i
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT III
DANH MỤC HÌNH IV
DANH MỤC BẢNG BIỂU V
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
5. Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 3
6. HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 3
1. GIỚI THIỆU 4
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU ỨNG ĐƯỜNG CONG J 4
2.1. Các nghiên cứu cơ sở về mối quan hệ giữa tỷ giá và các cân thương mại 4
2.2. Khuôn khổ lý thuyết đường cong J 6
2.3. Kết quả thực nghiệm về hiệu ứng đường cong J ở các nước trên thế giới 8
3. KIỂM ĐỊNH TẦM QUAN TRỌNG VÀ XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO
LƯỜNG HIỆU ỨNG ĐƯỜNG CONG J Ở VIỆT NAM 16
3.1. Thực trạng cán cân thương mại ở Việt Nam 2000-2010 16
3.2. Cách xử lý dữ liệu 19
3.2.1. Dữ liệu 19
3.2.2. Kiểm định tính nghiệm đơn vị 20
ii
TCTK Tổng Cục Thống Kê
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
REER Tỷ giá hối đoái hiệu lực đa phương
NEER Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Diễn biến TGDN giữa VND/USD giai đoạn 2000-2011.
Hình 2: Tỷ giá thực hiệu lực đa phương ở Việt Nam (kỳ gốc là quý 1 năm 2000).
Hình 3: Phân tích phân rã phương sai.
Hình 4: Kết quả hàm phản ứng đẩy từ mô hình VAR.
Hình 5: Kết quả hàm phản ứng đẩy từ mô hình VECM.
Hình 6: Kết quả hàm phản ứng đẩy từ mô hình VAR (trường hợp kiểm định Robustness).
Hình 7: Kết quả hàm phản ứng đẩy từ mô hình VECM (trường hợp kiểm định
Robustness).
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Kiểm định nghiệm đơn vị bằng ADF và PP.
Bảng 2: Kiểm định Kwiatkowski-Philips-Schmidt-Shin (KPSS).
Bảng 3: Độ trễ tối ưu của mô hình VAR.
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung:
• Có hay không mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại.
• Hiện trạng định giá cao đồng VN có tác động như thế nào đến CCTM.
• Có hay không hiệu ứng đường cong J tại Việt Nam.
• Hàm ý khi có hiệu ứng đường cong J tại VN.
1
Xem Nguyễn Văn Tiến (2010), giáo trình Tài chính quốc tế. Nó có nghĩa là về dài hạn, nhà sản xuất
có khả năng thay đổi nâng sản lượng xuất khẩu, từ đó cải thiện cán cân xuất nhập khẩu.
2
Trong quá trình đi tìm lời giải cho những câu hỏi nghiên cứu vừa nêu để giải quyết
vấn đề nghiên cứu đặt ra, đề tài này nhằm vào các đối tượng nghiên cứu cụ thể sau
đây:
• Tổng quan các bài đã nghiên cứu về hiệu ứng đường cong J ở các nước trên thế
giới.
• Dùng hàm phản ứng đẩy tổng quát từ mô hình VAR và VECM qua đó xem xét
liệu có hay không đường cong J ở VN.
• Xem xét sự phù hợp của mô hình ở VN giúp chúng ta biết được tính trội của
hiệu ứng giá cả diễn ra trong bao lâu và sau bao lâu hiệu ứng khối lượng bắt
đầu phát huy tác dụng.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp định tính, định lượng và tổng hợp nhằm
làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu. Đối với nghiên cứu định lượng được sử dụng
trong nghiên cứu này, chúng tôi dùng hàm phản ứng đẩy tổng quát (IRF) từ mô hình
VAR và VECM qua đó xem xét có hiệu ứng đường cong J ở Việt Nam hay không. Bộ
dữ liệu được sử dụng lấy từ Quý 1 năm 2000 đến Quý 4 năm 2011, số liệu đã cập nhật
1. GIỚI THIỆU
Nếu như lạm phát là một đề tài nóng trong năm 2011 thì đến với năm 2012 tỷ giá hối
đoái được xem là trung tâm của sự chú ý. Nguyên nhân là do tỷ giá có mối quan hệ
mật thiết với các biến vĩ mô trong nền kinh tế, mà những biến này lại có vai trò quan
trọng trong tiến trình phục hồi sau khủng hoảng. Mỗi quốc gia trong từng thời kỳ,
từng mục tiêu cụ thể mà họ sẽ hướng đến việc xem xét tỷ giá ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Với trường hợp của VN, là một nước nhập siêu và luôn rơi vào tình trạng thâm
hụt CCTM, thì câu hỏi được đặt ra cho những nhà hoạch định chính sách hiện nay là
liệu cần phải điều chỉnh tỷ giá theo hướng nào nhằm cải thiện cán cân thanh toán một
cách hiệu quả nhất. Trước vấn đề cấp bách đó, chúng tôi sẽ tập trung vào việc giải
quyết cho câu hỏi: hành động điều chỉnh tỷ giá liệu có ngay lập tức cải thiện được cán
cân mậu dịch. Hay nói cách khác, ở VN có xảy ra hiệu ứng đường cong J hay không
với cách kiểm định thông qua phương pháp nghiên cứu chuỗi thời gian – sử dụng hàm
IRF từ mô hình VAR và VECM. Hơn nữa, để có thể xem xét vấn đề một cách toàn
diện, chúng tôi có thực hiện kiểm định robustness để xem xét độ thích hợp của mô
hình do việc chọn độ trễ ảnh hưởng khá nhiều đến số mối quan hệ đồng tích hợp và
hình dạng đường cong J.
