Nghiên cứu một số cây thuốc kháng vi nấm gây bệnh lang ben - Pdf 12



LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯC HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- 2006-



NGUYỄN ĐINH NGA
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CÂY THUỐC
KHÁNG VI NẤM GÂY BỆNH LANG BEN

CHUYÊN NGÀNH: ĐÔNG DƯC VÀ THUỐC NAM
MÃ SỐ: 3.02.06 LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS. NGUYỄN KHẮC QUỲNH CỨ
2. PGS.TS. TRẦN XUÂN MAI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- 2006-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN ĐINH NGA



Phản biện 1: GS.TS. Phạm Thanh Kỳ
Trường Đại học Dược Hà Nội
Phản biện 2: GS.TSKH. Hoàng Tích Huyền
Trường Đại học Y Hà Nội
Phản biện 3: PGS.TS. Trần Hùng
Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
họp tại: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

Vào hồi 8 giờ, ngày 15 tháng 12 năm 2006.
Có thể tìm luận án tại:
- Thư Viện Quốc Gia Việt Nam
- Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh
- Thư Viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề
Bệnh lang ben do những vi nấm ưa chất béo thuộc chi Malassezia
gây ra. Bệnh thường chiếm tỉ lệ cao ở các nước có khí hậu nóng
ẩm, có thể chiếm từ 40-50% dân số. Lang ben thường phát triển
trên diện rộng, dai dẳng nên việc điều trò phải mất nhiều thời gian.

nay vẫn chưa được chứng minh hoặc giải thích. Mặc khác, theo xu
hướng hiện nay, để đối phó với bệnh do vi nấm, nhất là vi nấm
kháng thuốc, song song với việc tổng hợp hoá học những thuốc
mới, các nhà nghiên cứu rất quan tâm tìm kiếm các chất kháng
nấm từ thiên nhiên. Vì vậy chúng tôi nghiên cứu một số cây thuốc
kháng vi nấm gây bệnh lang ben nhằm có thể:
Chứng minh hiệu quả điều trò, cơ chế tác động kháng vi nấm gây
bệnh lang ben của các cây thuốc đang được người dân sử dụng, giải
thích một cách khoa học kinh nghiệm trò liệu của cha ông.
Làm phong phú thêm nguồn thuốc trò bệnh da do vi nấm từ những
nguyên liệu quen thuộc với người dân, đã được người dân sử dụng
nhưng tiện lợi, dễ sử dụng, có hiệu quả hơn, cũng như có thể ngăn
chặn sự lây lan bệnh lang ben trong cộng đồng và khống chế vi
nấm ở mức độ không nguy hiểm.
3. Những đóng góp mới của luận án
- Tìm hiểu phân bố của các loài thuộc chi Malassezia trên da
bệnh lang ben, gàu và da bình thường của một số người Việt Nam
theo phân loại mới.
- Áp dụng kỹ thuật hiện hình sinh học vào phân biệt dược liệu,
chiết xuất và phân lập hoạt chất có tác dụng kháng M. furfur từ
Riềng nếp và Bông móng tay.
- Thay đổi thành phần chất bổ sung vào môi trường RPMI (qui
đònh của NCCLS) thích hợp cho sự phát triển và tạo dạng sợi giống
như ở vết thương lang ben của M. furfur (RPMI-S1 và RPMI-S2).

3
- Chứng minh được Alpinia galanga Willd. (Riềng nếp) và
Impatiens balsamina L. (Bông móng tay hoa trắng) kháng
Malassezia mạnh hơn một số dược liệu đã dùng theo kinh nghiệm
dân gian. Giải thích cơ chế tác động của các chất chiết xuất từ 2

