ÂẢI HC HÚ
KHOA LÛT
BÀI NIÊN LUẬN
BỘ MÔN: LUẬT HÌNH SỰ
KHÓA: 2010 - 2014
THỰC TRẠNG NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI TẠI ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên
thực hiện:
ThS. Nguyễn Thò Xuân Hồ Thò Hồng
Huệ
Lớp: Luật K34C
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành niên luận này, ngoài sự cố
gắng của bản thân, sự giúp đở của bạn bè
không thể không kể đến công lao dạy giổ của
quý thầy cô giáo. Em xin gửi tới các thầy cô
giáo khoa Luật_ Đại Học Huế lời cảm ơn chân
thành nhất , đặc biệt lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo Nguyễn Thò Xuân, người đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo và đóng góp ý kiến để
em thực hiện đề tài. Ngoài ra em còn gửi lời
cảm ơn đến thư viện khoa Luật.
Do thời gian và lượng kiến thức còn có hạn
chế nên trong quá trình nghiên cứu khó tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của các thầy cô giáo trong hội đồng.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 02 năm
mà là chuyện của chúng ta, không chỉ là chuyện của từng gia đình mà là chuyện
của toàn xã hội. Ý thức được vận mệnh của nhân loại trong tương lai và để giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người có ích cho xã hội, Liên Hợp
Quốc đã tổ chức nhiều hội nghị toàn thế giới với mục đích tìm ra giải pháp hữu
hiệu cho cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm do người CTN gây ra, mà
kết quả của nó là sự ra đời của nhiều văn bản có giá trị pháp lý toàn cầu.
Ở nước ta, việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục người chưa thành niên được coi
là một chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước và được quan tâm hàng đầu.
Việt Nam là nước đầu tiên của Châu Á và là nước thứ hai trên toàn Thế giới tham
gia Công ước về quyền trẻ em. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong nước
được ban hành, qui định các vấn đề liên quan đến trẻ em, như: Hiến pháp năm
1992, Luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Luật giáo dục. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện các chính sách này, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn tồn tại
rất nhiều vướng mắc, tình trạng người CTN phạm tội vẫn còn đang tiếp diễn.
Trong những năm gần đây, trên địa bàn cả nước số người CTN phạm tội đang có
xu hướng gia tăng mạnh mẽ và hành vi phạm tội ngày càng tinh xảo. Tình trạng
phạm tội ở người CTN không chỉ gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng
đến đời sống, trật tự an toàn xã hội mà còn gây nên sự hoang mang trong nhiều
bậc phụ huynh và dư luận xã hội.
Cũng như tình hình chung của cả nước, Tỉnh Quảng Trị cũng đang phải
đương đầu với tình hình gia tăng người CTN phạm tội này. Với nền kinh tế đang
bước vào thời kì hội nhập, đời sống của người dân cũng đả phát triển, bên cạnh đó
cũng có nhiều xã còn gặp nhiều khó khăn. Cũng chính vì thế sự gia tăng của tệ nạn
xã hội, của hành vi phạm tội trong đó có sự phạm tội của người CTN đã gây nhiều
bức xúc, thu hút sự quan tâm của nhiều người. Đòi hỏi phải có những giải pháp kịp
thời để phòng chống tình trạng người CTN phạm tội. Chỉ khi nào giải quyết được
7
tình trạng này chúng ta mới có thể đảm bảo rằng sẽ có một thế hệ trẻ đủ đức và đủ
tài và có đủ khả năng gánh vác sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Từ thực tiển về tình trạng người CTN phạm tội tại địa bàn tỉnh Quảng Trị
6. Kết cấu niên luận
Niên luận gồm:
Phần mở đầu
Phần nội dung (gồm 2 chương):
Chương 1: chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: thực trạng người chưa thành niên phạm tội tại địa bàn tỉnh
Quảng Trị.
Phần kết luận.
