1
Lời cảm ơn Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt ngiệp,
tôi đã nhận được những lời chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của cô giáo: Tiến sĩ
Trần Thị Phương Liên.
Bên cạnh đó, Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Trung tâm chuyển
giao công nghệ, các Phòng, Ban trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo các điều kiện
thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình làm việc. Cùng với đó là sự hỗ trợ nhất
định từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó! Xuân Hòa, ngày 26 tháng 11 năm 2011
Học viên Nguyễn Mạnh Cường
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
ĐTD Đái tháo đường
HDL –c High density lipoprotein cholesterol (Cholesterol tỉ
trọng cao)
VLDL –c Very low dentisy lipoprotein (Lipoprotein tỷ trọng
thấp liên kết cholesterol)
LDL –c Low dentisy lipoprotein cholesterol (Lipoprotein
liên kết cholesterol)
STZ Streptozotocin
TC Total cholesterol (Cholesterol toàn phần)
TG Triglyxeride
2. Mục đích nghiên cứu. 4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 4
4.
Đối tượng và phạm vi ngiên cứu nghiên cứu
4
5. Phương pháp nghiên cứu
4
6. Đóng góp mới của đề tài. 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU. 5
1.1. Giới thiệu về một số hợp chất tự nhiên ở thực vật.
5
1.2. Bệnh béo phì (Obesity). 12
1.2.1. Thực trạng béo phì trên thế giới và Việt Nam. 13
1.2.2. Tác hại và nguy cơ của bệnh béo phì. 14
1.2.3. Nguyên nhân và giải pháp phòng, điều trị béo phì. 15
1.2.4. Rối loạn trao đổi lipid máu.
1.3. Bệnh đái tháo đường (Diabetes mellitus). 16
1.3.1. Khái niệm và phân loại. 16
1.3.2. Thực trạng đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam. 17
1.3.3. Tác hại và biến chứng… 18
1.3.4. Phòng và điều trị bệnh ĐTĐ. 18
1.3.5. Chuyển hóa glucose và sự điều hòa glucose huyết. 19
1.4. Mối quan hệ giữa béo phì và đái tháo đường. 20
1.5. Phương pháp gây đái tháo đường thực nghiệm bằng STZ . 21
1.6. Vài nét chung về cây bí đao. 23
1.6.1. Giới thiêu. 23
1.6.2. Nguồn gốc. 24
1.6.3. Phân loại, mô tả. 24
1.6.4. Thành phần hóa học. 24
3.2.2. Định lượng polyphenol tổng số các phân đoạn dịch chiết. 39
3.3. Kết quả xác định liều độc cấp. 41
3.4. Kết quả mô hình chuột béo phì thực nghiệm. 41
3.5. Tác dụng hạ glucose huyết của quả Bí đao
trên mô hình chuột đái tháo
đường type 2. 46
3.5.1. Kết quả tạo mô hình chuột đái tháo đường type 2 thực nghiệm. 46
3.5.2. Tác dụng của các phân đoạn dịch chiết từ quả Bí đao
đến nồng độ
glucose huyết lúc đói của chuột ĐTĐ. 49
3.6. Tác dụng đến chuyển hóa lipid của quả Bí đao trên mô hình chuột ĐTĐ
type 2. 52
KẾT LUẬN. 55
KIẾN NGHỊ. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 57 MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài.
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn trao đổi chất với biểu hiện chung
nhất là chứng tăng đường huyết. Căn bệnh này đang trở thành mối nguy hại đối với
toàn cầu bởi trung bình 10 giây có một người tử vong vì ĐTĐ.
sức khỏe cộng đồng quốc tế và ĐTĐ là bệnh thứ hai chỉ sau AIDS đạt đến tầm quan
trọng như vậy. Trong những năm sắp đến, ĐTĐ là mối đe dọa sức khỏe cộng đồng
đang tăng lên ở các nước phát triển và đang phát triển. Y học ngày nay đã có nhiều
loại thuốc chữa bệnh ĐTĐ có hiệu quả như insulin, sulfonylurea, biguanid, Tuy
nhiên, hầu hết các loại thuốc này đều có tác dụng phụ và chi phí điều trị đắt đỏ [10],
[30], [2], [22].
Sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ người mắc bệnh làm cho ĐTĐ trở thành một
vấn đề lớn cho sức khỏe vì bệnh có tỷ lệ mắc, chết trầm trọng trong quá trình trị liệu
lâu dài, đặc biệt là ĐTĐ type 2 một trong những bệnh phổ biến nhất trong bệnh
ĐTĐ. ĐTĐ có thể mang nhiều biến chứng nguy hiểm như: biến chứng võng mạc,
suy thận, biến chứng mạch máu lớn, tổn thương bàn chân dẫn đến cụt Vì vậy đại
đa số người bệnh đều có nhu cầu chữa bệnh một cách an toàn. Mỗi năm nước Mỹ
đã phải chi hàng tỉ đô la cho điều trị ĐTĐ bằng các thuốc do tổ chức an toàn thực
phẩm và dược phẩm Mỹ phê chuẩn (Food and Drug Aministration - FDA) như:
Metformin, Orlistat, Sibutramin, Ephedrin, Fenfluramin. Song hầu hết các thuốc
này đều có nguồn gốc tổng hợp, thường có tác dụng phụ và đắt tiền. Trước tình
hình đó ủy ban chuyên gia của (WHO) đã khuyến nghị nên sử dụng các thuốc
có nguồn gốc thảo dược sẵn có, giá thành rẻ và ít độc tính [4], [2].
Trong lịch sử Y học từ 1550 năm trước công nguyên, con người đã biết dùng
cây cỏ để chữa ĐTĐ. Nhiều loại thảo dược đó chứng tỏ có tác dụng rất tốt trong
việc điều trị ĐTĐ như: mướp đắng, sinh địa, hoàng kỳ, huyền sâm, cỏ ngọt, chè
xanh, khoai lang,…Việc nghiên cứu, khảo sát về thành phần hóa học và tác dụng
dược lý của các loài cây thuốc có giá trị của Việt Nam nhằm đặt cơ sở khoa học cho
việc sử dụng chúng một cách hợp lý, hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt.
8
Quả Bí đao (Benincasa hispida Cogn.) là loài thực vật thuộc họ Bầu bí
(Cucurbitaceae). Bí đao gốc ở Ấn Độ, được trồng rộng rãi ở khắp các vùng nhiệt
đới và á nhiệt đới của châu á và miền Ðông của châu Ðại Dương. Ở nước ta, quả Bí
đao cũng được trồng khắp nơi để lấy quả.
3.2. Định lượng polyphenol tổng số theo phương pháp Folin – Ciocalteau.
3.3. Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của các phân đoạn dịch chiết quả
Bí đao (Benincasa hispida Cogn.) trên mô hình chuột ĐTĐ mô phỏng type 2.
4. Đối tượng nghiên cứu
4.1. Mẫu thực vật
- Quả bí đao (Benincasa hispida Cogn.).
- Địa điểm thu mẫu: Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
4.2. Mẫu động vật và vi sinh vật
- Chuột nhắt trắng là chủng Swiss 4 tuần tuổi (18- 20 g), do Viện Vệ sinh
Dịch tễ TW cung cấp.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp hoá lý và hoá học
5.2. Sử dụng các phương pháp hoá sinh
5.3. Tạo mô hình chuột BP, tạo mô hình chuột ĐTĐ typ II
5.5. Sử dụng phương pháp nghiên cứu hình thái giải phẫu
6. Đóng góp mới của đề tài.
Đánh giá được khả năng hạ glucose huyết của một số phân đoạn dịch chiết
lên mô hình chuột ĐTĐ mô phỏng type 2 thông qua chỉ số glucose huyết, các chỉ số
lipit máu trên chuột sau 21 ngày điều trị. NỘI DUNG
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu về một số hợp chất tự nhiên ở thực vật.
