NGHIÊN CứU TNF- HUYếT THANH ở BệNH NHÂN
Nhồi Máu não GIAI ĐOạN CấP
Cao Hữu Vinh*
Hoàng Khánh**
TóM TắT
Nghiên cứu bệnh - chứng, chẩn đoán xác định nhồi máu não (NMN) trong giai đoạn cấp bằng
lâm sàng và chụp não cắt lớp vi tính (20 - 30 HU) từ tháng 3 - 2008 đến 5 - 2009 tại Bệnh viện Trung
ơng Huế. Kết quả cho thấy: nồng độ TNF- huyết thanh trung bình ở nhóm bệnh nhân (BN) NMN
(27,84 10,26) pg/ml cao hơn nhóm chứng (13,43 5,79 pg/ml) p < 0,001. Tỷ lệ tăng nồng độ TNF-
máu trung bình trong nhóm NMN cao hơn trong nhóm chứng (p < 0,001) tại ba điểm cắt: (
X
+1SD)
= 19,22 àpg/ml,
X
= 13,43 pg/ml và (
X
+ 2SD) = 25,01 pg/ml. Tơng quan thuận chặt chẽ giữa
nồng độ TNF- huyết thanh với thể tích vùng nhồi máu trên chụp cắt lớp vi tính (r = 0,891, p < 0,001).
Tơng quan nghịch chặt chẽ giữa nồng độ TNF- máu với thang điểm Glasgow (r = -0,841, p < 0,001.
* Từ khoá: Nhồi máu não; Nồng độ TNF- huyết thanh.
Study of serum TNF- in patients with acute
cerebral infarction
SUMMARY
Patients - control case, diagnosis identified with clinical features and cerebral CT-scans (20 - 30
HU) from March, 2008 to May, 2009 at Hue Central Hospital. Results showed that concentration of
serum TNF- in cerebral infarct patient group (27.84 10.26 pg/ml) was higher than the control
group (13.43 5.79 pg/ml) p < 0.001. The rate of increase levels of TNF- in patients group was
higher than in control one (p < 0.001) at three points cut: (+1SD) = 19.22 pg/ml, = 13.43 pg/ml and
thể tích ổ nhồi máu.
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1. Đối tợng nghiên cứu.
- Nhóm bệnh: BN đợc chẩn đoán xác định NMN trong giai đoạn cấp bằng lâm sàng
và chụp não cắt lớp vi tính (20 - 30 HU) từ tháng 3 - 2008 đến 5 - 2009 vào điều trị tại Bệnh
viện TW Huế.
Không đa vào nghiên cứu các trờng hợp: NMN thoáng qua có các triệu chứng thoái
lui trớc 24 giờ; NMN tái phát; NMN đã qua giai đoạn cấp; các BN đang mắc bệnh liên
quan đến viêm nhiễm hệ thần kinh, mạch máu ở các cơ quan khác, bệnh lý liên quan đến
mạch vành; BN mắc bệnh nhiễm trùng, sốc nhiễm khuẩn, BN mắc bệnh lý tự miễn, đái tháo
đờng, ung th, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; BN đang dùng các thuốc ức chế miễn dịch,
thuốc kháng viêm, corticoid
- Nhóm chứng: 20 ngời khỏe mạnh tơng đơng nhóm bệnh.
2. Phơng pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu bệnh chứng.
- Đánh giá mức độ hôn mê bằng thang điểm Glasgow. Đánh giá thể tích ổ NMN trên
chụp cắt lớp vi tính.
- TNF-: xác định bằng miễn dịch hoá phát quang (chemiluminescent immuno asay)
(ILCA) trên máy Immulite 100 System (hãng DCP, Hoa Kỳ).
- Xử lý số liệu bằng phơng pháp thống kê y học Medcal.
KếT QUả NGHIÊN CứU
1. Đặc điểm chung giữa hai nhóm bệnh và chứng.
Bảng 1: Phân bố tuổi, giới và chung giữa hai nhóm bệnh và chứng.
Nhóm
Tuổi
Nhóm bệnh
(n = 33)
(
X
45
Bnh Chng
Biểu đồ 1:
Nồng độ trung bình TNF- máu của nhóm bệnh lớn hơn so với nhóm chứng có ý nghĩa
thống kê (p < 0,001).
* Tỷ lệ tăng TNF- máu theo điểm cắt giới hạn:
Bảng 2: Điểm cắt Bệnh Chứng
p
Chọn điểm cắt > 13,43 pg/ml 13,43 96,97% 45% < 0,001
ROC= 16,4 pg/ml 16,40 90,91% 10% < 0,001
> (
X
+
1SD) = 19,22 pg/ml
19,22
78,79% 15%
< 0,001
> (
X
+
2SD) = 25,01 pg/ml
25,01
60,61% 5%
< 0,001
Khi so sánh với nhóm chứng thấy tỷ lệ nồng độ TNF- huyết thanh tăng trong nhóm
NMN, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
vùng
nhồi
máu
vùng nhồi máu trên chụp cắt lớp vi tính.