thường gây bệnh lang ben là M. furfur, M. sympodialis và M.
globosa. Một số loài trong chi Malassezia đã được biết về khả năng
chuyển dạng từ nấm men, sống hoại sinh ở da, sang dạng sợi có
khả năng xâm nhập vào lớp sừng và gây bệnh.
1.2. Thuốc trò bệnh lang ben
Để trò bệnh lang ben có thể dùng thuốc được tổng hợp nhằm làm
tiêu sừng, bong da như antimycose, BSI; làm giảm sự hoạt động
của tuyến bã như selenium sulfid, natri thiosulfat hoặc kháng sinh
kháng nấm như ketoconazol, miconazol, itraconazol, fluconazol.
Theo y học cổ truyền dân tộc, bệnh lang ben có thể được điều trò có
hiệu quả bằng các cây thuốc như thân rễ Riềng, lá Muồng trâu, lá
Rau răm…
Qua kết quả sàng lọc cây thuốc, chúng tôi đã xác đònh được Bông
móng tay và Riềng nếp kháng M. furfur mạnh.
- Riềng nếp (Alpinia galanga Willd. Zingiberaceae). Thân rễû
Riềng nếp được nhân dân dùng làm gia vò, thuốc trò bệnh ngoài da,
dạ dày, ho…Trong Riềng nếp chứa hai nhóm hoạt chất chính là tinh
dầu và hợp chất phenolic. Cả 2 nhóm chất này đều cho tác dụng
kháng nấm da, nấm mốc và Candida. Galangal acetat
(acetoxychavicol acetat) đã được chứng minh là hoạt chất chính
của cây cho tác dụng kháng nấm, kháng khối u và kháng viêm.
- Cây Bông móng tay (Impatiens balsamina L. Balsaminaceae)
Cây Bông móng tay (BMT) được người dân các nước như Thái
Lan, Trung Quốc sử dụng để trò bệnh nấm da và nấm nôi tạng.
Hoạt chất chính trong cây là 2-methoxy-1,4-naphthoquinon đã
được chứng minh có tác dụng kháng nấm da và Candida.

5
Chương 2. VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu

- Khảo sát tác động của các chất nghiên cứu trên cấu trúc tế bào
M. furfur ở kính hiển vi điện tử (Thin-section electron microscopy,
TEM)
- Khảo sát hiệu lực kháng M. furfur khi phối hợp 2 chất kháng
nấm bằng Phương pháp pha loãng theo hình bàn cờ.
- Tác dụng dược lý-lâm sàng-cận lâm sàng của phân đoạn có hoạt
tính: Khảo sát tính kích ứng da thỏ (dùng phẩm xanh Evans), thử sơ
bộ tính kích ứng da người theo Schwartz – Peck, khảo sát tính kích
ứng da người tình nguyện, hiệu quả lâm sàng và cận lâm sàng khi
bôi thuốc theo phác đồ điều trò. Các kết quả được phân tích theo
phương pháp thống kê Fisher chính xác và Wilcoxon sau khi mã
hoá điểm của các biến số.
Chương 3. KẾT QUẢ
3.1. Sàng lọc dược liệu kháng M. furfur
3.1.1. sàng lọc cây thuốc và tinh dầu
Đã xác đònh được 10/19 cây thuốc kháng M. furfur ATCC 44344.
Thân rễ riềng và BMT tác dụng mạnh hơn những cao chiết còn lại.
Tinh dầu Quế kháng M. furfur mạnh, nhưng theo Jan Hunter tinh
dầu này khi dùng ngoài có thể gây kích ứng da mạnh (bảng 3.13).
3.1.2. Xác đònh loại cây và bộ phận dùng của BMT
Tác dụng kháng M. furfur ATCC 44344 và M1 của cao chiết BMT
theo màu hoa và bộ phận dùng khác nhau được xác đònh bằng
phương pháp pha loãng (xác đònh MIC) và kỹ thuật hiện hình sinh
học (xác đònh vết kháng nấm: VKN) (bảng 4,14). 7
Bảng 3.13. Tác dụng kháng M. furfur của cao chiết dược liệu và
các loại tinh dầu
MIC của các cao chiết từ dược liệu

9. Sâm đại hành
(Euleutherine subaphylla Gagnep)
40 40 > 100
10. Kiến cò
(Rhinacanthus nasuta (L.) Kurz.)
100 100

>100

Tinh dầu
MIC
(μl/ml)
Tinh dầu
MIC
(μl/ml)
11. Bạc hà 1,25 16. Tersol 1,25
12. Bưởi 0,6
17. Tràm trà
Úc
0,25
13.Eucalyptol 0,5
18. Tràm Trà
Việt Nam
0,25
14. Quế 0.06 19. Tràm 0,6
15. Sả 1,25 * Nghệ 4,0
**Riềng 5,0 8


