Tình hình sản xuất và thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2008- 2011 - Pdf 13

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mạị trên toàn thế giới thì trong
thời gian vừa qua nước ta cũng đã có những thay đổi tích cực và đạt được nhiều thành
tựu trên mọi khía cạnh, nhất là sau khi gia nhập khối ASEAN, AFTA, ký kết hiệp
định thương mại Việt – Mỹ và việc gia nhập WTO đã mở nhiều cơ hội phát huy lợi thế
so sánh, tháo gỡ hạn chế về thị trường xuất khẩu, tạo lập môi trường thương mại mới
nhằm trao đổi hàng hóa – dịch vụ, kỹ thuật và thông tin.
Như chúng ta đã biết thì Việt Nam là một nước nằm trong vành đai khí hậu
nhiệt đới ẩm gió mùa, đất đai màu mỡ phì nhiêu được bồi đắp bởi lượng phù sa từ hệ
thống sông ngòi dày đặc. Hơn thế nữa sự cần cù chịu khó của người dân làm cho việc
sản xuất nông sản phong phú và có giá trị ngày một đi lên, trong đó sản xuất lúa gạo
chiếm phần lớn. Nổi tiếng ở nước ta là hai vựa thóc lớn nhất đó là Đồng bằng Sông
Cửu Long và Đồng bằng Sông Hồng. Nhờ những điều kiện thuận lợi trên mà vị thế
của Việt Nam đã được nâng lên sánh vai cùng các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế
giới. Sản lượng cũng như giá cả gạo ở Việt Nam được xuất khẩu ra thế giới hàng năm
tăng lên rõ rệt. Năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu gần 6,7 triệu tấn gạo, tiếp tục giữ vị
trí thứ hai thế giới sau Thái Lan (nước xuất khẩu khoảng 9,03 triệu tấn), và năm 2011
đạt hơn 7 triệu tấn.
Tuy nhiên, do những yếu tố khách quan và chủ quan, thực tiễn tại Việt Nam
trong thời gian qua cho thấy tình hình biến động giá cả và xuất khẩu gạo ở nước ta vẫn
còn nhiều bất cập và tồn tại nhiều vấn đề bức xúc, tuy lượng gạo của nước ta xuất
khẩu ra thế giới với sản lượng lớn nhưng giá cả lại thua các nước như Thái Lan và Ấn
Độ bởi nước ta vẫn chú trọng đến năng xuất mà ít quan tâm đến chất lượng gạo. Mặt
khác, trong việc điều hành xuất khẩu tồn tại một số bất cập như dấu hiệu đầu cơ làm
giá gạo trong nước tăng lên, người tiêu dùng tiếp tục chịu thiệt.
Từ những vấn đề trên, nhóm chúng tôi chọn chủ đề “Tình hình sản xuất và thị
trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2008- 2011” làm đề tài nghiên cứu và
đề ra một số giải pháp đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong thời gian tới.
1
1
PHẦN II: NỘI DUNG

