MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Mục đích nghiên cứu 6
3. Mục tiêu nghiên cứu 6
4. Đối tượng nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Tình hình nghiên cứu 7
7. Đóng góp của đề tài 7
8. Kết cấu của đề tài 8
CHƯƠNG 1 ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2009 - 2012
1.1. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo Luật đầu tư 2005 9
1.1.1. Dự án đầu tư không phải làm thủ tục đăng kí đầu tư 9
1.1.2. Dự án đầu tư phải làm thủ tục đăng kí đầu tư 10
1.1.3. Dự án đầu tư phải thực hiện thủ tục thẩm tra đầu tư 10
1.2. Các cam kết của Việt Nam về lĩnh vực đầu tư 12
1.3. Thực trạng thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư tại tỉnh Thừa Thiên Huế giai
đoạn 2009-2012 21
1.3.1. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư tại tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định
của pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế 21
1.3.2. Thực trạng thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư tại tỉnh Thừa Thiên Huế từ
năm 2009-2012 37
CHƯƠNG 2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ TẠI TỈNH THỪA THIÊN
HUẾ
2.1. Các nhân tố tác động đến hoạt động cấp giấy chứng nhận đầu tư 58
2.2. Định hướng hoàn thiện thủ tục cấp GCNĐT tại tỉnh Thừa Thiên Huế 59
2.3. Giải pháp 61
2.3.1. Về mặt lý luận 61
2.3.2. Về mặt thực tiễn 62
KẾT LUẬN
PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
IFC : International Finance Coporation- Tổ chức tài chính Quốc tế
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
CTCP : Công ty cổ phần
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 29/12/2005, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005 thay
thế Luật Doanh nghiệp năm 1999. Đồng thời ngày 29/11/2005, Luật Đầu tư cũng
được Quốc hội công bố. Sự ra đời của hai luật này đã đánh dấu một bước tiến
mới cho các Doanh nghiệp trong hoạt động đăng ký kinh doanh và hoạt động cấp
giấy chứng nhận đầu tư [1].
Đăng kí kinh doanh và xin cấp giấy chứng nhận đầu tư là các thủ tục hành
chính hợp pháp hóa sự đầu tư. Thông qua đó, Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ đầu tư trong quan hệ kinh doanh và ghi nhận
về mặt pháp lý hoạt động đầu tư của một chủ thể đầu tư.
Việc cấp giấy chứng nhận đầu tư có ý nghĩa quan trọng, giúp Nhà nước
thiết lập trật tự trong hoạt động đầu tư và tạo môi trường kinh doanh đầu tư lành
mạnh. Đây là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Thông
qua việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và giấy đăng kí kinh doanh, công tác quản
lý đầu tư đối với các nhà đầu tư được thực hiện: Các thông tin cần thiết về nhà
đầu tư được cơ quan quản lý nhà nước ghi vào giấy chứng nhận đầu tư để lưu
giữ, xác định những nhà đầu tư nào đủ điều kiện hoạt động và loại bỏ những chủ
thể không đủ tư cách pháp lý để tham gia đầu tư.
Các khách hàng hay đối tác kinh doanh muốn có quan hệ với nhà đầu tư có
thể bước đầu thông qua GCNĐT để bước đầu nắm bắt được thông tin cần thiết về
nhà đầu tư đó.
Việc cấp GCNĐT có mối liên hệ chặt chẽ với tình hình phát triển kinh tế xã
hội, định hướng phát triển, chính sách phát triển và quá trình xúc tiến đầu tư.
Thực tế cho thấy rằng, kinh tế phát triển mạnh có nghĩa là đã thu hút được nhiều
nhà đầu tư, làm tăng số lượng cấp giấy chứng nhận đầu tư. Định hướng phát
Các nhà đầu tư có hứng thú đầu tư hay không, không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố
sẵn có có của môi trường đầu tư như địa điểm, thị trường, nhân lực, nguyên liệu,…
mà còn phụ thuộc nhiều vào sự quản lý của chính quyền địa phương đó, các thiện
chí thể hiện trong ưu đãi và các quy định hợp lý, thông thoáng của thủ tục.