1.1.1. Flavonoid thực vật.
10
2
và C
3
và nhóm cacbonyl ở C
4
mà có thể phân biệt flavonoid thành
các nhóm phụ sau: flavon, flavonol, flavanon, chalcon và auron, antoxyanidin,
leucoantoxyanidin, catechin, isoflavonoid, rotenoid, neoflavonoid.
Flavonoid tồn tại ở hai dạng: dạng tự do gọi là aglycon và dạng liên kết với
đường gọi là glycoside. Các glycoside khi bị thuỷ phân bằng acid hoặc enzyme sẽ
giải phóng ra đường và aglycon tương ứng. Có 2 dạng glycoside là O-glycoside và
C-glycoside. Đối với O-glycoside phân tử đường liên kết với flavonoid thông qua
nhóm hydroxyl như rutin; đối với C-glycoside, flavonoid liên kết với đường thông
qua nguyên tử cacbon như saponin.
O
OH
OH
O - Rhamnose - glucose
OH
O
OH
Glucose
Rutin Saponin
1.1.1.2. Hoạt tính sinh học của flavonoid.
11
- Tác dụng chống oxy hoá (antioxydant): flavonoid có khả năng kìm hãm các
quá trình oxy hoá dây chuyền sinh ra bởi gốc tự do hoạt động. Những flavonoid có
bọng (digramilation).
- Flavonoid có hoạt tính của vitamin PP, làm tăng tính bền và đàn hồi của
thành mạch, giảm sức thấm của mao mạch.
- Flavonoid có tác dụng chống ung thư do kìm hãm các enzyme oxy hoá khử,
quá trình đường phân và hô hấp, kìm hãm phân bào, phá vỡ cân bằng trong các quá
trình trao đổi chất của tế bào ung thư [6].
- Tác dụng giảm béo phì và lipid máu
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật cho thấy khi chuột béo
phì được điều trị bằng dịch chiết giàu flavonoid từ lá Bằng lăng (Lagerstroemia
specciosa L.) thì có trọng lượng giảm đáng kể (~ 10% ). Thí nghiệm tương tự với
12
flavonoid từ lá Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) đối với chuột cống trắng uống
cholesterol cũng cho thấy có tác dụng làm giảm các chỉ số cholesterol, triglycerid,
LDL-c đồng thời tăng HDL-c [34]. Naringin (C
17
H
32
O
4
) và hesperidin (C
28
H
34
O
15
)
là những flavonoid có hàm lượng cao trên họ cam chanh (Rutaceae) đã được nhiều
nhà nghiên cứu chiết xuất và thử tác dụng trên mô hình chuột béo phì cho kết quả
tốt trong việc làm hạ các chỉ số lipid máu [33], [38].
O
OH
OH
OH
OH
O
H
Quercetin Hesperidin Epicatechin
Một số flavonoid được tách chiết từ nguyên liệu thực vật đã được chứng
minh là có tác dụng điều hòa glucose huyết như: quercetin có trong Đỗ trọng
(Eucommia ulmoides Oliver.) [59], Hesperidin và Naringin có trong các cây thuộc
họ Rutaceae, Genistein và Daidzein có trong Đậu nành (Glycine max L.) [12],
Myricetin có trong cây Vông vang (Abelmoschus moschatus) [12].
1.1.2. Hợp chất phenolic.
1.1.2.1. Phân loại.
Hợp chất phenolic là nhóm các chất khác nhau rất phổ biến trong thực vật.