2.1. Tình hình tiêu thụ gạo của thế giới
Theo đánh giá chung của tổ chức Nông Lương của Liên Hợp Quốc (FAO), số
liệu mới nhất về bình quân tiêu thụ gạo của thế giới là 57 kg/người/năm. Brunei đang
đứng đầu thế giới về tiêu thụ gạo tính theo bình quân đầu người, với 245
kg/người/năm. Việt Nam giữ vị trí lớn thứ hai với 166 kg/người/năm còn Lào đứng
thứ 3 với 163 kg/người. Bangladesh cũng là một nước tiêu thụ gạo lớn, đứng thứ 4 với
160 kg/người. Vị trí tiếp theo thuộc về Myanmar và Campuchia với mức tiêu thụ bình
quân mỗi người 157 kg và 152 kg/năm. Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế
giới giữ vị trí thứ 9 về tiêu thụ tính theo đầu người với 103 kg/người. Hàn Quốc là
nước tiêu thụ gạo nhiều thứ 20 thế giới, với 76 kg/người/năm.
Từ đó có thể nhận thấy, Châu Á là khu vực đông dân và có mức tiêu thụ gạo
nhiều nhất, chiếm 90% sản lượng tiêu thụ trên thế giới. Đặc biệt là khối ASEAN với
lượng gạo tiêu thụ bình quân đầu người gấp hơn 2,5 lần thế giới. Trung bình một năm,
1 người dân ASEAN tiêu thụ 164 kg gạo, trong khi trung bình thế giới mỗi người tiêu
thụ 57 kg gạo/năm. Trung Quốc và Ấn Độ chiếm hơn một nửa tổng tiêu thụ gạo toàn
cầu, nhưng lại không nằm trong top 10 nước tiêu thụ bình quân theo đầu người nhiều
nhất. Trong khi đó, các khu vực như châu Mỹ, châu Phi, Trung Đông, EU có tỷ trọng
tiêu thụ gạo còn tương đối thấp.
Bảng 1.1: Sản lượng gạo tiêu thụ trên thế giới theo nước
Đơn vị: 1000 tấn
Nguồn : FAS, USDA
3
3
2.2. Tình hình xuất – nhập khẩu gạo của thế giới
2.2.1. Tình hình nhập khẩu gạo trên thế giới
Trong năm 2011, lượng gạo giao dịch thương mại trên thế giới lên 8% đạt con
số kỹ lục 34,5 triệu so với 31,5 triệu tấn năm 2010. Tất cả các nơi ngoại trừ Nam Mỹ
đều có nhu cầu mua gạo tăng như ở châu Á (Bangladesh, Trung Quốc và Indonesia) và
châu Phi (Ai Cập, Ghana, Nigeria, Senegal). Những nước xuất khẩu tăng bao gồm Ấn
Độ, Thái Lan, đạt kỹ lục có Argentina, Brazil và Việt Nam. Trái lại xuất khẩu gạo của

châu Phi cận Sahara và các Trung Đông.
Năm 2010 và năm 2011, giá gạo thế giới vẫn duy trì ở mức gần 500USD/tấn và
trong 1 năm vừa qua thì không có sự thay đổi đáng kể nào. Nguyên nhân chính là do
sản lượng gạo niên vụ 2010/11 khá cao và một lượng lớn trong đó không được giao
dịch trên thị trường quốc tế mà được đưa vào tiêu dùng nội bộ tại một số thị trường lớn
như Trung Quốc. Và giá gạo thế giới bắt đầu giảm do nguồn cung cấp dồi dào từ các
nước xuất khẩu lớn. Chính điều này đã làm cho mặt hàng gạo ít nhạy cảm với biến
động về giá trong khi giá ngô và lúa mì lại tăng mạnh.
6
6
Biểu đồ 1: Giá gạo thế giới trung bình hàng tháng
từ tháng 1/2007 đến tháng 4/2011
Nguồn : FAO
Mặc dù đã có dấu hiệu cho thấy giá gạo trên thị trường bình ổn, nhưng triển
vọng giá gạo vẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khó xác định như diễn biến chính trị ở
Trung Đông, nhu cầu và chính sách nhập khẩu của các nước Châu Phi… Mặt khác,
nhu cầu nhập khẩu có xu hướng giảm đi từ nhiều nước nhập khẩu chính như
Indonesia, Philippin, Iran… là những yếu tố làm cản trở giá gạo tăng trở lại trong
tương lai.
2.4. Dự báo triển vọng tiêu thụ gạo của thế giới
2.4.1. Triển vọng tiêu thụ
Theo dự báo của FAO, lượng tiêu thụ gạo bình quân trên đầu người năm 2012
vẫn giữ ở mức ổn định, với những nổ lực nhằm kìm hãm giá cả leo thang của chính
phủ các nước. Tổ chức FAO cũng cho biết dự báo sản lượng gạo thế giới năm 2012 sẽ
vào khoảng 469 triệu tấn, trong đó 398 triệu tấn được dùng làm thực phẩm, tăng mức
tiêu thụ gạo trên đầu người lên 58kg/người.
7
7
Cũng theo tính toán của FAO, với tốc độ gia tăng dân số thế giới rất nhanh
lượng gạo 524 triệu tấn sản xuất được mỗi năm hiện nay phải tăng lên 700 triệu tấn