Việc cấp GCNĐT có ý nghĩa lớn đối với việc chứng minh tính hợp lý về
hành lang pháp lý trong thủ tục hành chính này.
5
Tuy nhiên hiện nay, mặc dù việc cấp GCNĐT có ý nghĩa quan trọng như
thế, nhưng thủ tục cấp GCNĐT mới được nêu trong Luật đầu tư 2005 và một số
văn bản quy phạm pháp luật khác. Ngoài ra thì chưa có một bài viết nào nêu lên
trình tự cụ thể các bước cần phải tiến hành và các tiểu tiết trong công việc cấp
giấy chứng nhận đầu tư, các kiến nghị giải pháp…Đặc biệt, chưa có bài viết nào
nghiên cứu trên phạm vi địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế về vấn đề quan trọng này.
Vì vậy, với ý nghĩa nêu bật trình tự pháp lý về cấp giấy chứng nhận đầu tư
tại Thừa Thiên Huế, những biện pháp hành chính nào đang được thực hiện, giống
và khác với các tỉnh thành trong cả nước và một số nước trong khu vực như thế
nào. Từ đó nhìn rõ các điểm cần khắc phục học hỏi và đưa ra giải pháp, tôi đã
thực hiện đề tài “Thực trạng về thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư tại tỉnh
Thừa Thiên Huế giai đoạn 2009-2012 và giải pháp hoàn thiện”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích chỉ ra những thực trạng về thủ tục cấp GCNĐT tại
tỉnh Thừa Thiên Huế, những điều cần phải học hỏi từ những tỉnh thành và một số
quốc gia khác trong khu vực để hoàn thiện dần thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu
tư, hướng tới môi trường pháp lý tốt hơn tại Thừa Thiên Huế, nhằm thực hiện
những định hướng phát triển kinh tế xã hội mà tỉnh đã đặt ra.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cụ thể của đề tài là góp phần thúc đẩy và hoàn thiện công tác quản
lý của Nhà nước nói chung và của tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đối với các dự
án đầu tư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Mục tiêu tổng quát là hướng tới góp
phần hoàn thiện một hành lang pháp lý công khai, minh bạch, dễ hiểu, một môi
giấy chứng nhận đầu tư, công tác quản lí nhà nước đối với công vụ này là rất cấp
thiết, nên tôi đã thực hiện đề tài này.
7. Đóng góp của đề tài
Bài viết nghiên cứu công tác quản lý của nhà nước đối với hoạt động cấp
giấy chứng nhận đầu tư tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2009-2012. Nó
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn: Đánh giá vai trò của hoạt động cấp giấy chứng
nhận đầu tư trong việc giúp tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và nhà nước nói
chung trong công tác quản lý môi trường đầu tư, giúp hình thành môi trường đầu
tư công khai minh bạch hơn; nêu lên được thực trạng hoạt động về quy trình thủ
7
tục cấp giấy chứng nhận đầu tư để thấy rõ được thực trạng quản lý và thi hành
hành chính của cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngoài ra bài viết còn
đưa thêm một số kiến nghị để hoàn thiện và đơn giản hóa hết mức có thể, tạo ra
môi trường đầu tư thuận tiện. Đề tài này có giá trị tham khảo đối với những
người muốn tìm hiểu về vấn đề cấp giấy chứng nhận đầu tư.
8. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có 2 chương:
Chương 1: Đánh giá về tình hình thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu
tư trên địa bàn tình Thừa Thiên Huế giai đoạn 2009-2012 .
Chương 2: Giải pháp hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư tại tỉnh
Thừa Thiên Huế.
8
CHƯƠNG 1
ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THỦ TỤC
CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2009 - 2012
1.1. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo Luật đầu tư 2005
Thủ tục là những trình tự, công việc cụ thể cần làm theo quy định để hoàn
thành một công việc nhất định nào đó.
