cho vay đối với
DNXL cao và tăng trưởng cho thấy ngân hàng đã và đang mở rộng thị phần trong ngành
xây lắp. Ngược lại, dư nợ cho vay đối với DNXL qua các năm giảm chứng tỏ chính sách
thu hẹp tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng.
Chỉ tiêu tổng dư nợ đối với DNXL cần xem xét kết hợp với chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ
DNXL/tổng dư nợ để đánh giá đầy đủ hơn về tình hình tăng trưởng cho vay DNXL. Bởi
vì chỉ tiêu dư nợ cho vay mới chỉ phản ánh sự tăng trưởng tuyệt đối nhưng nếu dư nợ
cho vay DNXL tăng với tốc độ thấp hơn tổng dư nợ thì tỷ trọng này lại giảm. Điều này
còn phụ thuộc chủ yếu vào chính sách cho vay của ngân hàng giai đoạn đó là mở rộng
hay thu hẹp cho vay DNXL.
- Tỷ lệ nợ quá hạn của DNXL
Tỷ lệ nợ quá hạn của DNXL = Dư nợ quá hạn DNXL /Tổng dư nợ DNXL
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN : “nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần
hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Một khoản vay không trả đầy đủ, đúng
hạn như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thì trở thành nợ quá hạn.
Theo thời gian, Nợ quá hạn được chia thành: nợ quá hạn dưới 90 ngày; nợ quá
hạn từ 90 - 180 ngày; nợ quá hạn từ 180 - 360 ngày; nợ quá hạn trên 360 ngày.
24
Theo khả năng thu hồi, có thể chia nợ quá hạn thành nợ quá hạn có thể thu hồi
(nợ quá hạn thông thường), nợ quá hạn có thể thu hồi một phần (nợ khó đòi) và nợ quá

493 của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể:
Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3) bao gồm: các khoản nợ mà tổ chức tín dụng
đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được
đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4): là các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất
cao.
Nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5): là các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.
Tỷ lệ nợ xấu càng thấp càng tốt. Tuy nhiên, rủi ro là tất yếu của quá trình kinh
doanh, do vậy, ngân hàng luôn chấp nhận một mức rủi ro nhất định và thường xuyên kiểm
soát các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro
xảy ra. Ngân hàng tiến hành phân loại nợ và kiểm soát đối với các khoản nợ dưới chuẩn,
nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn - đây là những khoản nợ xấu của ngân hàng.
Ngoài ra, ngân hàng cũng cần quan tâm đến các khoản nợ đặc biệt lưu ý (nợ nhóm 2) vì
khi có biến động bất lợi xảy ra đối với hoạt động cho vay của ngân hàng, các khoản này dễ
bị chuyển thành nợ xấu.
- Tỷ lệ dự phòng: Là tỷ số giữa phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm của
DNXL so với tổng dư nợ cho vay các DNXL:
Tỷ lệ phân bổ dự phòng
RRTD hàng năm của
=
Dự phòng RRTD hàng năm
của DNXL x 100%

Trích đoạn Tăng cường quản lý, giám sát quá trình sử dụng vốn vay của các DNXL Tăng cường áp dụng mô hình cho vay khép kín đối với các Doanh nghiệp xây Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát cho vay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status