Nghiên cứu Homocystein máu ở bệnh nhân nhồi máu não cấp - Pdf 13


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐÂ HỒ CHÍ MINH

CAO PHI PHONG
NGHIÊN CỨU HOMOCYSTEIN MÁU
Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO CẤP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC Người hướng dẫn khoa học

GS.TS LÊ VĂN THÀNH
PGS.TS TRẦN THỊ LIÊN MINH TP. HỒ CHÍ MINH-2006

1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề:
Tai biến mạch máu não là bệnh lý thần kinh thường gặp ở
người lớn tuổi trên khắp thế giới, có xu hướng ngày một tăng
do sự lão hóa dận số đặc biệt ở những nước phát triển. Tỷ lệ
tử vong cao, đứng hàng thứ ba sau ung thư và tim mạch, bệnh
để lại những di chứng nặng nề. Trên 80% trường hợp tai biến
mạch máu não là nhồi máu não do xơ vữa động mạch và
huyết khối. Chiến lược phòng ngừa hiện nay bao gồm kiểm
soát các yếu tố nguy cơ (YTNC) kinh điển như tăng huyết áp,
hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng cholesterol máu, điều trò
chống kết tập tiểu cầu và cắt bỏ nội mạc hay đặt giá đỡ
(stent) tái thông động mạch cảnh. Mặc dù có hiệu quả nhưng
tỷ lệ tái phát bệnh còn rất cao, chỉ có từ 1/2 đến 2/3 nguy cơ
xơ vữa mạch có thể giải thích do các YTNC kinh điển, vì vậy
nhiều YTNC mới đã được nghiên cứu trong số đó đặc biệt
quan tâm đến tăng homocystein máu.
Các nghiên cứu dòch tễ học gần đây cho thấy tăng nồng độ

cứu ở nước ngoài gần đây cho thấy tăng homocystein máu là
YTNC mới. Do đó việc đánh giá mối tương quan giữa tăng
homocystein máu với nguy cơ nhồi máu não trên người Việt
Nam có ý nghóa hết sức quan trọng, sự khác biệt về chủng tộc,
môi trường và tập quán có dẫn đến thay đổi hay không đã thôi
thúc chúng tôi thực hiện nghiên cứu này.
3. Những đóng góp mới của luận án
- Cho biết mối tương quan và ảnh hưởng lẫn nhau giữa nồng
độ homocystein với các YTNC nhồi máu não.
- Sử dụng hồi qui logistic hiệu chỉnh ảnh hưởng của các
YTNC khác cho biết nguy cơ tương đối nhồi máu não do tăng
nồng độ homocystein.
- Cho biết mối tương quan giữa nồng độ homocystein với
các loại nhồi máu não (động mạch lớn, động mạch nhỏ), vàø

3
bệnh lý động mạch cảnh.
4. Bố cục của luận án: Luận án gồm có 102 trang. Ngoài
phần mở đầu và kết luận còn có 4 chương: tổng quan tài liệu
36 tr., đối tượng và phương pháp nghiên cứu 14 tr., kết quả 21
tr., bàn luận 24 tr Có 21 bảng, 7 biểu đồ, 3 sơ đồ và 118 tài
liệu tham khảo (tiếng Việt 11, tiếng Anh 107).

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu: Trong nhiều thập niên qua homocystein đã
được nghiên cứu trong nhiều lãnh vực từ lão khoa, ung thư,
sản khoa đến bệnh lý tim mạch. Hiện nay tăng nồng độ
homocystein máu được coi như YTNC bệnh mạch vành, bệnh
mạch máu ngoại vi và bệnh mạch máu não. Ngoài ra tăng
homocystein còn là nguyên nhân của nhiều bệnh lý như: sa