9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1. Khái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên
phạm tội
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên
Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về
nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Pháp luật ở
mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên
Theo cách gọi thông thường một chu kỳ sống của con người thường được
chia thành nhiều giai đoạn khác nhau: trẻ em, nhi đồng , thiếu niên, trung niên,
cao niên còn theo cách gọi của thuật ngữ pháp lý thì được chia thành các tên
gọi: trẻ em, người chưa thành niên và thành niên.
Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có
nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có
quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị
tước quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 nêu cụ thể: "Người chưa thành niên
là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác
định và Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người
dục trẻ em.
Một người chỉ được coi là người chưa thành niên phạm tội khi họ thỏa mãn
các điều kiện dưới đây:
Họ là người chưa thành niên;
Đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Đã thực hiện hành vi mà luật hình sự quy định là tội phạm.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người chưa thành niên là người
dưới 18 tuổi. Người chưa thành niên phạm tội là người dưới 18 tuổi, đã thực
hiện hành vi phạm tội, thỏa mãn các điều kiện chủ thể của tội phạm, tức là họ
phải có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên đối với trường hợp
phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc từ đủ 16 tuổi trở
11
lên đối với mọi tội phạm. Nói cách khác, người chưa thành niên phạm tội là
người phạm tội trong độ tuổi từ khoảng trên 14 hoặc 16 tuổi (tùy từng trường
hợp tội phạm thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng) và dưới 18 tuổi. Điều 68 Bộ luật hình sự quy định:
“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chịu trách nhiệm
hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định
khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”.
Như thế, theo tinh thần của điều luật nêu trên, quan điểm chính thức của Nhà
nước ta khẳng định:
Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 18
tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi mà Nhà nước quy
định là tội phạm.
Người không có năng lực trách nhiệm hình sự, dưới 14 tuổi trong trường
hợp tội phạm thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trong do cố
ý hoặc dưới 16 tuổi, trong trường hợp tội phạm thực hiện là tội ít nghiêm trọng,
tội phạm nghiêm trọng hay tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng do vô ý không phải chịu trách nhiệm hình sự bởi họ chưa hoặc không đủ
điều kiện chủ thể của tội phạm.
lứa tuổi này, Nhà nước ta xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với họ nhằm
uốn nắn lại sự lệch lạc trong sự phát triển nhân cách, đồng thời tạo điều kiện cho
họ tái hoàn lương, sớm hòa nhập với cuộc sống bình thường của đời sống xã hội.
Chính sách hình sự đặc biệt khoan giảm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện ở nguyên tắc xử
lý, ở các hình phạt và biện pháp tư pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với họ.
1.2.1. Quy định của Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội
Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội
BLHS dành riêng một chương (Chương X) quy định về chính sách xử lý
người chưa thành niên phạm tội, chính sách này được xây dựng dựa trên đặc
điểm đặc thù của người chưa thành niên là sự hạn chế về nhận thức, do vậy việc
xét xử họ chù yếu nhằm giáo dục, qua đó giúp các em nhận thức được sai lầm và
tuân thủ quy định của pháp. Các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên
13
phạm tội là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mang tính chất định hướng trong
việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội.
Trong luật hình sự Việt Nam, các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên
phạm tội được luật hóa tại Điều 69 Bộ luật hình sự hiện hành. Điều 69 Bộ luật
hình sự quy định 6 nguyên tắc cơ bản dưới đây:
Nguyên tắc thứ nhất: Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu
nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành
công dân có ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành
vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
Nguyên tắc nêu trên phản ánh mục đích và yêu cầu của việc giải quyết vấn
đề trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội. Việc xử lý hình sự
người chưa thành niên phạm tội trước hết và chủ yếu nhằm:
Giáo dục, làm cho người phạm tội nhận thức được những sai lầm mà họ đã
Cùng với nguyên tắc thứ nhất, nguyên tắc thứ ba đặt yêu cầu và giới hạn
phạm vi những trường hợp cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa
thành niên phạm tội. Pháp luật Việt Nam không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với mọi trường hợp người chưa thành niên phạm tội mà chỉ tiến hành
việc làm này trong những trường hợp “cần thiết”. Sự “cần thiết” hay “không cần
thiết” ở đây xác định dựa trên cơ sở căn cứ vào:
Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã thực hiện. Nếu
hành vi phạm tội của người chưa thành niên có tính chất không lớn thì không cần
thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ.