đầu thế giới
10 nước XK gạo
hàng đầu thế giới
(triệu tấn)
Xuất khẩu Dự đoán 10 nước NK gạo
hàng đầu thế giới
(triệu tấn)
Nhập
khẩu
khẩu
Dự
đoán
(2011) (2012) (2011) (2012)
1. Thái Lan 10,64 6,50 1. Indonesia 3,09 1,25
2. Việt Nam 7,00 7,00 2. Nigeria 2,55 2,45
3. Ấn Độ 4,63 8,00 3. Iran 1,87 1,90
4. Pakistan 3,41 3,75 4. Bangladesh 1,48 0,40
5. Brazil 1,29 0,90 5. EU-27 1,47 1,40
6. Campuchia 0,86 0,80 6. Philippines 1,20 1,50
7. Uruguay 0,84 0,85 7. Malaysia 1,07 1,08
8. Myanmar 0,77 0,60 8. Arập Xêút 1,05 1,15
9. Argentina 0,73 0,65 9. Iraq 1,03 1,20
10.Trung Quốc 0,48 0,50 10. Bờ Biển Ngà 0,93 0,95
Nguồn: USDA, FAO
9
9
3. Sự cần thiết phải xuất khẩu gạo của Việt Nam
3.1. Lợi thế so sánh của Việt Nam trong sản xuất và xuất khẩu gạo
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
• Điều kiện đất đai : Tổng diện tích tự nhiên cả nước có trên 33,1 triệu ha, trong đó đất

và có thể hành trình theo tất cả các tuyến đi Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Thái Bình
Dương, Trung Cận Đông, Châu Âu, Châu Mỹ.
Tóm lại, Việt Nam có nhiều lợi thế cơ bản trong sản xuất và xuất khẩu gạo.
3.2. Sự cần thiết phải xuất khẩu gạo của Việt Nam
Xuất phát từ những lợi thế so sánh về tiềm năng trong sản xuất và phát triển sản
xuất lúa gạo của Việt Nam, nước ta cần phải đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nhằm
khai thác tối đa lợi thế đó, đem lại lợi ích cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước,
cụ thể:
• Tích luỹ vốn cho sự nghiệp đổi mới của đất nước
Hoạt động xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn, giải quyết vốn cho quá
trình phát triển kinh tế, góp phần đáp ứng mục tiêu chủ yếu của sự nghiệp đổi mới của
Đảng và Nhà nước ta hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
• Cải thiện đời sống, giải quyết việc làm cho nhân dân
Dân số nước ta với 80% dân số tập trung ở nông thôn, phần lớn sinh sống bằng
sản xuất lúa gạo và trồng cây lương thực nên việc sản xuất và xuất khẩu gạo để nâng
cao thu nhập, cải thiện đời sống và giải quyết việc làm cho người dân là vô cùng cần
thiết.
• Phát huy lợi thế trong nước
Sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam có những lợi thế cơ bản như lợi thế về
đất đai, khí hậu, nước tưới tiêu, nguồn nhân lực, vị trí địa lý và cảng khẩu. Một chiến
lược đúng đắn nhất phải là chiến lược khai thác triệt để nhất các lợi thế. Chính những
lợi thế đó đã làm cho sản lượng lúa tăng đều đặn trong những năm qua.
Qua những điều cơ bản đã nêu ở trên, chúng ta thấy rõ sự cần thiết phải xuất
khẩu gạo cũng như tính đúng đắn của định hướng xuất khẩu gạo là điều tất yếu.
11
11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ THỊ TRƯỜNG
XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2008 -2011.
1. Tình hình sản xuất trong nước
1.1. Tình hình và triển vọng sản xuất