5
, N
10
–methylene tetrahydrofolat (dẫn xuất từ folat) và
enzim methylene tetrahydrofolat reductase(MTHFR). Khi
con đường tái methyl-hoá bão hoà hay methionin trong cơ thể
quá mức hoặc cần tổng hợp cystein, homocystein được
chuyển hoá thành cystathionin và sau đó là cystein, phản ứng
được xúc tác bởi enzim cystathionin β-synthase(CBS),
vitamin B
6
là đồng yếu tố cần thiết. Rối lọan chuyển hoá
homocystein dẫn đến giảm S-adenosyl methionin(SAM),
giảm phản ứng methyl hoá trong cơ thể.
1.3 Nồng độ homocystein trong máu: Đònh nghóa tăng
homocystein máu được xác đònh ở điểm cắt tuỳ chọn (thường
trên bách phân vò thứ 95 của dãy số nồng độ homocystein
trong nhóm chứng khoẻ mạnh). Theo Kang và cộng sự nồng
độ bình thường lúc đói từ 5 đến 15μmol/L, trung bình
10μmol/L và phân loại tăng homocystein máu thành ba mức
độ: mức độ vừa từ 16 đến 30μmol/L, mức độ trung gian từ 31
đến 100μmol/L, mức độ nặng trên 100μmol/L. Homocystein
máu có thể đo từ 4 đến 8 giờ sau khi uống methionin với liều
100mg/kg trọng lượng cơ thể và tăng khi nồng độ lớn hơn
trung bình cộng +2 độ lệch chuẩn. Nghi ngờ có rối loạn

5
chuyển hoá homocystein mà nồng độ đo lúc đói bình thường,
người ta đo nồng độ homocystein sau uống methionin.
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến biến dưỡng và gây tăng

lipoprotein với fibrin. Tăng homocystein còn gây rối loạn

6
chức năng nộïi mô, giảm oxyd nitric (bình thường tế bào nội
mô có thể ức chế homocystein bằng phóng thích oxyd nitric,
thành lập S-nitroso-homocystein có tác dụng giãn mạch,
chống kết tập tiểu cầu). Homocystein gây tăng sản tế bào cơ
trơn, gia tăng sản xuất collagen và đáp ứng viêm nhiễm ở
thành mạch máu gây tắc mạchø.
- Rối loạn chức năng mạch máu: nhiều cơ chế giải thích tuy
nhiên hai cơ chế được được quan tâm nhiều nhất là stress- oxy
hoá và giảm methyl- hoá DNA. Ngoài ra với sự hiện diện
homocystein thiolacton, protein trong huyết tương sẽ bò
homocystein-hoá, đây có thể là chất môi giới chính gây độc
hại của homocystein.
1.6 Dòch tễ học tương quan giữa tăng homocystein và nguy
cơ nhồi máu não: Năm 1976 Wilcken tìm thấy nồng độ hổn
hợp homocystein-cystein sau thử nghiệm uống methionin cao
hơn ở bệnh nhân mạch vành so với nhóm chứng, đây là
nghiên cứu lâm sàng đầu tiên về sư tương quan giữa
homocystein và bệnh lý mạch máu. Boushey và cs (1995)
phân tích gộp 27 nghiên cứu trước năm 1994, 11 nghiên cứu
có mối tương quan giữa homocystein và nguy cơ tai biến
mạch máu não, 9 nghiên cứu bệnh chứng xác đònh
homocystein là YTNC độc lập, 2 nghiên cứu tiền cứu kết quả
âm tính. Tỷ suất chênh nhồi máu não do tăng homocystein là
2,5(KTC 95% 2,0-3,0), tăng 5μmol/L là 1,9 (KTC 95% 1,60-
2,30). Moller và cs phân tích gộp 17 nghiên cứu, tỷ suất chênh
toàn bộ cho nghiên cứu cắt ngang 4,12(KTC 95% 2,94-5,77),
theo chiều dọc 3,74(KTC 95% 2,53-5,54) và toàn bộ 12

Verhoef và cs, nghiên cứu dòch tễ ở Phần Lan của Alfthan và
cs, nghiên cứu Caerphilly ở nam giới.