Đặc điểm nhân thân người chưa thành niên phạm tội. Nếu người chưa thành
niên lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt thì cần thiết phải cân nhắc việc có truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với họ hay không.
Yêu cầu cụ thể của việc phòng ngừa tội phạm đối với bản thân người chưa
thành niên phạm tội và đối với người khác trong xã hội.
Nguyên tắc thứ tư, khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình
phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các
biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự.
15
Những biện pháp tư pháp này gồm có giáo dục tại xã, phường, thị trấn và
đưa vào trường giáo dưỡng. Đây là những biện pháp dược Tòa án áp dụng thay
thế hình phạt để giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội trong những
trường hợp có căn cứ do pháp luật quy định.
Nguyên tắc thứ năm, không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với
người chưa thành niên phạm tội. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người
chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với
người đã thành niên phạm tội tương ứng. Không áp dụng hình phạt tiền đối với
người chưa thành niên phạm tộ ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuôi. Không
áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
Nguyên tắc thứ năm giới hạn các hình phạt áp dụng đối với người chưa
thành niên phạm tội. Trong trường hợp cần thiết, vẫn có thể phải áp dụng một
Đều không để lại hậu quả pháp lý là án tích cho người bị áp dụng.
Nội dung, căn cứ áp dụng từng biện pháp được quy định trong Điều 70 Bộ
luật hình sự, Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 và Nghị định số
52/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 của Chính phủ.
Biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Điều 1 Nghị định số 59/2000/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc thi hành
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm
tội ngày 30/10/2000 định nghĩa về biện pháp tư pháp này như sau:
“Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do Tòa án quyết định áp dụng
đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm tạo điều kiện cho người đó lao
động, học tập tại cộng đồng và chứng tỏ sự hối cải của mình trong môi trường xã
hội bình thường, dưới sự giám sát, giúp đỡ của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn, tổ chức xã hội và gia đình”.
Điều kiện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, theo quy
định của khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự bao gồm:
Đối tượng áp dụng: là người chưa thành niên phạm tội.
Tội phạm mà họ thực hiện là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trong.
Với những điều kiện như trên, thực chất chỉ những người từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi mới được áp dụng biện pháp này bởi lẽ những người từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi nếu thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm
17
trọng sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự do luật định.
Việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn được thực hiện theo cơ chế phối hợp
giữa Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người chưa thành niên phạm tội
(hoặc tổ chức xã hội) được giao giám sát, giáo dục, người được giao trách nhiệm
trực tiếp giám sát, giáo dục và gia đình người chưa thành niên phạm tội bị áp
dụng biện pháp này. Người được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục
phải lập hồ sơ theo dõi và khi kết thúc thời gian chấp hành biện pháp giáo dục,
phải bàn gian lại hồ sơ đó cho Ủy ban xã, phường, thị trấn hoặc tổ chức xã hội
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Trường giáo dưỡng có nhiệm vụ quản lý, giáo dục đạo đức, pháp luật, văn
hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp và tổ chức lao động cho học sinh phù hợp
với lứa tuổi, nhằm giúp đỡ họ học tập, rèn luyện tiến bộ, phát triển làn mạnh về
thể chất, tinh thần, trí tuệ để trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có
khả năng hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dưỡng.