Tơng quan thuận chặt chẽ giữa nồng độ TNF- huyết thanh với thể tích vùng nhồi
máu trên chụp cắt lớp vi tính (r = - 0,891, p < 0,001), theo phơng trình hồi quy tuyến tính y
= 0, 1558 x - 1,2017.
Biểu đồ 3: Tơng quan giữa nồng độ TNF- huyết thanh với thang điểm Glasgow.
Tơng quan nghịch chặt chẽ giữa nồng độ TNF- huyết thanh với thang điểm Glasgow
(r = - 0,841, p < 0,001), y = - 0,2703 x + 16,922.
Đ
iểm Glasgow
y = -0.2703x + 16.922
ý nghĩa so với nhóm chứng trong 24 giờ đầu sau đột quỵ [3]. Theo Zaremba J, Losy J và CS
(2001) trên 30 BN đột quỵ thiếu máu não cấp nồng độ TNF- ở trong dịch não tủy và huyết
thanh tăng cao có ý nghĩa so với nhóm chứng trong 24 giờ đầu sau đột quỵ.
* Nồng độ TNF- máu:
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ trung bình TNF- huyết thanh của nhóm
chứng là 13,43 5,79. Các giá trị nồng độ TNF- khác của nhóm chứng là: trung bình cộng
của nhóm chứng
X
= 13,34, trung bình cộng với một độ lệch chuẩn
(
X
1SD) = 19,22, trung
bình cộng của nhóm chứng cộng với 2 độ lệch chuẩn (
X
2SD) = 25,01. Nghiên cứu của
Castillo Jose và CS cho kết quả nồng độ TNF huyết thanh ở nhóm chứng là 13,1 6,4pg/ml.
Nếu điểm cắt giới hạn trên (
X
1SD) = 19,22 àpg/ml, tỷ lệ tăng nồng độ TNF- huyết thanh
trong nhóm bệnh là 78,79%, của nhóm chứng là 15%. Sự khác biệt về nguy cơ ở nhóm bệnh
cao hơn nhóm chứng (63,79%), tỷ suất chênh tăng 21,05. Nếu điểm cắt >
X
=
13,43 pg/ml, tỷ
lệ tăng nồng độ TNF- huyết thanh trên điểm cắt giới hạn trong nhóm bệnh là 96,97%, nhóm
chứng là 45%. Sự khác biệt về nguy cơ ở nhóm bệnh cao hẳn hơn nhóm chứng (51,97%), tỷ
suất chênh tăng 39,11. Nếu điểm cắt giới hạn bằng trung bình cộng của nhóm chứng cộng
với 2 độ lệch chuẩn (
não. Perttu J. Lindsberg và CS nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh có sự liên quan phổ
biến giữa mức tăng nồng độ TNF- huyết thanh trung bình với bệnh mạch máu, cũng nh
các biến chứng ở phụ nữ mang thai, thiếu sót thần kinh, khiếm khuyết khác ở trẻ sơ sinh, liên
quan đến suy giảm chức năng nhận thức ở ngời lớn tuổi và gia tăng tỷ lệ tử vong [7].
Zaremba J, Losy J và CS nghiên cứu vai trò của nồng độ TNF- huyết thanh trong giai đoạn
cấp của 30 BN NMN đã đi đến kết luận: các triệu chứng thần kinh xuất hiện sớm khi BN có
nồng độ TNF- huyết thanh cao [10].
KếT LUậN
Qua nghiên cứu 33 BN bị NMN và 20 ngời nhóm chứng, chúng tôi rút ra một số kết luận
sau:
1. Nồng độ TNF- huyết thanh ở BN NMN.
- Nồng độ TNF- huyết thanh trung bình ở nhóm BN NMN (27,84 10,26 pg/ml) cao hơn
nhóm chứng (13,43 5,79 pg/ml), p < 0,001.
- Tỷ lệ nồng độ TNF- huyết thanh trung bình tăng trong nhóm NMN đều cao hơn trong
nhóm chứng (p < 0,001) tại ba điểm cắt:
X
+ 1SD = 19,22 àpg/ml,
X
= 13,43 pg/ml và
X
+
2SD = 25,01 pg/ml.
2. Tơng quan giữa nồng độ TNF- huyết thanh với thể tích ổ nhồi máu, thang
điểm Glasgow.
- Tơng quan thuận chặt chẽ giữa nồng độ TNF- huyết thanh với thể tích vùng nhồi
máu trên chụp cắt lớp vi tính (r = 0,891, p < 0,001) và tơng quan nghịch chặt chẽ với
thang điểm Glasgow (r = - 0,841, p < 0,001).
TàI LIệU THAM KHảO