Đặc điểm chung của chúng là trong phân tử có vòng thơm (benzen) mang một, hai
hay ba nhóm hydroxyl (OH) gắn trực tiếp vào vòng benzen. Dựa vào thành phần và
cấu trúc, người ta chia hợp chất phenolic thành 3 nhóm:
- Nhóm hợp chất phenolic đơn giản: trong phân tử chỉ có một vòng benzen
và một vài nhóm hydroxyl. Tuỳ thuộc vào số lượng nhóm hydroxyl mà chúng được
gọi là các monophenol (phenol), diphenol (pyrocatechin, hydroquinon, ), triphenol
(pyrogalol, oxyhydroquinol, ).
13
- Nhóm hợp chất phenolic phức tạp: trong thành phần cấu trúc phân tử của
chúng ngoài vòng thơm benzen (C
6
H
OH
OH
O
OH
OH
OH
Procyanidin Quebracho
Tannin được cấu tạo dựa trên acid gallic và acid tanic. Tannin có 2 nhóm
chính: tannin thuỷ phân và tannin ngưng tụ.
- Tannin thuỷ phân: gồm có các tannin mà thành phần chính để tạo polymer
thường là ester của acid gallic với gốc đường, các ester không mang đường của acid
phenolcacbonic và ester của acid ellagovic với đường.
- Tannin ngưng tụ: là các oligomer hay polymer của các đơn vị flavonoid
(flavan 3-ol) nối với các dây nối C - C không bị cắt khi thuỷ phân như catechin,
epicatechin hoặc các chất tương tự. Tannin ngưng tụ có thể có từ 2 tới 50 hay hơn
các đơn vị flavonoid.
Tannin thường là hợp chất vô định hình hoặc tinh thể, không màu, có tính
quang học, vị chát. Tannin tan trong nước tạo dung dịch keo và độ hoà tan thay đổi
tuỳ thuộc vào mức độ polymer hoá. Chúng tan tốt trong ethanol, acetone.
1.1.3.2. Tác dụng sinh học.
- Tannin là chất cầm rửa do có tác dụng giảm sự bài tiết trong ống tiêu hóa,
kết tủa protein tạo thành một màng che niêm mạc.
- Tannin có tác dụng chống ung thư do có khả năng kết hợp với các chất gây
ung thư.
- Tannin ở nồng độ cao ức chế hoạt động của các enzyme nhưng ở nồng độ
thấp chúng thường kích hoạt enzyme.
- Tannin có tác dụng ức chế và diệt khuẩn, tác dụng cầm máu do làm se hệ
mao mạch hay tác dụng làm giảm đau tại chỗ do làm giảm tác dụng ở đầu dây thần
OH
M o rp hine
N
N
CH
3
Nicotin
Alkaloid có tính kiềm yếu, do các mạch cacbon chứa nitơ quyết định. Chúng
có thể liên kết với kim loại nặng tạo phức và phản ứng với một số thuốc thử đặc
trưng như: Bouchardat (kết tủa màu nâu sẫm), Vans-Mayer (kết tủa trắng ánh vàng)
hay Dragendroff (màu da cam, nâu đỏ).
1.1.4.2. Tác dụng sinh học.
Alkaloid được hình thành từ các sản phẩm của quá trình trao đổi chất như
trao đổi protein. Ở trong cây, alkaloid được coi như là chất dự trữ cho tổng hợp
protein, các chất bảo vệ cây, tham gia vào sự chuyển hoá hydro ở các mức độ khác
nhau, [8], [30].
Alkaloid được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược, có rất nhiều thuốc
chữa bệnh được sử dụng trong y học là các alkaloid tự nhiên hoặc nhân tạo, ví dụ
như: atrophin, morphin, cocain,
16
1.1.5. Hợp chất coumarin.
Coumarin là dẫn chất của α- purone có cấu trúc C
6
- C
3
dị vòng chứa oxy.
Coumarin kết tinh không màu hoặc màu vàng nhạt, vị đắng, cay, có mùi thơm [30].