Về mặt thủ tục, ngay sau khi nhận được quyết định thi hành biện pháp giáo
dưỡng của Tòa án, cơ quan Công an cùng cấp có trách nhiệm triển khai kế hoạch
phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan, chính quyền địa phương và gia đình
người phải chấp hành biện pháp giáo dưỡng để quản lý, giám át họ chặt chẽ,
đồng thời tổ chức thi hành quyết định của Tòa án. Người trực tiếp nhận người
được đưa vào trường giáo dưỡng phải kiểm tra hồ sơ, căn cước và lập biên bản
giao nhận. Hồ sơ đưa người vào trường giáo dưỡng gồm: 1) Lí lịch cá nhân; 2)
Danh bản, chỉ bản; 3) Phiếu khám sức khỏe; 4) Quyết định thi hành biện pháp
giáo dưỡng của Tòa án; 5) Văn bản của cơ quan Công an có thẩm quyền chỉ định
trường giáo dưỡng có trách nhiệm thi hành quyết định của Tòa án; 6) Các tài liệu
có liên quan đến nhaanthaan người được đưa vào trường giáo dưỡng.
Người chấp hành biên pháp giáo dưỡng được gọi là học sinh trường giáo
dưỡng. Học sinh trường giáo dưỡng phải chịu sự giám át, quản lý, giáo dục, phân
công lao động của cán bộ, giáo viên nhà trường và chấp hành nghiêm chỉnh nội
quy của nhà trường. Căn cứ vào độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, tính chất và
mức độ phạm tội, trường bố trí học sinh thành các đội, lớp. Mỗi đội, lớp phải có
cán bộ, giáo viên của nhà trường trực tiếp phụ trách.
19
Thời gian áp dụng biện pháp giáo dưỡng là từ một năm đến hai năm. Chậm
nhất là 15 ngày trước khi học sinh trường giáo dưỡng hết thời hạn chấp hành biện
pháp giáo dưỡng, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có trách nhiệm thông báo cho
Tòa án đã ra quyết định thi hành biện pháp giáo dưỡng, Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn nơi người đó cư trú và gia đình họ biết ngày ra trường. Người
chưa thành niên phạm tội sau khi hết thời hạn học tập ở trường giáo dưỡng được
phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp thành hình phạt chung. Trường hợp có tội
thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng
hợp hình phạt thực hiện theo phương pháp sau đây:
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình
phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định trong Điều 74
Bộ luật hình sự nêu trên.
Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt
chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội.
Giảm mức hình phạt và xóa án tích
Chính sách giảm mức hình phạt đã tuyên được áp dụng cả đối với người
chưa thành niên phạm tội và người đã thành niên phạm tội, tuy nhiên đối với
người chưa thành niên phạm tội thì chính sách này có nhiều ưu ái hơn nhằm động
viên các em thi hành án tốt và tạo điều kiện để các em sớm được trở lại với cuộc
sống bình thường. Điều 76 BLHS quy định người chưa thành niên bị phạt cải tạo
không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có nhiều tiến bộ và đã chấp hành được một
phần tư thời hạn, thì được Tòa án xét giảm; riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có
thể giảm đến bốn năm nhưng phải bảo đảm đã chấp hành ít nhất hai phần năm
mức hình phạt đã tuyên, trong trường hợp có lập công hoặc bị mắc bệnh hiểm
nghèo thì được xét giảm ngay và có thể được xem xét để miễn chấp hành hình
phạt còn lại. Đối với trường hợp bị phạt tiền thì Tòa án cũng có thể giảm hoặc
miễn chấp hành phần phạt tiền còn lại nếu các em bị lâm vào hòan cảnh kinh tế
đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, ốm đau hoặc có lập công lớn.
Xoá án tích là thủ tục cuối cùng của quá trình tố tụng, được áp dụng đối với
những người đã thi hành án xong, thời hạn để được xóa án tích được coi như thời
gian thử thách và người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Thời hạn để
được xóa án tích đối với người chưa thành niên là một phần hai thời hạn áp dụng
đối với người đã thành niên (nữa năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt
21
tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; một năm
rưỡi trong trường hợp hình phạt tù đến ba năm; hai năm rưỡi trong trường hợp
liên quan đến nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội
của các em là cần thiết.