Tên khoa học
CHCl
3
EtOH CHCl
3
EtOH

VKN
R
BD
A. galanga 3,12 3,12 1,56 1,56 +++
R
BT
A. galanga 7,8 5,0 5,0 5,0 +++
R
HM
A. galanga 3,12 3,12 1,56 1,56 +++
R
TV
A. galanga 7,8 4,96 4,96 4,96 +++
R
TN
A. conchigera 50 39,7 25 31,5 +
R
ĐL
A. chinensis 12,5 10,0 10,0 10,0 +
R
KD
A. purpurata > 100 > 100 > 100 > 100 -

bề mặt có vân (20-32,5 μm); hạt tinh bột với tễ rõ; lông che chở
đầu tà có vân dọc và lông che chở phân nhánh.
Sắc ký đồ SKLM của BMT-T triển khai với hệ CHCl
3
(2 lần)
phải có vết cho Rf = 0,48 to, rõ.
3.2.2. Chiết xuất cao BMT-T
Bột toàn cây trên mặt đất của BMT-T được chiết xuất với các dung
môi khác nhau như CHCl
3
, MeOH, EtOH 96%, EtOH 70%, EtOH
50%, EtOH 25% bằng soxhlet, đun hồi lưu, ngâm hoặc ngấm kiệt.
Hiệu suất chiết của các cao BMT-T tính theo lượng cao chiết (A%)
và hoạt lực kháng M. furfur (X%).
Kết quả: Cao BMT-T chiết với các dung môi MeOH, EtOH 96%,
EtOH 25% đều cho hiệu suất và tác dụng kháng M. furfur tương
đương nhau (bảng 3.17).

10
Bảng 3.17. Hiệu suất chiết cao BMT-T với dung môi và phương
pháp khác nhau
Dung môi/PP
chiết
Dược liệu
(g)
Cao
(mg)
MIC
(μg cao/ml)
A% X%

-
n-hexan - EtOAc (8:1:1), EtOAc - CHCl
3
– MeOH -H
2
O (4:2:2:1):
IB1 chỉ cho 1 vết duy nhất, với Rf tương ứng là 0,26; 0,43 và 0,69.
- Sắc ký khí: máy sắc ký khí SHIMADZU 14B. Cột OV 17, kích thước
2,1 m x3,2 mm. Khí mang N2, 80 Kpa. Detector FID. Đo đẳng nhiệt:

11
t
o
cột: 255
o
C; t
o
detector: 275
o
C, t
o
injector: 175
o
C. Trên sắc ký
đồ chỉ cho 1 đỉnh duy nhất ở thời gian lưu 1,091
Xác đònh cấu trúc hoá học IB 1
IB1 được xác đònh cấu trúc hoá học bằng MS,
1
H NMR và
13

Riềng nếp được chiết xuất theo 2 qui trình sau:
- Qui trình 1 (QT 1) chiết xuất với n-hexan bằng soxhlet.
- Qui trình 2 (QT 2) chiết xuất với 2 dung môi: chiết dầu thô với
cồn ethanol 96% bằng ngâm lạnh hoặc ngấm kiệt. Lắc phân bố dầu
thô với n-hexan hoặc CHCl
3
để có PĐDR.
So sánh tác dụng kháng M. furfur của các PĐDR bằng phương pháp
pha loãng trên 2 vi nấm M. furfur ATCC 44344 và M1. Thể chất và
MIC trung bình của PĐDR được trình bày trong bảng 3.22.

12
Bảng 3.21. Đặc điểm nhận dạng thân rễ Riềng nếp
Đặc điểm phân biệt Loài
1. Đường kính thân rễ ≥ 2 cm
1.1. Thân rễ vàng nhạt đến trắng ngà
Hạt tinh bột hình chiếc giày (+ + +)
VKN (+ + + +)
Mùi thơm đặc trưng Alpinia galanga
(Riềng nếp)
Hạt tinh bột hình chiếc giày (-)
VKN (-)
Mùi hăng nồng
Catimbium latilare (Ré)
1.2. Thân rễ màu đỏ
Nâu đỏ
VKN (+ + + +)

QT 2/CHCl
3
Dầu nâu đen, hăng, nóng 0,37 0,185
QT1 và QT2/n-hexan kháng M. furfur và có thể chất tương đương.