. Trong thực vật terpen được tổng hợp thông qua con đường
trao đổi chất acetate/mevalonate hoặc con đường glyceraldehyde 3-
phosphate/pyruvate. Hầu hết các terpen đều thuộc nhóm hydrocarbon, tuy nhiên
chúng có thể bị khử hoặc bị oxy hóa để hình thành các hợp chất terpenoid khác
nhau như alcohol, ketone, acid và aldehyd. Vì vậy, một số tác giả sử dụng thuật ngữ
“terpenes” để chỉ chung một nhóm lớn các hợp chất bao gồm cả terpen và
17
terpenoid. Terpen là thành phần chính của các loại tinh dầu, được dùng trong công
nghệ hương mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm. Những terpen bậc cao thường là
các chất có hoạt tính sinh học.
1.2. Bệnh béo phì (Obesity).
Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa béo phì (Obesity) là tình trạng tích
lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một vùng hay toàn bộ cơ thể gây ảnh
hưởng tới sức khỏe. Tổ chức này dùng chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index)
để đánh giá tình trạng dư thừa hay thiếu hụt mỡ của mỗi người.
Chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức như sau:
Trong đó: W: Khối lượng (kg )
H: Chiều cao (m )
Bảng 1.1. Phân loại BMI của người trưởng thành châu Âu và châu Á [2].
Mức độ thể trọng
Người trưởng thành châu
Âu
Người trưởng thành
châu Á
Nhẹ cân < 18.5 < 18.5
Bình thường 18.5 - 24.9 18.5 - 22.9
Quá cân ≥ 25 - 29.9 ≥ 23
Béo phì độ 1 30 - 34.9 >23 - 24.9
Chứng thừa cân và bệnh béo phì gây nhiều tác hại cho cuộc sống con người
như mất thoải mái trong sinh hoạt, giảm hiệu suất lao động, khối lượng cơ thể nặng
nề kém lanh lợi.
Người béo phì có nguy cơ bệnh tật cao hơn so với người thường do nhiễm
độc mỡ máu, tiêu biểu như:
* Bệnh tim mạch: do mỡ tạng làm tim khó co bóp và mỡ máu làm xơ cứng
mạch vành và các mạch máu khác gây nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp.
* Rối loạn lipid máu: tình trạng này rất hay gặp ở người béo bụng và có biểu
hiện đặc trưng là tăng triglycerid và lipid có hại (LDL-c), giảm lipid có lợi (HDL-c).
* Tiểu đường: béo phì toàn thân có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2.
19
* Đột qụy: những người có BMI > 30 dễ bị tử vong do bệnh liên quan đến
mạch máu não.
* Ngoài ra béo phì còn làm gia tăng nguy cơ của nhiều bệnh khác: xấu đi
tình trạng rối loạn tiền mãn kinh ở phụ nữ, suy giảm chức năng hô hấp, rối loạn hoạt
động cơ xương, ung thư, sỏi mật và các vấn đề bệnh lý tâm thần khác [3], [13], [36].
1.2.4. Nguyên nhân và giải pháp phòng, điều trị béo phì.
Nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân béo phì là do khẩu phần và thói quen
dinh dưỡng không hợp lý, hoạt động thể lực kém dẫn đến năng lượng hấp thụ
vào cơ thể vượt quá mức cần thiết và tích lũy dưới dạng mỡ. Ngoài ra một số
bệnh lý nội tiết như: hội chứng Cushing (do hormone cortisosteroid trong cơ
thể tăng quá cao), bệnh suy tuyến giáp trạng, bệnh trứng đa nang hoặc có chứa
gen béo phì di truyền.
Để phòng bệnh béo phì có hiệu quả, mỗi cá nhân cần nâng cao nhận thức về
dinh dưỡng và hoạt động thể lực. Trên phạm vi xã hội, việc phòng bệnh cần tập
trung vào nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh này.
Điều trị thừa cân béo phì dựa trên nguyên tắc kết hợp giữa chế độ ăn uống,
luyện tập và dùng thuốc. Trong đó thuốc và phẫu thuật chỉ dùng trong trường hợp
bắt buộc. Thuốc chống béo phì được chia làm hai nhóm lớn.