Về bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội
Để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, cũng như để phục vụ cho quá trình
tố tụng hình sự, pháp luật quy định trong một số trường hợp người, cơ quan có
thẩm quyền được áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam. Tuy nhiên, đối
với người chưa thành niên phạm tội khi áp dụng các biện pháp này ngoài điều
kiện về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và loại tội phạm còn phải đảm bảo đủ
các căn cứ nêu tại các Điều 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật TTHS, đó là các
điều kiện về bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang
hoặc đang bị truy nã, tạm giữ, tạm giam, thời hạn tạm giam để điều tra.
Về thi hành án phạt tù
Theo quy định thì không được áp dụng chế độ giam giữ người chưa thành
niên như đối với người đã thành niên mà họ phải được giam giữ riêng, các chế độ
đối với người chưa thành niên cũng được ưu ái hơn, pháp luật quy định về chế độ
học văn hóa, đào tạo nghề nghiệp… để giúp các em bổ túc trình độ văn hóa, tạo
dựng nghề nghiệp đảm bảo khi ra trường các em có một nghề ổn định, điều này
cũng có ý nghĩa trong công tác phòng chống tội phạm ở tuổi vị thành niên.
23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI TẠI ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1. Thực trạng người chưa thành niên phạm tội tại địa bàn tỉnh
Quảng Trị
2.1.1. Khái quát về tỉnh Quảng Trị
Vị trí địa lý: Tỉnh Quảng Trị là tỉnh thuộc vùng có toạ độ địa lý 17010' đến
16018' vĩ độ Bắc, 106032' đến 107024' kinh độ Ðông, cách Thủ đô Hà Nội
598km. Phía Nam giáp huyện Phong Ðiền và A Lưới tỉnh Thừa Thiên- Huế; phía
Bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; từ Tây Bắc xuống phía Nam giáp 2
tỉnh Xavanakhẹt và Xaravan nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; phía Ðông
được bao bọc bởi biển Ðông với bờ biển 75 km có đảo Cồn Cỏ rộng 4km2. Diện
hội, trong đó cần xây dựng những giải pháp có tính khả thi, đồng bộ và lâu dài để
hạn chế tình trạng gia tăng người chưa thành niên phạm tội.
Theo báo cáo của Công an tỉnh Quảng Trị, từ năm 1998 đến nay, tội phạm
trong lứa tuổi chưa thành niên xảy ra 2.085 vụ với 2.644 đối tượng, tập trung
nhiều nhất ở các tội trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công
cộng. Có một số đối tượng người chưa thành niên gây án đặc biệt nghiêm trọng
như giết người, cướp, cướp giật tài sản. Các vụ phạm pháp hình sự do người
chưa thành niên gây ra tập trung ở thành phố, thị xã, thị trấn. Một số vụ các đối
tượng phạm tội không chỉ do bồng bột, thiếu suy nghĩ mà đã có sự tính toán,
chuẩn bị khá kỹ càng, tinh vi.
Theo thống kê 5 năm trở lại đây tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên
tăng nhanh. Loại tội danh trẻ em phạm pháp cao nhất là trộm cắp tài sản với
1.350 vụ, chiếm 64,75%. Công an Tỉnh cũng đã phối hợp với Tỉnh đoàn đẩy
mạnh công tác quản lý, giáo dục trẻ em hư, trẻ em làm trái pháp luật. Toàn tỉnh
hiện có 699 em trong danh sách quản lý trẻ em hư, trẻ em làm trái pháp luật với
các hành vi cướp, cưỡng đoạt tài sản, trộm cắp, lừa đảo, cố ý gây thương tích,
đánh bạc, ma túy và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Trên cơ sở đó, Công an
tỉnh và chính quyền cơ sở các cấp đã áp dụng các biện pháp quản lý giáo dục phù
hợp: đưa vào diện quản lý 18 em, lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng 4 em,
giáo dục tại xã, phường 64 em, giao cho nhà trường giáo dục 140 em, Đoàn
25