8
1.6.1 Tương quan với nguy cơ nhồi máu do tắc động
mạch trong và ngoài sọ: Theo Malinow và cs, tăng
homocystein tương quan với dày thành động mạch cảnh
(OR=3,15), độc lập với các YTNC khác. Nghiên cứu
Rotterdam (1997) cho thấy tương quan ở nhóm tuổi từ 55 đến
74 sau hiệu chỉnh tuổi và giới. Selhub và cs nhận thấy tương
quan với hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài so,ï nam lớn hơn nữ.
Adachi (Nhật) cho biết gia tăng nguy cơ dày thành động mạch
cảnh tương tự các báo cáo ở châu Âu. Theo Sasaki gia tăng
mảng xơ vữa động mạch cảnh nặng và nhồi máu ổ khuyết.
Nguy cơ tắc động mạch nội sọ do tăng homocystein kết quả
còn nhiều khác nhau. Eikelboom và cs (2000), tương quan
mạnh và độc lập với nguy cơ nhồi máu do động mạch lớn và ít
hơn ở động mạch nhỏ, không có tương quan với nhồi máu não
do thuyên tắc từ tim và nguyên do khác. Nigel Choon- Kiat
Tan và cs (2002) nhận thấy tương quan với tắc động mạch lớn
ở bệnh nhân nhồi máu não trẻ tuổi châu Á. Ngược lại Yin và
cs (2000), Ahamad Hassan và cs (2004) cho biết tương quan
chỉ có ở tắc động mạch nhỏ. Tan và cs (2001) nhận xét không
có tương quan trong cả hai nhóm động mạch lớn và nhỏ. Theo
Yoo và cs (1998), homocystein trung bình cao hơn khi tắc
động mạch hai hay ba vò trí so với tắc một vò trí hay bình
thường. Theo Matsui và cs (2001), Kim và cs (2003), Kohara
và cs (2003), tăng homocystein tương quan với nhồi máu não
không triệu chứng. Đột biến gien MTHFR C677T, giảm folat
là nguyên nhân gia tăng nhồi máu não ở Nhật (Morita và cs,

2.1.1 Nhóm bệnh: Gồm 230 bệnh nhân nhồi máu não cấp
lần đầu tiên, 111 nữ và 119 nam, tuổi từ 33 đến 84 tuổi, điều
trò nội trú ở đơn vò Đột q Bệnh viện Nhân Dân 115, tuyển
chọn trong khoảng thời gian liên tục từ tháng 1 năm 2002 đến
tháng 4 năm 2004. Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu khi
đáp ứng đủ hai tiêu chuẩn: lâm sàng xác đònh là tai biến mạch

10
máu não và chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ có bằng
chứng nhồi máu não.
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không hợp tác, chảy máu
não, nhồi máu do huyết khối tónh mạch, bóc tách động mạch,
nhồi máu vùng giáp ranh giữa hai động mạch lớn. Nhồi máu
não do thuyên tắc từ tim (bệnh nhân rung nhó, nhồi máu cơ
tim vừa mới xảy ra, bệnh lý van tim, thay van tim hay viêm
nội tâm mạc). Nhồi máu não do căn nguyên khác (huyết học,
viêm động mạch Takayasu). Bệnh nhân có yếu tố gây nhiễu
có thể làm tăng homocystein như suy thận (creatinin máu trên
1,2mg/dL), chạy thận nhân tạo, bệnh lý ác tính, suy gan, suy
tuyến giáp, đang dùng thuốc chống động kinh phenytoin, L-
dopa, methotrexat, theophyllin, thuốc ngừa thai có oestrogen
hoặc đang uống vitamin B
12
, B
6
và acid folic.
Tất cả bệnh nhân nhồi máu não được chụp chụp cắt lớp vi
tính trong 24 giờ đầu nhập viện, kiểm tra lại sau 48 giờ nếu
kết quả lần đầu bình thường, chụp cộng hưởng từ hay cộng
hưởng từ mạch máu khi có chỉ đònh lâm sàng và đònh lượng

2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu: Cỡ mẫu được thiết kế để có
90% cơ hội phát hiện ra tỷ số chênh khác 1 ở mức ý nghóa 5%
(p=0,05). Xác xuất tăng homocystein nhóm bệnh ước tính từ
các nghiên cứu ở châu Á ( P
1
ước tính 30%). Cỡ mẫu tối thiểu
cho mỗi nhóm là 204.
2.2.3 Đánh giá các yếu tố nguy cơ : Bệnh nhân có tiền sử
uống rượu khi uống thường xuyên trên hai lần trong một ngày,