hộ ở khu vực nông thôn. Tuy nhiên, do đặc điểm của sản xuất phân bố rộng, qui mô
nhỏ và yêu cầu đảm bảo tiêu dùng lương thực trong các hộ gia đình, nên tỷ lệ số hộ có
bán lúa chỉ chiếm khoảng 60%. Nếu xét theo vùng sản xuất, thì ĐBSCL có tỷ lệ số hộ
bán lúa chiếm khoảng 76% (cao nhất trong cả nước).
Bảng 2.2: Sản lượng lúa phân theo khu vực giai đoạn 2008_2011
Đơn vị: 1000 tấn
Năm 2008 2009 2010 2011
Cả nước 38729.8 38950.2 40005.6 42324.9
ĐBSH 6790.2 6796.8 6805.4 6979.2
Trung du và miền
núi phía bắc
2903.9 3053.6 3087.8 3225.0
Bắc Trung Bộ và
DHMT
6114.9 6243.2 6152.0 6515.6
Tây nguyên 935.2 999.1 1042.1 1056.3
Đông Nam Bộ 1316.1 1334.3 1322.7 1362.5
ĐBSCL
20669.5 20523.2 21595.6 23186.3
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê
13
13
Qua bảng trên ta thấy, sản lượng lúa của Việt Nam tăng đều qua các năm.
Trong giai đoạn này, sản lượng lúa tăng 9,3%, trong đó Đồng bằng Sông Cửu Long
chiếm sản lượng lớn nhất 23186,3 nghìn tấn, chiếm hơn 50% sản lượng lúa của cả
nước năm 2011.
Sản lượng lúa không những đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn
xuất khẩu ra thị trường thế giới. Năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu gần 6,7 triệu tấn
gạo và năm 2011 có thể sẽ đạt hơn 7 năm triệu tấn. Giai đoạn 2008-2011 là thời kỳ
xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam tăng trưởng rất mạnh cả về giá cả và sản lượng.

lương thực quốc gia cũng như đẩy mạnh xuất khẩu gạo trên thị trường trong khu vực
và thế giới.
Ngoài ra, do quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá diễn ra nhanh chóng ở
nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới làm cho diện tích đất canh tác bị thu hẹp,
điển hình như ở Ấn Độ, Philipins từng là những nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới
cũng trở thành nước nhập khẩu gạo. Nguồn cung trên thế giới bị thu hẹp đã tạo cơ hội
cho ngành xuất khẩu gạo Việt Nam phát triển.
2.2. Kim ngạch xuất khẩu
Trong nhiều năm qua, giá trị hạt gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới được
nâng cao. Giá gạo được cải thiện và có xu hướng tăng qua các năm, dẫn đến kim
ngạch xuất khẩu gạo cũng có xu hướng tăng theo.
Sản lượng xuất khẩu và giá xuất khẩu bình quân có xu hướng tăng giảm trái
ngược nhau. Khối lượng tăng thì giá giảm, giá tăng thì khối lượng giảm. Trong khi đó
kim ngạch xuất khẩu gạo lại phụ thuộc vào hai yếu tố trên, dẫn đến kim ngạch xuất
khẩu trong từng năm không thể tăng cao do luôn chịu sự ảnh hưởng từ sự sụt giảm của
một trong hai yếu tố đó. Chỉ riêng năm 2008, vừa đạt mức tăng về khối lượng và giá
xuất khẩu nên trong năm này kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh.
15
15
Bảng 2.4 Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam từ 2008 - 2011
Năm
Kim ngạch xuất
khẩu( triệu USD)
Chênh lệch
+/- %
2008 2.910 - -
2009 2.463 -447 -15,36
2010 3.000 537 21,80
2011 4.000 1000 19,30
Nguồn: Tổng Cuc Thống Kê