13
3.3.1.2. Hàm lượng PĐDR chiết theo QT2/n-hexan
Bột thân rễ 11 lô Riềng nếp thuộc 4 mẫu (R
BD
, R
BT
, R
CM
, R
CL
) và 1
mẫu Riềng có vỏ màu hồng tím (R
BMT
) có độ ẩm từ 6,7-10%, xác
đònh bằng phương pháp chiết với dung môi, độ tro toàn phần từ 6-
6,5% và độ tro không tan trong HCl Từø 0,6%-0,8%, được chiết xuất
PĐDR theo QT2/n-hexan-ngấm kiệt, mỗi lô được chiết 6 lần, mỗi
lần 30 g.
Bảng 3.23. Hiệu suất chiết PĐDR từ các lô Riềng
Lô Riềng Hiệu suất (%) Ghi chú
R
CM
-L1→ L2 4,2 - 4,8 Củ màu vàng nhạt
R
CL

bằng máy khúc xạ kế ở nhiệt độ 20 ± 0,5
o
C với tia D màu vàng
của đèn Natri có bước sóng bằng 589,3 mm).

14
3.3.1.4. Thành phần hoá học của PĐDR
Thành phần hoá học của PĐDR xác đònh bằng GC-MS ở máy
Fisons GC 8000. Cột DB 5 MS 30 mx 0,25 mm, 0,25 μm; khí mang
Helium. Chế độ SC 43, áp suất khí 20 PSI, t
o
detector là 350
o
C,
t
o
injector = 250
o
C. Chương trình nhiệt: khởi đầu 60
o
C, gia nhiệt
10
o
C / 1 phút đến 150
o
C giữ trong 5 phút, sau đó gia nhiệt với tốc
độ 5
o
C / 1 phút đến 260
o

H NMR và
13
C NMR. Phổ đồ, m/z và dòch chuyển hoá học của chất G được so
sánh với dữ liệu trong tài liệu tham khảo, cho kết quả phù hợp,
giúp khẳng đònh chất G chính là galangal acetat (GA)
(1’acetoxychavicol acetat ).
GA ở dạng lỏng sánh, không
màu đến vàng nhạt, mùi thơm, vò
nóng; dễ tan trong cồn EtOH,
MeOH, CHCl
3
, n-hexan. Không
tan trong nước. Tác dụng kháng M. furfur ATCC 44344 của chất G xác đònh bằng
phương pháp pha loãng cho kết quả như sau:
MIC của chất G = 0,125 μl/ml = MIC của PĐDR
Chất G chính là galangal acetat (GA), là hoạt chất kháng
M. furfur của thân rễ Riềng nếp.
3.3.2.4. Sơ bộ đánh giá GA% trong PĐDR và trong bột thân rễ
Riềng nếp bằng GC và HPLC
Chuẩn đối chiếu: GA phân lập có độ tinh khiết 91,3%.
Lượng GA trong thân rễ các mẫu Riềng nếp chiếm từ 1,94% trở lên
(bảng 3.33), lượng GA% tuỳ thuộc vào GA% trong PĐDR và lượng
PĐDR chiết được nhiều hay ít.
Bảng 3.33. Hàm lượng GA% trong Riềng nếp

- Bột thân rễ Riềng nếp phải chứa các thành phần sau: mạch
mạng, mạch vạch, sợi, tế bào mô cứng, mảnh mô mềm, tế bào tiết,
hạt tinh bột có hình dạng thay đổi, bầu dục, cong chữ S, chùy, hình
đặc biệt giống chiếc giày.
Chất lượng bột: Độ ẩm không quá 13%,
Độ tro toàn phần không quá 10%.
- Đònh tính
▫ Phải cho phản ứng cyanidin dương tính.
▫ Sắc ký đồ sắc ký lớp mỏng triển khai với hệ dung môi
n-hexan – EtOAc (9:1) phải cho vết có Rf = 0,45.
- Đònh lượng: hàm lượng hoạt chất GA trong bột thân rễ phải đạt
từ 1,8% trở lên.
3.4. Tác dụng kháng Malassezia spp. của PĐDR, GA,
cao BMT-T và IB1
Tác dụng của Riềng nếp và BMT-T trên Malassezia spp. được xác
đònh bằng phương pháp pha loãng.
Vi nấm: M. furfur ATCC 44344; Malassezia ly trích từ vẩy da lang
ben, gàu, da bình thường (chủng M1-M75) gồm: M. furfur (n=43),
M. sympodialis (n=20), M. globosa (n=4), M. restricta (n=2),
Malassezia sp. (n=6).
Môi trường RPMI-S1 và m-Dixon.
Kết quả: MIC xác đònh ở môi trường m-Dixon hơi cao hơn khi xác
đònh ở môi trường RPMI-S1 (bảng 3.42). 17
Bảng 3.42. Tác dụng kháng Malassezia spp. của PĐDR, GA,
cao BMT-T và IB1
MIC
Chất thử

3.6. Phối hợp tác động của PĐDR
PĐDR được khảo sát hiệu lực kháng Malassezia spp. khi phối hợp
với một số chất kháng nấm khác như acid salicylic, acid benzoic và
cao BMT-T.
Sử dụng phương pháp pha loãng theo hình bàn cờ, trên một số vi
nấm gồm M. furfur ATCC44344, M1, M8 và M9 (bảng 3.48).