12
(nam trên 40g rượu/ngày, nữ trên 20g rượu/ngày). Hút thuốc
lá khi đang hút liên tục (trên 10 điếu/ngày) hoặc đã ngưng hút
dưới hai tháng, ngưng hút trên hai tháng không đưa vào nhóm
hút thuốc lá. Tăng huyết áp được xác đònh khi huyết áp tâm
thu trên 160mmHg hoặc huyết áp tâm trương trên 90mmHg
hoặc đã điều trò thuốc tăng huyết áp, đái tháo đường khi tiền
sử có đái tháo đường hay hội đủ tiêu chuẩn chẩn đoán của
TCYTTG. Phân lọai tăng homocystein máu khi trên đỉnh
bách phân thứ 95 của dãy số nồng độ homocystein nhóm
chứng (trên 15μmol/L). Tăng cholesterol và cholesterol LDL
máu khi có tiền sử tăng hay cholesterol lúc đói ≥ 180mg/dL,
cholesterol LDL ≥130 mg/dL.
2.2.4 Mẫu thử homocystein: Đối với bệnh nhân nhồi máu
não lấy máu trong 7 ngày đầu khởi bệnh, mẫu máu được lấy ở
tónh mạch vào buổi sáng sau một đêm nhòn đói, để trong ống
nghiệm có EDTA, giữ lạnh trong nước đá và đưa đến phòng
xét nghiệm quay ly tâm trong 5 phút ở nhiệt độ 4ºC để tách

lý xơ vữa động mạch cảnh. Bonferroni's post hoc test so sánh
từng cặp. Các giá trò xác xuất thống kê được phân tích bằng
test hai chiều với mức ý nghóa thống kê p< 0,05

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm dân số học, yếu tố nguy cơ, nồng độ
homocystein: Mẫu nghiên cứu gồm 230 bệnh nhân nhồi máu
não lần đầu và 230 bệnh nhân không nhồi máu não. Tỷ số
nam/nữ nhóm bệnh 1,05 so nhóm chứng 0,88; p=0,3. Tuổi
trung bình 61,30±12,23 (nhỏ nhất 24, lớn nhất 90) cao hơn
nhóm chứng 59,13±12,85 (nhỏ nhất 33, lớn nhất 84); p=0,06.
Tỷ lệ hiện mắc tăng vừa nồng độ homocystein máu (trên
15μmol/L) cao hơn đáng kể ở bệnh nhân nhồi máu não so với
nhóm bệnh nhân không nhồi máu não (25,7% so với 3,9%;
p<0,001). Tỷ lệ tăng huyết áp và hút thuốc lá giữa 2 nhóm

14
khác biệt có ý nghóa thống kê (p<0,001). Các yếu tố nguy cơ
khác không có ý nghóa thống kê (p>0,05) (bảng 3.1). Nồng độ
homocystein máu toàn phần lúc đói được đònh lượng trong
460 trường hợp, nồng độ homocystein trung bình bệnh nhân
nhồi máu não cao hơn nhóm chứng có ý nghóa thống kê (13,46
± 5,98μmol/L so 9,67±3,07μmol/L; p<0,001), nồng độ tối đa
50μmol /L, tối thiểu 6μmol/L, trung vò 12,27μmol/L.
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Yếu tố nguy cơ Nhóm bệnh
(n=230)
Nhóm chứng
(n=230)
p

nồng độ cholesterol, cholesterol LDL, cholesterol HDL,
triglycerid (bảng 3.10). Nồng độ homocystein máu gia tăng
theo tuổi, nam cao hơn nữ (12,86±5,70μmol/L so với 10,30±
4,09μmol/L; p<0,001).
Bảng 3.10 Hệ số tương quan Pearson giữa nồng độ
cholesterol, LDL-C, HDL-C, triglycerid, tuổi và homocystein
Nhóm bệnh Nhóm chứng
YTNC r p r p
Tuổi
Cholesterol
LDL-C
HDL-C
Triglycerid
0,04 0,4
-0,04 0,4
0,01 0,8
-0,09 0,1
-0,1 0,07
0,25
<0,001
0,01 0,8
0,03 0,5
-0,08 0,2
-0,07 0,2

Bảng 3.11 Tương quan giữa tăng homocystein và các YTNC
Nhóm bệnh Nhóm chứng
r p* r p*
Tăng cholesterol -0,02 0,7 -0,01 0,9
Tăng LDL-C 0,05 0,3 0,003 0,9