năm là Indonesia và Bangladesh dẫn dắt thị trường, và nửa cuối năm lại là Philippines.
Như vậy, trong vòng 3 năm trở lại đây, xuất khẩu gạo đã đạt mức kỷ lục liên tiếp về số
lượng và trị giá.
Bảng 2.5: Thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam
Thị trường xuất khẩu Khôi lượng( tấn) Kim ngạch( USD)
Philippines 1.707.994 917.129.956
Malaysia 613.213 272.193.107
Cuba 449.950 191.035.678
Singapore 327.533 133.594.368
Đài Loan 204.959 81.616.149
Iraq 171.000 68.947.000
Nga 84.646 37.089.136
Hồng Kông 44.599 20.214.664
Nam Phi 37.253 16.367.271
Ucraina 37.562 15.748.969

Trung Quốc là một trong những thị trường mới nổi của Việt Nam. Thực tế lâu
nay thị trường Trung Quốc luôn bị nhìn nhận là không quan trọng đối với các nhà xuất
khẩu gạo Việt Nam. Xu thế này chỉ bắt đầu thay đổi kể từ giữa năm 2010 khi Trung
Quốc tăng nhập khẩu gạo của Việt Nam, năm 2009 sản lượng nhập khẩu gạo là
224466 tấn nhưng đến năm 2010 con số này đã tăng lên 309000 tấn tăng 37,7% và đến
năm 2011 sản lượng nhập khẩu tăng 600000 tấn (tăng 94%). Như vậy, nhu cầu nhập
khẩu gạo của Trung Quốc liên tục tăng trưởng bền vững qua ba năm và có nhiều khả
năng là một thị trường quan trọng cho xuất khẩu gạo Việt Nam trong tương lai.
17
17
Biểu đồ 2.1: Xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Trung Quốc từ mùa vụ
2009 đến 3 tháng đầu mùa vụ 2011
Đơn vị: Tấn
Nguồn: Tổng Cục Hải quan Việt Nam

47,77% về giá trị, Cuba giảm 42,22%.
Bảng2.6 : Chênh lệch kim ngạch xuất khẩu năm 2010 so với năm 2009
Thị trường xuất
khẩu
Khối lượng (tấn) Kim ngạch
(USD)
Chênh lệch kim ngạch
so với năm 2009(%)
Philippines 1.278.759 819.989.741 -3,42
Singapore 339.046 138.864.526 110,59
Đài loan 288.874 111.491.086 213,36
Maylaisia 181.181 81.578.665 -47,77
Cuba 148.400 66.326.176 -42,22
Hồng kông 71.077 31.286.701 281,19
Nga 30.941 13.384.939 -30,76
Indonesia 16.545 10.023.520 45,61
Nam phi 17.031 6.893.452 -48,69
Ucraina 8.259 3.809.423 -62,24
Năm 2010, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo ở hầu hết các thị trường
đều giảm. Chỉ có Singapre, Đài Loan, Hồng Kông là tăng mạnh.
- Năm 2011: Châu Á hiện vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt
Nam (chiếm 67,8% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo), tiếp đến là thị trường châu Phi
(24,16%), châu Mỹ (5,12%) Indonesia là thị trường xuất khẩu gạo chủ chốt của Việt
Nam trong năm 2011, ngoài ra có Malaysia, Philippines, Ấn Độ, …
19
19
- Dự báo xuất khẩu gạo Việt Nam trong thời gian tới: Kết thúc năm 2011,
ngành lúa gạo Việt Nam đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc chiếm lĩnh thị
trường gạo thế giới với sản lượng gạo xuất khẩu đạt trên 7 triệu tấn, đứng thứ 2 trên
thế giới chỉ sau Thái Lan(8,5 triệu tấn). Dự báo năm 2012 sản lượng xuất khẩu gạo