đến tử vong hoặc tàn phế gọi là rối loạn chuyển hóa [2]. Ngày nay người ta đã xem
là có rối loạn lipid máu ngay từ khi tỉ lệ thành phần của lipid máu có sự thay đổi.
Khái niệm này chỉ rõ rối loạn lipid máu có thể xảy ra từ rất sớm, ngay cả khi chưa
có tăng các giá trị tuyệt đối nồng độ của các thành phần trong máu [2]. Rối loạn này
có thể tiên phát do di truyền hoặc thứ phát sau các bệnh khác như: béo phì, ĐTĐ,
nghiện rượu, suy giáp trạng. Fredrickson căn cứ vào kĩ thuật điện di và siêu ly tâm
với các thành phần huyết thanh đã phân loại chứng tăng lipid máu thành 5 type dựa
trên những thay đổi thành phần lipoprotein. Cách phân loại này đã được WHO
chính thức sử dụng vào năm 1970 [25]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh người
mắc bệnh béo phì có nguy cơ cao mắc các bệnh rối loạn lipid máu dẫn đến xơ vữa
động mạch (liên quan chủ yếu đến các lipoprotein) hoặc hiện tượng “nhiễm độc mỡ
tế bào” [18], [25].
21
1.3. Bệnh đái tháo đường (Diabetes mellitus).
1.3.1. Khái niệm và phân loại.
Danh từ đái tháo đường (Diabetes mellitus) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp
(Diabetes: nước chảy trong ống syphon) và tiếng Latinh (mellitus: ngọt) [65].
Khoảng 1550 năm trước công nguyên các thầy thuốc Hy Lạp đã mô tả bệnh này với
các triệu chứng ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, nước tiểu có đường và sút cân
nhanh [4]. PGS. TS Tạ Văn Bình định nghĩa đái tháo đường là một hội chứng có
đặc tính biểu hiện bằng tăng đường máu, do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin
hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin. Bệnh
ĐTĐ được xác định dựa vào những tiêu chí trong bảng 1.2 [4].
Bảng 1.2. Các tiêu chí để chuẩn đoán ĐTĐ theo WHO.
Kết luận
Đường huyết
lúc đói
(mmol/l)
Đường huyết 2 giờ sau
kháng insulin [4], [36]. Hai yếu tố này luôn có tác động qua lại với nhau và không
thể kết luận yếu tố nào xuất hiện trước. Kháng insulin có thể do bất thường ở hậu
thụ thể insulin, bất thường về số lượng receptor insulin hoặc ái lực gắn hormon của
insulin và cũng có thể do acid béo tự do tăng cao gián tiếp làm ảnh hưởng quá trình
truyền tin nội bào của insulin ở tế bào đích. Bởi vậy, bệnh béo bệu là một trong
những nguyên nhân môi trường được đề cập đến nhiều nhất vì chính béo bệu làm
gia tăng tình trạng kháng insulin [16].
Sinh bệnh học ĐTĐ type 2 diễn biến qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Mặc dù nồng độ glucose trong máu vẫn bình thường, nhưng có
hiện tượng kháng insulin vì insulin tăng cao hơn mức bình thường trong máu.
- Giai đoạn 2: Tình trạng kháng insulin có xu hướng nặng dần do có hiện
tượng tăng glucose huyết sau ăn.
- Giai đoạn 3: Kháng insulin không đổi nhưng bài tiết insulin suy giảm gây
tăng glucose huyết lúc đói, bệnh ĐTĐ biểu hiện ra bên ngoài.