(KTC 95% 3,62- 8,13) và hút thuốc lá: χ
2
(1)=12,68 (p <
0,001); OR=3,55 (KTC 95% 1,70 -7,41). Các YTNC khác
tương quan với nhồi máu não không có ý nghóa thống kê.
Phân tích theo các lớp được chia hai nhóm: tăng huyết áp và
không tăng huyết áp, hút thuốc lá và không hút thuốc lá, khảo
sát sự tương quan giữa tăng homocystein máu với nguy cơ
nhồi máu não. Nhóm không tăng huyết áp χ
2
(1)= 25,68
(p<0,001); OR=8,66 (KTC 95% 3,33- 22,54), nhóm tăng
huyết áp: χ
2
(1)=11,05 (p=0,001); OR= 6,37 (KTC 95% 1,88-
21,60). Nhóm không hút thuốc: χ
2
(1)=28,13 (p<0,001)
OR=6,70 (KTC 95% 3,05-14,73), nhóm hút thuốc lá: χ
2
(1)=
7,44 (p=0,006); OR=13,15(KTC 95% 1,48-116,72). Kết quả
sự tương quan tồn tại cả hai nhóm. Tăng huyết áp, hút thuốc
lá không phải là yếu tố gây nhiễu mà là yếu tố thay đổi hiệu
quả tương quan.
3.3 Tương quan giữa nồng độ homocystein máu và nguy cơ
nhồi máu não

17
Hồi qui logistic được dùng để tính OR và khoảng tin cậy

nhỏ 13,28 ± 5,55 μmol/L, tuy nhiên sự khác biệt không ý
nghóa thống kê (ANOVA, p= 0,6).
- Tương quan giữa nồng độ homocystein và bệnh lý động
mạch cảnh: 152 bệnh nhân nhồi máu não được siêu âm động
mạch cảnh, kết quả dày thành động mạch 82 trường hợp
(53,9%), hẹp 36 trường hợp (23,7%) và tắc hoàn toàn 9 trường
hợp (5,9%). Không có sự khác biệt có ý nghóa thống kê giữa
nồng độ homocystein trung bình trong các nhóm động mạch
cảnh bình thường, dày, hẹp và tắc (p=0,5).

Chương 4: BÀN LUẬN
Qua những kết quả thu được, chúng tôi xin đưa ra một số
bàn luận sau:
4.1 Bàn về đặc điểm dân số học, yếu tố nguy cơ, nồng độ
homocystein máu.
Tuổi trung bình trong nghiên cứu chúng tôi là 60,22± 12,58,
nhỏ nhất là 24 và lớn nhất là 90, nhóm bệnh 61,30± 12,23 cao
hơn nhóm chứng 59,13±12,85 tuy nhiên sự khác biệt không có
ý nghóa thống kê(p=0,06). Lớn tuổi (≥65 tuổi) chiếm 42%.
Nồng độ homocystein trung bình ở nam cao hơn nữ; p<0,001
và gia tăng theo tuổi. Araki và Brattstrom cũng ghi nhận tăng
homocystein máu gia tăng nguy cơ nhồi máu não thường gặp
ở những người lớn tuổi đặc biệt là ở nam giới.
Tăng homocystein được công nhận là nguyên nhân nhồi
máu não qua nhiều cơ chế, một số nghiên cứu dòch tễ học cho
thấy nồng độ homocystein máu liên hệ đến tình trạng hút
thuốc, huyết áp, mức sống trong xã hội và ở những người có
xơ vữa mạch. Chúng tôi khảo sát nồng độ homocystein trung