kém do lẫn tạp nhiều giống khác nhau. Ngoài ra, gạo xuất khẩu của chúng ta phần lớn
là gạo trắng phẩm cấp trung bình, ít gạo thơm và chưa nhiều dạng gạo đồ (parboiled
rice), hay nếp. Trong lúc Thái Lan xuất khẩu rất đa dạng sản phẩm và có thương hiệu
riêng.
3.2. Yếu tố mùa vụ trong xuất khẩu gạo Việt Nam
Yếu tố mùa vụ ảnh hưởng nhiều đến lượng cung xuất khẩu gạo ra thị trường thế
giới. Do tính mùa vụ của sản xuất lúa, nên xuất khẩu gạo cũng mang đậm tính mùa vụ.
Ở Việt Nam, thời điểm từ tháng 4 đến tháng 9 là khoảng thời gian xuất khẩu gạo chủ
yếu (cùng với thời điểm thu hoạch Đông Xuân và Hè Thu) còn khoảng thời gian tháng
1, tháng 2 là thời điểm xuất khẩu gạo thấp nhất của Việt Nam.
3.3. Giá cả
Trước đây, chi phí sản xuất lúa ở Việt Nam có lợi thế hơn nhiều so với Thái
Lan: chi phí lao động bằng 1/3, tỷ lệ diện tích được tưới gấp 2 lần, hệ số quay vòng đất
gấp 1,33 lần, năng suất gấp 1,5 lần, các chỉ tiêu liên quan về giá vật tư đầu vào bằng
50% - 80% chi phí của Thái Lan. Tuy nhiên, hiện nay lợi thế về giá gạo xuất khẩu của
Việt Nam đang dần mất đi, khi giá các loại chi phí đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu
gạo đang có chiều hướng gia tăng. Chi phí cho sản xuất (xăng dầu, điện, phân bón…),
phí cho dịch vụ xuất khẩu gạo đang góp phần đội giá gạo Việt Nam lên cao hơn so với
thực tế.
Chênh lệch giữa giá gạo trong nước và giá gạo tại cảng lại khá lớn do chi phí
dịch vụ xuất khẩu gạo của Việt Nam cao. Điều đó xuất phát từ sự yếu kém của hệ
thống cơ sở hạ tầng, vận tải, bốc dỡ. Chi phí bốc dỡ xếp hàng và chi phí tại cảng Sài
Gòn cao khoảng 40.000USD/ tàu (công suất 10.000 tấn) chiếm 1,6% giá xuất khẩu, ở
Thái Lan chi phí này bằng 1/2 Việt Nam, tốc độ bốc dỡ chậm so với Thái Lan 6 lần,
21
21
làm tốn thêm 6000/ngày. Mặt khác, theo kết qủa điều tra Viện Công nghệ sau thu
hoạch và tổng cục thống kê 2008 cho thấy tổn thất sau thu hoạch ở nước ta cao: ở khâu
thu hoạch là 1,3 – 1,7%, vận chuyển là 1,2 –1,5%, đập tuốt là 1,4 – 1,8%, phơi sấy là
1,9 – 2,1%, bảo quản 3,0 – 3,4%, xay xát chế biến là 4,1 –4,5%. Mặt khác, tổng tổn