Theo quy định của pháp luật hiện hành của nước ta cũng như trong nghiên
Đối với dự án đầu tư trong nước thì nhà đầu tư cần phải đăng kí đầu tư
trước khi thực hiện dự án. Khoản 3 điều 45 LĐT 2005 đã quy định cụ thể về nội
dung đăng kí đầu tư: “Tư cách pháp lý của nhà đầu tư; Mục tiêu, quy mô và địa
điểm thực hiện dự án đầu tư;Vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án;Nhu cầu sử
dụng đất và cam kết về bảo vệ môi trường;Kiến nghị ưu đãi đầu tư (nếu có)”.
“Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư thì cơ
quan nhà nước quản lí về đầu tư cấp tỉnh có nhiệm vụ cấp giấy chứng nhận đầu
tư” (Khoản 3 điều 45 LĐT).
Trường hợp dự án đầu tư nước ngoài, theo quy định tại khoản 1 điều 46
LĐT thì “Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư dưới ba
trăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì
nhà đầu tư làm thủ tục đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp
tỉnh để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư”. Vẫn để nhà đầu tư nước ngoài làm
thủ tục đăng kí đầu tư được quy định tại khoản 3 điều 46 LĐT với mục đích là để
“cơ quan nhà nước quản lí về đầu tư cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng kí đầu tư hợp lệ”. Về hồ sơ đăng
kí đầu tư thì căn cứ vào khoản 2 điều 46 LĐT, bao gồm:
“Văn bản về các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 45 của Luật này; Báo
cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư; Hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng
BCC, Điều lệ doanh nghiệp (nếu có)”.
1.1.3. Dự án đầu tư phải thực hiện thủ tục thẩm tra đầu tư
Trường hợp một số loại dự án phải thẩm tra theo quy định của pháp luật thì
10
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành thẩm tra hồ sơ dự án trước khi
tiến hành cấp giấy chứng nhận đầu tư. Nội dung chủ yếu của vấn đề này được thể
hiện qua các nội dung sau.
Về những loại dự án phải tiến hành thẩm tra
Theo quy định tại khoản 1 điều 47 LĐT thì “Đối với dự án đầu tư trong
nước, dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư từ ba trăm tỷ đồng
Việt Nam trở lên và dự án thuộc Danh mục dự án đầu tư có điều kiện thì phải
điều 48 LĐT 2005 thì nội dung thẩm tra gồm những vấn đề sau: “Sự phù hợp với
quy hoạch kết cấu hạ tầng - kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây
dựng, quy hoạch sử dụng khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác; Nhu cầu sử
dụng đất; Tiến độ thực hiện dự án; Giải pháp về môi trường”.
Đối với dự án đầu tư thuộc danh mục dự án đầu tư có điều kiện thì nội
dung thẩm tra là “những điều kiện mà nhà đầu tư phải đáp ứng”(khoản 2 điều
49 LĐT 2005).
Trường hợp dự án đầu tư có quy mô từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên thì nội
dung thẩm tra còn bao gồm các nội dung như nội dung thẩm tra đối với các dự án
có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng Việt Nam trở lên và không thuộc danh mục
dự án đầu tư có điều kiện như đã phân tích ở trên.
Thời hạn và quy trình thẩm tra đầu tư
Căn cứ vào quy định tại khoản 2 điều 47 LĐT thì: “Thời hạn thẩm tra đầu
tư không quá ba mươi ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp cần
thiết, thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá bốn mươi lăm ngày”.
Quy trình thẩm tra đầu tư được thực hiện theo quy định của chính phủ.
Cơ quan thẩm tra và cấp giấy chứng nhận đầu tư
Cơ quan có thẩm quyền thẩm tra và cấp giấy chứng nhận đầu tư là những
cơ quan nhà nước quản lí về đầu tư theo sự phân cấp của chính phủ. Những cơ
quan này phải chịu trách nhiệm về những đề xuất và quyết định của mình đối với
dự án.