18
Bảng 3.46. Một số cơ chế tác động trên M. furfur của PĐDR, GA,
cao BMT-T và IB1 .
Chất thử MT Tác động trên
sự tăng trưởng
Đích tác động
trên tế bào vi nấm
Ketoconazol
(μg/ml)
0,06
MT < MIC
Không thử Không thử
PĐDR và
GA (μl/ml)
0,008
MT < MIC
Diệt nấm
MFC = 2 x MIC
Thành tế bào,
màng sinh chất,
ti thể.
Cao BMT-T
và IB1 (μg/ml)

kích ứng
- -
Thuốc bôi ngoài
(PĐDR 1,25%)
Kích ứng
vừa
0/81
(không
kích ứng)
6/9 (tuần 2)
4/6 (tuần 3)
(Kích ứng nhẹ - vừa)
Thuốc bôi ngoài
(PĐDR 0,6 %)
- -
6/61 (tuần 2-3)
(Kích ứng nhẹ)
PĐDR 1,25% gây kích ứng da chỉ sau 2-3 tuần bôi thuốc, sự khác
biệt về mức độ kích ứng so với trước khi bôi thuốc không có ý
nghóa thống kê (test Wilcoxon, P > 0,05)
PĐDR 0,6% giảm được tỉ lệ kích ứng, sự khác biệt tỉ lệ kích ứng
giữa thuốc chứa PĐDR 1,25% và 0,6% có ý nghóa thống kê (test
Fisher chính xác, 2P < 0,05)
3.7.2. Hiệu quả lâm sàng và cận lâm sàng của thuốc bôi ngoài
chứa PĐDR 1,25% và 0,6%
Hiệu quả lâm sàng.
Thuốc chứa PĐDR 1,25% và 0,6% giúp cải thiện về lâm sàng rõ
rệt. Sau 1 tuần bôi thuốc vết lang ben hết bong vẩy, vết lang ben
mờ sau 2 tuần bôi thuốc và hết bệnh sau 3 tuần.
Cận lâm sàng

các enzym cần thiết cho sự tổng hợp sắc tố hoạt động ưu tiên hơn
enzym cần thiết cho sinh tổng hợp 2-methoxy-1,4-naphthoquinon.
4.2. Chiết xuất, phân lập và xác đònh cấu trúc hoá học của hoạt
chất kháng M. furfur chiết từ BMT-T và riềng nếp
- Bằng các kỹ thuật chiết xuất cơ bản như ngâm, ngấm kiệt, lắc
phân bố lỏng-lỏng và các kỹ thuật sắc ký như sắc ký cột cổ điển,

21
sắc ký lớp mỏng nhưng với sự đònh hướng của VKN, chúng tôi đã
chiết xuất được các phân đoạn và các đơn chất kháng Malassezia
có trong Riềng nếp và BMT-T.
- Chúng tôi đã sử dụng các phương pháp phổ hiện đại như MS,
1
H NMR,
13
C NMR để xác đònh cấu trúc của hoạt chất có tác dụng
kháng Malassezia ly trích được từ BMT-T Việt Nam là 2-methoxy-
1,4- naphthoquinon và Riềng nếp Việt Nam là galangal acetat.
Đây là các hợp chất chính cho tác dụng kháng Candida, nấm da và
nấm mốc của BMT và Riềng nếp ở các nước trong khu vực nhưng
lần đầu được phân lập và xác đònh tác dụng kháng M. furfur ATCC
44344 và quần thể Malassezia ly trích từ vẩy da người Việt Nam.
- Đến nay, DĐVN III (2002) vẫn chưa đề cập đến tiêu chuẩn
kiểm nghiệm Riềng nếp. Nhằm tiến tới xây dựng tiêu chuẩn cơ sở
cho thân rễ Riềng nếp dùng trong kiểm nghiệm nguyên liệu, chúng
tôi đã sơ bộ đònh lượng chất đặc trưng cho tác dụng kháng
Malassezia spp. là galangal acetat trong thân rễ Riềng nếp bằng
GC và HPLC. Kết quả cho thấy lượng galangal acetat trong hầu
hết các mẫu thân rễ Riềng nếp khảo sát chiếm trên 1,8%. Để qui
đònh giới hạn đònh lượng GA% trong thân rễ Riềng nếp chúng tôi