nghiệp.
3.6. Kiểm tra chất lượng trước khi xuất khẩu
Cơ quan kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu (đối với các sản phẩm nông nghiệp
và phi nông nghiệp) quan trọng nhất ở Việt Nam hiện nay là VINACONTROL. Đối
với mặt hàng gạo xuất khẩu, VINACONTROL kiểm tra tới 95% tổng lượng gạo xuất
khẩu của Việt Nam. Quy trình kiểm tra của VINACONTROL gồm 3 bước:
(1) Kiểm tra chất lượng gạo trong kho của nhà xuất khẩu;
(2) Kiểm tra chất lượng gạo tại nơi xếp hàng chờ xuất khẩu;
(3) Kiểm tra chất lượng gạo trước khi giao hàng.
3.7. Vận chuyển tàu biển
Vận chuyển gạo xuất khẩu là dịch vụ có giá cao ở Việt Nam do năng lực bốc
xếp và vận tải thấp, thiết bị cảng lạc hậu, lệ phí cảng cao… Phần lớn các doanh nghiệp
xuất khẩu sử dụng phương thức xuất khẩu FOB (sử dụng tàu vận tải nước ngoài) do
năng lực vận tải thấp, chỉ có những lô hàng xuất khẩu theo ký kết của Chính phủ mới
sử dụng tàu của các công ty tàu biển trong nước.
Trong số các cảng biển của Việt Nam thì lượng gạo xuất khẩu thông qua cảng
Sài Gòn chiếm tới 70%. Điều này không chỉ xuất phát từ vị trí gần gũi của cảng với
nguồn hàng xuất khẩu chính, mà còn từ mức cước phí vận tải biển từ cảng Sài Gòn
thường thấp hơn cảng Hải Phòng và cảng Đà Nẵng.
3.8. Hoạt động tiếp cận thị trường
Hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đang tăng cường, chủ động
tìm kiếm, mở rộng thị trường nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của mình, quảng bá
sản phẩm ra thị trường thế giới.
Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam đang ngày càng mở rộng: Trung Quốc,
Philippines, Indonesia, Malaysia và Bangladesh và các nước Châu Phi.
Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu ra thế giới 7,35 triệu tấn gạo mang về khoảng
3,5 tỉ USD, trong đó xuất khẩu gạo sang châu Phi đạt kim ngạch 745,4 triệu USD
23
23
chiếm 21% tổng giá trị xuất khẩu các loại hàng hóa của Việt Nam sang châu Phi và

- Việt Nam đã trở thành một thế lực chủ yếu trên thị trường gạo thế giới.
- Sản xuất và xuất khẩu gạo là một trong những hướng ưu tiên phát triển của
Chính Phủ không chỉ xuất phát từ chính sách an ninh lương thực quốc gia mà còn là
mặt hàng xuất khẩu có lợi thế của Việt Nam hiện nay.
- Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của cây lúa.
- Chính sách cơ cấu lại giống lúa đang được quan tâm hơn và bước đầu đã
đem lại hiệu qủa, nâng cao năng suất lúa.
- Bên cạnh các doanh nghiệp Nhà nước, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã tham
gia vào thị trường sản xuất, chế biến, xuất khẩu gạo và đã có kinh nghiệm xuất khẩu
gạo.
4.2. Điểm yếu
-Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam chủ yếu là thị trường có mức thu nhập
trung bình và thấp, vì vậy chỉ tiêu thụ gạo có chất lượng trung bình và thấp.
-Diện tích sản xuất rộng lớn, nhưng trình độ sản xuất của các hộ nông dân thấp,
chủ yếu sử dụng các lao động không chuyên nghiệp, mức đầu tư vào các thiết bị sản
xuất trong phạm vi hộ thấp.
-Tổn thất ở khâu thu hoạch lúa lớn làm giảm hiệu quả sản xuất.
-Cơ sở hạ tầng nông thôn kém phát triển, chi phi vận chuyển cao làm gia tăng
giá thành phẩm.
-Mùa vụ thu hoạch và xuất khẩu của Việt Nam trái với mùa vụ chung trên thị
trường thế giới.
-Chính sách hỗ trợ xuất khẩu gạo chưa công bằng đối với các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh.
-Hệ thống kho dự trữ, bảo quản và chuẩn bị giao hàng phân tán, qui mô nhỏ.
4.3. Cơ hội
-Theo dự báo về nhu cầu nhập khẩu gạo trên thị trường thế giới, khả năng tăng
trưởng gạo xuất khẩu trong tương lai còn rất lớn tại các khu vực thị trường thế giới.
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status