1.2. Các cam kết của Việt Nam về lĩnh vực đầu tư
Thời đại ngày nay, trong bối cảnh và điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là là động lực thúc đẩy tăng
12
trưởng kinh tế và sự phát triển toàn diện của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Tính phụ
thuộc lẫn nhau về kinh tế cũng như về các lĩnh vực khác là nét phổ biến của thế
giới hiện đại. Khi trình độ khoa học phát triển nhanh với tốc độ chưa từng có và
đã vượt ra khỏi phạm vi của mỗi quốc gia, đầu tư phát triển kinh tế trở thành một
yêu cầu phát triển khách quan mang tính quy luật. Đó cũng là vấn đề trọng tâm
Trong trường hợp có sự khác biệt giữa một điều ước quốc tế mà Việt Nam
tham gia với Luật Doanh nghiệp, các quy định của điều ước quốc tế đó sẽ được
ưu tiên áp dụng.
Các ngành nghề kinh doanh được chia thành: các ngành nghề bị cấm kinh
doanh- là 16 các ngành nghề cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, bất kể hình thức
sở hữu, đều bị cấm kinh doanh vì các lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, đạo đức
xã hội, bảo vệ sức khoẻ con người, truyền thống, môi trường, bảo vệ thực vật và
các lý do khác phù hợp Hiệp định WTO; các ngành nghề kinh doanh có điều
kiện, là các ngành doanh nghiệp được phép kinh doanh nếu đáp ứng một số các
điều kiện do pháp luật quy định; các ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có vốn
pháp định; các ngành nghề kinh doanh đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề; các
ngành nghề dành riêng cho doanh nghiệp hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân;
và các ngành nghề kinh doanh khác. Đăng ký thành lập doanh nghiệp ở các
ngành nghề khác là tự động.
Các bộ ngành hữu quan, ví dụ như Bộ Công nghiệp hay Bộ Văn hóa -
Thông tin với các sản phẩm văn hóa, chịu trách nhiệm xác định xem đơn xin
thành lập doanh nghiệp có thuộc loại hình kinh doanh bị cấm hay không. Các nhà
đầu tư trong và ngoài nước có thể tham gia vào các hoạt động như xuất bản, báo
chí, công nghệ thông tin…,với điều kiện họ không kinh doanh" các sản phẩm văn
hoá mê tín, đồi truỵ và phản động" phù hợp với luật pháp hiện hành.
Các ngành nghề kinh doanh có điều kiện bao gồm: các ngành nghề không
đòi hỏi giấy phép kinh doanh nhưng cần tuân thủ các yêu cầu về môi trường, tiêu
chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn
giao thông và các yêu cầu khác và các ngành nghề cần có giấy phép kinh doanh
theo các quy định của pháp luật. Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006, sẽ
được cập nhật nếu các ngành nghề mới được bổ sung thêm hay được rút bớt.
Danh mục các ngành nghề cấm kinh doanh hay kinh doanh có điều kiện sẽ
phải tuân thủ các quy định của WTO, kể cả những nghĩa vụ theo GATS và Biểu
14
cam kết của Việt Nam.
15
hay tịch thu tài sản của nhà đầu tư (việc quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản sẽ chỉ
có thể được thực hiện vì lợi ích công cộng và sẽ được đền bù đầy đủ và công
bằng theo quy định của luật).
Ngoài ra, Việt Nam đã ký kết và tham gia một số các thỏa thuận song
phương và/hoặc đa phương về đầu tư, bao gồm các hiệp định song phương về
khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 49 quốc gia và vùng lãnh thổ, hiệp định về
tránh đánh thuế hai lần với 45 quốc gia và vùng lãnh thổ, Hiệp định khung về đầu
tư ASEAN (AIA), Công ước New York và MIGA…
Nếu một điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác với các
quy định tại Luật Đầu tư năm 2005, các quy định của điều ước quốc tế đó sẽ
được ưu tiên áp dụng.