Nếu xét kết quả in vitro, cao BMT-T, PĐDR và hoạt chất kháng vi
nấm gây bệnh lang ben yếu hơn ketoconazol, nhưng tiêu chuẩn
hàng đầu để lựa chọn một chất kháng nấm đưa vào sử dụng là hiệu
quả ở in vivo và lâm sàng. PĐDR cho hiệu quả rõ rệt ở lâm sàng và
cận lâm sàng ở nồng độ tương đối thấp (PĐDR 0,6%); tác động diệt
nấm và hàm lượng PĐDR và GA% trong riềng nếp Việt Nam khá
cao; PĐDR và cao BMT-T tác dụng bổ sung trên 2 dạng phát triển
men và sợi của M. furfur là tiền đề để nghiên cứu sử dụng các cây
này làm nguyên liệu điều chế thuốc trò lang ben, ngoài ra còn giúp
chứng minh một cách khoa học kinh nghiệm sử dụng thuốc cổ
truyền dân tộc của dân gian.

23
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Qua thời gian nghiên cứu một số cây thuốc kháng vi nấm gây bệnh
lang ben chúng tôi thu được một số kết luận sau:
1. Vỏ quả của cây Bông móng tay hoặc toàn cây trên mặt đất của
Bông móng tay trắng (Impatiens balsamina L. Balsaminaceae) và
thân rễ Riềng nếp (Alpinia galanga (L.) Willd.) kháng vi nấm gây
bệnh lang ben mạnh hơn các cây thuốc khảo cứu.
2. Đề nghò được các đặc điểm nhận dạng cây BMT-T và Riềng
nếp dựa vào đặc điểm thực vật học, hoá học liên quan đến tác dụng
kháng M. furfur.
3. Chiết xuất phân đoạn và hoạt chất kháng Malassezia spp. từ
Bông móng tay trắng và Riềng nếp.
- Đã xây dựng qui trình chiết xuất PĐDR và cao BMT-T kháng
Malassezia spp. từ thân rễ Riềng nếp vàø phần trên mặt đất cây
BMT-T.
- Phân lập và xác đònh cấu trúc hoá học hoạt chất kháng

sau:
1. Nghiên cứu phối hợp giữa PĐDR và cao BMT-T, PĐDR và
một số chất khác về tác dụng kháng vi nấm Malassezia spp. để giảm
được tính kích ứng da nhưng vẫn đảm bảo hoạt tính.
2. Nghiên cứu chế phẩm từ PĐDR, PĐDR và BMT-T để điều trò
bệnh lang ben ở giai đoạn lâm sàng.
3. Tiếp tục nghiên cứu hoạt chất kháng Malassezia spp. của Bông
móng tay: bán tổng hợp 2-methoxy-1,4-naphthoquinon từ Lawson,
là chất đã được tổng hợp và bán trên thò trường, để có nguồn
nguyên liệu ổn đònh có thể sử dụng làm chế phẩm điều trò bệnh
lang ben.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Đinh Nga, Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ, Trần Xuân
Mai (2002), “Khảo sát tác dụng kháng vi nấm gây bệnh lang ben
của một số loài Riềng”, Y học TP. Hồ Chí Minh Tập 6, Phụ bản 4,
tr. 299-303.
2. Nguyễn Đinh Nga, Huỳnh Tố Quyên (2005), “Xác đònh
cấu trúc của chất có tác dụng kháng vi nấm Pityrosporum
orbiculare chiết từ cây Riềng nếp (Alpinia galanga Swartz) ở Việt
Nam”, Tạp chí Dược học 4(384), Tr. 17-21.
3. Nguyen Dinh Nga, Nongluksna Sriubolmas (2005), “The
antifungal activity of fraction and principal compound from Alpinia
galanga (L.) Willd. Against Malassezia spp.”, Pharma Indochina
IV-Pharmacy in cooperation for development and integration,
Vol 2, Nhà xuất bản Y Học chi nhánh TP. HCM, tr. 269-274.
4. Nguyen Dinh Nga, Nongluksna Sriubolmas (2005),
“Effects of Alpinia galanga and Impatiens balsamina extracts on
the morphogenetic transformation of Malassezia furfur”, Pharma


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status