Ngoài ra còn có ĐTĐ thai nghén và một số type ĐTĐ đặc biệt khác như
thiếu hụt chức năng tế bào β, thiếu hụt di truyền về tác động của insulin, bệnh tụy
ngoại tiết,
1.3.2. Thực trạng đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam.
Cùng với các bệnh không lây nhiễm khác, bệnh ĐTĐ đang phát triển với tốc
độ nhanh chóng cùng sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Năm 1994, toàn thế giới
có 98,9 triệu người mắc ĐTĐ. Năm 1995 đã tăng lên 135 triệu người chiếm 4% dân
số thế giới, cuối năm 2002 có khoảng 177 triệu người [2] . Dự đoán đến năm 2010
có khoảng 222 triệu và năm 2025 có khảng 300 triệu bệnh nhân chiếm 5,4% dân số
thế giới [2]. Đặc biệt ngày nay tỉ lệ người mắc bệnh ở châu Á đã vượt xa châu Âu -
nơi vẫn được xem là ổ bệnh [1]. Tại Tây Thái Bình Dương có 12 quốc gia có tỉ lệ
ĐTĐ type 2 trên 8%, cá biệt có quốc đảo có tỉ lệ bệnh vượt 40% .
23
Việt Nam hiện nay ĐTĐ đang gia tăng rất nhanh. Năm 1990, Hà Nội có tỉ lệ
mắc bệnh là 1,2%, Huế 0,96%, Thành phố Hồ Chí Minh là 2,52%. Theo điều tra
+ Các thuốc chống tăng glucose huyết sau bữa ăn: thuốc ức chế enzyme α-
glucosidase…
1.3.5. Chuyển hóa glucose và sự điều hòa glucose huyết.
Glucose trong cơ thể có nguồn gốc chủ yếu từ thức ăn thông qua quá trình
tiêu hóa. Vào các thời điểm xa bữa ăn hoặc khi glucid thức ăn không đủ, cơ thể sẽ
huy động nguồn glucose thứ hai nhờ sự thoái hóa glycogen ở gan, cơ. Ngoài ra
glucose còn có được nhờ quá trình tân tạo glucose nhờ hệ thống enzyme đặc hiệu
riêng biệt (xảy ra ở gan, thận, ruột) từ pyruvat, lactat hay các sản phẩm trung gian
của chu trình Krebs.
Glucose sau khi được hấp thu hoặc tạo thành trong cơ thể sẽ tan trong máu
và được vận chuyển vào trong tế bào nhờ các protein vận chuyển. Cuối cùng
glucose sẽ thoái hóa để tạo năng lượng hay các sản phẩm trung gian thông qua quá
trình đường phân, chu trình pentose phosphat hay con đường tạo uronic và ascorbic.
Glucose dư thừa khi nhu cầu năng lượng của cơ thể thấp lại được chuyển thành
dạng glucid dự trữ là glycogen ở gan [26].
Để duy trì nồng độ glucose ổn định trong máu cơ thể phải huy động nhiều cơ
chế, có sự xúc tác của nhiều loại enzyme khác nhau nhằm cân bằng giữa lượng
glucose đi vào máu và lượng glucose được thu nạp bởi các tổ chức. Trong đó quan
trọng nhất là việc điều hòa quá trình tân tạo glucose và quá trình thoái hóa glucose
có sự tham gia của nhiều protein vận chuyển glucose qua màng tế bào [17].
Glucose trong cơ thể được điều hòa ổn định bởi các hormon mà chủ yếu là
các hormon tuyến tụy nội tiết. Insulin là hormon tiết bởi các tế bào β của đảo tụy
Langerhans có tác dụng làm giảm glucose máu do làm tăng dự trữ glycogen ở gan,
cơ, ức chế quá trình tân tạo đường mới. Glucagon là hormon tiết bởi tế bào α đảo
tụy, có tác dụng ngược với insulin, nghĩa là làm tăng sự phân giải glycogen và tăng
tân tạo đường mới do đó giảm glucose huyết.
25
1.4. Mối quan hệ giữa béo phì và đái tháo đường.
Béo phì và ĐTĐ là hai bệnh không truyền nhiễm nhưng nguy hiểm nhất của