Luật Đầu tư năm 2005 cấm các hoạt động đầu tư gây tổn hại tới an ninh và
quốc phòng, các giá trị văn hóa và lịch sử, môi trường, truyền thống và phong tục
tốt đẹp của Việt Nam. Luật cũng quy định các lĩnh vực đầu tư có điều kiện, bao
gồm: (i) các ngành nghề có tác động đến an ninh và quốc phòng, trật tự và an
toàn xã hội; (ii) ngân hàng và tài chính; (iii) các ngành nghề có ảnh hưởng tới sức
khỏe người dân; (iv) văn hóa, thông tin, báo chí và xuất bản: (v) dịch vụ giải trí;
(vi) bất động sản; (vii) khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, và khai thác tài nguyên thiên
nhiên; (viii) giáo dục và đào tạo; và (ix) một số ngành nghề khác theo quy định
của luật.
Đầu tư vào một số ngành nghề nhất định không chịu sự điều chỉnh của Luật
Đầu tư mà chịu sự điều chỉnh của các luật quy định hoạt động đầu tư trong các
ngành nghề cụ thể đó: Luật các Tổ chức Tín dụng đối với lĩnh vực ngân hàng,
Luật Kinh doanh Bảo hiểm đối với lĩnh vực bảo hiểm, Luật Chứng khoán đối với
kinh doanh chứng khoán, và Luật về Luật sư đối với lĩnh vực dịch vụ pháp lý.
Luật Đầu tư năm 2005 được áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư trong nước
và nước ngoài và đảm bảo quyền tự chủ của nhà đầu tư trong hoạt động kinh
doanh. Nhà đầu tư nước ngoài được tự do lựa chọn (các) lĩnh vực mà mình mong
muốn đầu tư, hình thức đầu tư, các biện pháp huy động vốn, vị trí địa lý và quy
khoảng từ 15 tới 300 tỷ đồng và không nằm trong danh mục đầu tư có điều kiện,
và dự án đầu tư nước ngoài có giá trị dưới 300 tỷ đồng và không nằm trong danh
mục đầu tư có điều kiện. Trong trường hợp thứ nhất, sẽ không cần cấp giấy
chứng nhận đầu tư; trong trường hợp thứ hai, giấy chứng nhận đầu tư sẽ được
17
cấp trong vòng 15 ngày.
Thẩm tra đầu tư là cần thiết với cả dự án đầu tư trong nước và nước ngoài
có giá trị từ 300 tỷ đồng trở lên, và các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài
trong các lĩnh vực có điều kiện. Công tác thẩm tra tập trung vào i) sự phù hợp với
quy hoạch kết cấu hạ tầng-kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng,
và quy hoạch sử dụng khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác, ii) sự phù hợp
với các quy định về sử dụng đất, iii) tiến độ thực hiện dự án, và iv) các điều kiện
môi trường. Công tác thẩm tra được tiến hành trong vòng 30 ngày, trong trường
hợp cần thiết có kể kéo dài tới 45 ngày. Thủ tục và tiêu chí thẩm tra với "các dự
án đầu tư quan trọng quốc gia" sẽ do Quốc hội quyết định theo từng trường hợp
cụ thể (Điều 47).
Theo Nghị quyết số 15/1997/QH10 ngày 29/11/1997, "các dự án đầu tư
quan trọng quốc gia" bao gồm (a) dự án có vốn đầu tư từ 10.000 tỷ đồng trở lên
(ở mức giá năm 1997); (b) dự án có tác động lớn hoặc có tiềm năng có tác động
lớn tới môi trường; (c) dự án dẫn tới việc di dời từ 50.000 người trở lên ở các khu
vực đông dân cư, hoặc từ 20.000 người trở lên ở khu vực miền núi và các địa bàn
dân tộc thiểu số; (d) dự án ở các địa bàn có tầm quan trọng đặc biệt với an ninh
và quốc phòng hoặc có các di tích văn hóa và lịch sử hay có các nguồn tài
nguyên đặc biệt; và (e) dự án đòi hỏi phải có các cơ chế hay chính sách đặc biệt
cần được Quốc hội xem xét và quyết định.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày
22/09/2006 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được phép thay đổi hình thức đầu tư và chia, tách, hợp nhất hoặc sát
nhập với các doanh nghiệp khác. Các liên doanh hiện đang hoạt động có thể
được phép chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với một số điều
chức kinh tế nhà nước từ 30% trở lên mới là đối tượng áp dụng của Quy chế đấu
thầu. Các dự án tư nhân do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài thành lập thì
không phải đấu thầu công khai. Quy định của Việt Nam về đấu thầu không có bất
kỳ điều khoản nào mang tính phân biệt đối xử và bổ sung rằng việc thanh tra các
công trình xây dựng là nhằm đảm bảo chất lượng công trình phù hợp với tiêu
chuẩn xây dựng của Việt Nam.