19

truyền hay dinh dưỡng hoặc cả hai, theo Morita và cs: đột
biến C677T của gien MTHFR là nguyên nhân chính gây tăng
tỷ lệ nhồi máu não ở Nhật Bản, Yoo và cs: yếu tố dinh dưỡng
có ảnh hưởng đến nồng độ homocystein máu. Hiện nay chúng
ta chưa có nghiên cứu xác đònh tỷ suất hiện mắc đột biến gien
MTHFR, nguyên nhân tăng homocystein thường gặp đặc biệt
trong đái tháo đường và đònh lượng nồng độ vitamin B
12
, B
6
,
folat huyết thanh ở những người lớn tuổi. Đây là các yếu tố
không những xác đònh sự tương quan độc lập giữa tăng
homocystein và nguy cơ nhồi máu não mà còn tác động mạnh
tương tự các YTNC khác.
4.2 Bàn về tương quan giữa tăng nồng độ homocystein máu
và các YTNC
Mục tiêu đầu tiên trong nghiên cứu này là khảo sát tính
độc lập của tăng nồng độ homocystein vừa làm gia tăng nguy
cơ nhồi máu não. Kết quả của chúng tôi cho thấy nồng độ
homocystein không có tương quan với các biến đònh lượng
như nồng độ cholesterol, cholesterol LDL, triglycerid hay các
biến đònh tính có hai giá trò như tăng huyết áp, hút thuốc lá,
đái tháo đường, uống rượu. Sau khi thêm vào hiệu chỉnh các
YTNC mạch máu bằng phân tích hồi qui logistic, tăng nồng
độ homocystein máu (trên 15μmol/L) nguy cơ nhồi máu não
cao hơn gấp 5,6 lần và độc lập với các YTNC khác.
Phân tích theo các lớp được chia hai nhóm để khảo sát sự
tương quan giữa tăng homocystein máu với nguy cơ nhồi máu
não. OR ở nhóm hút thuốc lá là 13,15 lớn hơn so với OR ở

4.3 Bàn về tương quan giữa nồng độ homocystein máu và
nguy cơ nhồi máu não
Kêt quả của chúng tôi OR thô nguy cơ nhồi máu não do
tăng homocystein máu là 8,47(KTC 95% 4,08-17,56)

22
p<0,001, hồi qui logistic hiệu chỉnh các YTNC liên quan đến
gia tăng nguy cơ nhồi máu não như: tuổi, giới tính, tăng huyết
áp, đái tháo đường, uống rượu, lớn tuổi, tăng cholesterol và
tăng cholesterol LDL, nguy cơ nhồi máu não sau hiệu chỉnh
là 5,60 (KTC 95% 2,57 -12,22); p<0,001 (nồng độ
homocystein >15 μmol/L so với ≤15μmol/L). Chúng tôi cũng
ghi nhận nồng độ homocystein trên 11,26μmol/L(tứ phân
trên) OR thô= 4,55 (KTC 95% 3,05-6,78) sau hiệu chỉnh OR=
3,84 (KTC95% 2,43-6,06) so với ≤ 11,26μmol/L. Nghiên cứu
NOMAS ghi nhận homocystein máu trên 15μmol/L là YTNC
độc lập. Một số nghiên cứu cho thấy nguy cơ nhồi máu tăng
khi nồng độ homocystein máu thấp hơn bình thường. Tan
OR=3,2 (KTC 95% 1,6-6,5) (homocystein >12,0μmol/L so với
<12,0μmol/L), nghiên cứu ECAP nồng độ homocystein thấp
12μmol/L gia tăng nguy cơ mắc bệnh xơ vữa mạch.
4.4 Bàn về tương quan giữa nồng độ homocystein với nhồi
máu não do tắc động mạch lớn, nhỏ và với bệnh lý động
mạch cảnh
Kết quả nhồi máu động mạch nhỏ của chúng tôi là 82,2%
cao hơn các nghiên cứu của Nigel Tan (44%), Tan (60,2%)
và Eikelboom (31%). Nồng độ homocystein trung bình ở động
mạch lớn là 14,28μmol/L lớn hơn động mạch nhỏ là 13,28
μmol/L, tuy nhiên không có ý nghóa thống kê, tương tự nghiên
cứu Tan. Theo Eikelboom và cs, Nigel Tan và cs nồng độ

máu não, làm gia tăng nguy cơ nhồi máu não ở người Việt
Nam gấp 8,47 lần và sau hiệu chỉnh: tuổi, giới, tăng huyết áp,
hút thuốc lá, đái tháo đường, lớn tuổi, tăng cholesterol và tăng
cholesterol LDL nguy cơ còn gấp 5,6 lần. Nguy cơ nhồi máu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status