Luật Đất đai (sửa đổi) ngày 26/11/2003 quy định các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài được phép thế chấp tài sản gắn liền với đất và giá trị quyền sử
19
dụng đất để bảo đảm vay vốn tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại
Việt Nam. Luật cũng quy định rằng Ủy ban Nhân dân tỉnh và bên Việt Nam phải
chịu trách nhiệm xác lập các thủ tục rõ ràng liên quan đến quyền sử dụng đất và
trong trường hợp cần thiết thì phải thực hiện đền bù. Các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài được phép thuê đất để thực hiện dự án đầu tư. Theo Điều 67
của Luật Đất đai (sửa đổi), thời hạn cho thuê thông thường không vượt quá 50
năm. Tuy nhiên, hợp đồng cho thuê có thể được gia hạn sau khi kết thúc thời hạn
cho thuê ban đầu. Đối với các dự án có vốn đầu tư lớn, lâu thu hồi vốn hoặc được
thực hiện tại các địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn thì Chính phủ có
thể cho thuê đất tối đa là 70 năm. Các quy định về thuê đất của Việt Nam được
áp dụng như vậy không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước
và nước ngoài, không cản trở các hoạt động kinh doanh.
Về lĩnh vực khai khoáng, trong đó có vấn đề trách nhiệm quản lý chồng
chéo giữa chính quyền trung ương và cấp tỉnh, cũng như việc cấp giấy phép đầu
tư ở giai đoạn khai thác chứ không phải ở giai đoạn thăm dò theo đúng thông lệ
quốc tế. Kể từ khi Nghị định 76/2000/NĐ-CP 22 ra đời ngày 15/12/2000, giấy phép
đầu tư cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh có thể được
cấp ngay ở giai đoạn thăm dò, cũng như cho các hoạt động khai thác và chế biến.
Ngày 14/6/2005, Việt Nam đã thông qua Luật Sửa đổi, Bổ sung một số điều của
Luật Khoáng sản ngày 20/3/1996. Luật Khoáng sản mới không có quy định không
cấp giấy phép đầu tư vào giai đoạn này. Theo Luật Đầu tư mới, khai khoáng là một
bộ phận trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.
Những cam kết này của Việt Nam đã mở rộng hành lang pháp lý đối với
các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, làm tăng số
lượng nhà đầu tư, tăng số lượng cấp giấy phép đầu tư.
1.3. Thực trạng thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư tại tỉnh Thừa
Thiên Huế giai đoạn 2009-2012
1.3.1. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư tại tỉnh Thừa Thiên Huế theo
quy định của pháp luật hiện hành và các cam kết quốc tế
Là một trong những tỉnh thành nghiêm túc chấp hành các quy định pháp
luật, căn cứ vào Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư 2005 cùng các văn bản pháp
luật khác, tỉnh Thừa Thiên Huế đã cụ thể hóa các quy trình thực hiện thủ tục cấp
21
giấy chứng nhận đầu tư như sau:
Khi tiến hành thủ tục đăng kí đầu tư, nhà đầu tư làm bản đăng ký/đề
nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư - theo mẫu I-3 và hướng dẫn cách ghi các mẫu
văn bản theo phụ lục IV.1 của Quyết định 1088/2006/QĐ-BKH ngày 21/9/2006
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư do nhà
đầu tư lập và chịu trách nhiệm (nội dung báo cáo phải thể hiện rõ nguồn vốn đầu
tư, nhà đầu tư có đủ khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư); Dự thảo Điều
lệ Công ty tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp (Công ty TNHH 1 thành
viên, Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Công ty Cổ phần, Công ty Hợp danh).
Dự thảo Điều lệ công ty phải có đầy đủ chữ ký (và được ký từng trang) của chủ
sở hữu công ty, người đại diện theo pháp luật của công ty đối với công ty TNHH
1 thành viên; của người đại diện theo pháp luật, của các thành viên hoặc người
đại diện theo uỷ quyền đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên; của người đại
diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo uỷ quyền
của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần; Danh sách thành viên tương ứng
với từng loại hình doanh nghiệp – theo mẫu I-8 hoặc I-9 của Quyết định
1088/2006/QĐ-BKH ngày 21/9/2006 hoặc mẫu II-4 của Thông tư 03/2006/TT-
BKH ngày 19/10/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Văn bản xác nhận tư cách
hướng dẫn một số điều Luật đầu tư.
Cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định: UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trình tự thực hiện như sau: Đầu tiên, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp chuẩn
bị đầy đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật. Sau đó Cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp nộp hồ sơ tại Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế (20
Nguyễn Huệ, thành phố Huế).
Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế tiếp nhận và kiểm
tra tính pháp lý của hồ sơ. Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ thì viết giấy hẹn cho người
nộp. Nếu hồ sơ không hợp lệ thì hướng dẫn cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoàn
thiện hồ sơ theo quy định. Kế đó, ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thừa
Thiên Huế giải quyết và chuyển kết quả đến Văn phòng UBND tỉnh Thừa Thiên
Huế. Văn phòng UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tiếp nhận hồ sơ, chuyển đến người
có thẩm quyền giải quyết và trả kết quả về Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh
Thừa Thiên Huế. Cuối cùng, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nhận kết quả tại Ban
23
quản lý các Khu công nghiệp Thừa Thiên Huế.
Về cách thức thực hiện: có thể nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả theo cơ chế một cửa của Văn phòng UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
hoặc qua đường bưu chính.
Thành phần hồ sơ, bao gồm: 01 bộ gồm Tờ trình của Ban quản lý các Khu
công nghiệp về việc xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư (Hồ sơ Ban quản lý các Khu
công nghiệp thẩm định và lưu tại Ban).
Sau 05 ngày làm việc (kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ), hồ sơ sẽ trả cho
nhà đầu tư.
Thủ tục thẩm định cấp Giấy chứng nhận đầu tư thực hiện dự án không
gắn với thành lập doanh nghiệp
Trình tự thực hiện thủ tục: Căn cứ Luật Đầu tư , Nghị định số 108/2006/NĐ-
CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Đầu tư, Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng
11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, Nghị định số
sơ hợp lệ đối với dự án không thuộc diện thẩm tra; 25 ngày làm việc đối với dự
án thuộc diện thẩm tra.
Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Nhà đầu tư (tổ chức/cá nhân)
Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính bao gồm: Cơ quan có thẩm quyền
quyết định: Ủy ban nhân dân tỉnh; Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Sở Kế
hoạch và Đầu tư, Cơ quan phối hợp (nếu có): Các sở Xây dựng, Công thương,
Tài nguyên và môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các sở, ngành
khác đối với dự án liên quan đến chuyên ngành (Đối với dự án đầu tư thuộc diện
thẩm tra).
Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy chứng nhận đầu tư
Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Mẫu đơn, tờ khai theo quy định của Quyết định
số 1088/2006/QĐ-BKH ngày 19/10/2006 về việc ban hành các mẫu văn bản thực
hiện thủ tục đầu tại Việt Nam (xem mẫu Giấy đăng ký/đề nghị cấp Giấy chứng
nhận đầu tư tại Phụ lục I-1).
Thủ tục thẩm định điều chỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối với
trường hợp không gắn với thành lập doanh nghiệp hoặc chi nhánh
25