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU ỨNG ĐƯỜNG CONG J
2.1. Các nghiên cứu cơ sở về mối quan hệ giữa tỷ giá và các cân thương mại
Trong nghiên cứu của Bahmani-Oskooee và cộng sự (2008), các ông đã tóm lược ba
phương pháp tiếp cận mối liên hệ giữa CCTM và TGHĐ thực. Nó bao gồm việc kiểm
định các điều kiện Marshall-Lerner, đường cong J và đường cong S. Về cơ bản, điều
kiện Marshall-Lerner là một phương pháp gián tiếp đánh giá hiệu quả phá giá trong
việc cải thiện CCTM. Mức độ ảnh hưởng của việc phá giá đồng tiền lên CCTM sẽ
phụ thuộc chủ yếu vào độ co giãn trong cung, cầu xuất nhập khẩu. Theo đó phá giá
đồng tiền chỉ thực sự có tác động tích cực đến CCTM khi tổng mức co giãn của cầu
xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1. Mức độ co giãn này xét trong ngắn hạn sẽ thấp
giá đồng tiền thì CCTM thực sẽ được cải thiện. Do đó, một sự suy giảm ngắn hạn là
phù hợp với một sự cải thiện trong CCTM dài hạn.
6
Ngoài ra, khi mở rộng quan sát đối với các nước đang phát triển ở thị trường mới nổi,
một biến thể của đường cong J là đường cong S đã xuất hiện. Backus và cộng sự
(1994) sử dụng hàm tương quan chéo ở các nước OECD, là người đầu tiên cho thấy
rằng CCTM tương quan âm với các xu hướng hiện tại và tương lai trong điều kiện
thương mại, nhưng tương quan thuận với các xu hướng trong quá khứ. Senhadji
(1998) cũng đồng tình khi xem xét tại 30 quốc gia kém phát triển.
2.2. Khuôn khổ lý thuyết đường cong J
Trong mô hình thay thế không hoàn hảo (the imperfect substitutes model) được đưa ra
bởi Goldstein và Khan (1985), CCTM bao gồm các thành phần hàng hóa xuất nhập
khẩu. Thu nhập trong nước và giá nhập khẩu là những yếu tố chính quyết định nhu
cầu nhập khẩu hàng hóa. Hàm nhập khẩu được biểu diễn như sau:
M
d
= M
d
(Y, P
m
, P
d
) (1)
Với M
d
là nhu cầu nhập khẩu trong nước, Y là thu nhập trong nước, P
Trong mô hình này, hàm cầu được mô tả bởi thu nhập hiện tại (không phải thu nhập
thường xuyên hay tạm thời). Mô hình này giả định nền kinh tế có phương trình cầu
không đổi. Kết quả là người tiêu dùng đưa ra quyết định dựa trên giá trị thực trái
ngược với giá trị danh nghĩa. Đúng như giả định, vế phải phương trình (1) và (2) được
chia ra:
7
M
d
= M
d
(Y
r
, RP
m
) (3)
Với Y
r
là thu nhập trong nước và RP
m
là giá nhập khẩu tương đối và phương trình (4)
X
d
= X
d
(Y
r
*
(6)
Với X
s
*
và M
s
*
là cung xuất khẩu và cung nhập khẩu nước ngoài. Từ đó CCTM được
tính như sau:
TB = P
x
*
X
d
– QM
d
(7)
Từ đó ta thấy CCTM là sự chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu. CCTM âm
biểu hiện một sự thâm hụt, giá trị nhập khẩu vượt quá giá trị xuất khẩu. Mối liên hệ
giữa các biến trong phương trình (7) có thể được viết lại dưới dạng rút gọn bằng việc
sử dụng giá trị thực của các biến:
= (8)
Phương trình trên là phương trình mô tả CCTM của trường phái Keynes cổ điển.
Trong đó, thu nhập thực trong nước, thu nhập thực nước ngoài và tỷ giá thực là những
nhân tố chính có ảnh hưởng quyết định đến giá trị xuất khẩu ròng.
8
năm 1996. Kết quả phân tích cho thấy, có sự tồn tại của đường cong J. Ngoài ra thì
2
15 nước gồm có Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Thái lan, Úc, Hồng Kông, Đức, Mã Lai, Pháp, Anh, Hà
Lan, Nga, Phillippin, Thụy Sỹ, Bỉ.
9
nghiên cứu của Tihomir Stucka (2004) cũng cho ra kết quả tương tự về đường cong J
trên CCTM Croatia. Nghiên cứu này đã dùng một mô hình giản ước
2F
3
để ước lượng tác
động của một cú sốc dai dẳng (permanent shock) lên CCTM. Nó cho thấy khi phá giá
đồng nội tệ 1% thì sẽ cải thiện mức cân bằng của CCTM trong khoảng 0.94 – 1.3% và
cần khoảng 2,5 năm để có thể thiết lập lại trạng thái cân bằng.
Koch and Rosensweig (1990) đã tiến hành nghiên cứu mối liên hệ giữa đồng USD và
các thành phần trong CCTM Mỹ. Họ đã thực hiện những kiểm định về chuỗi thời gian
và nhân quả Granger để nhận dạng. Kết quả cho thấy hai trong bốn thành phần miêu
tả mối quan hệ động này là yếu và chậm hơn chuẩn của hiện tượng đường cong J. Trái
ngược với lý thuyết đường cong J thông thường, sẽ có mối liên hệ phụ thuộc mạnh mẽ
và nhanh chóng giữa nhập khẩu và giá cả tiền tệ.
Nghiên cứu của Carter và Pick (1989) đã tìm ra những bằng chứng thực nghiệm cho
thấy sự phân khúc đầu tiên của đường cong J trên cán cân nông nghiệp Mỹ. CCTM có
tình trạng xấu đi và điều này kéo dài khoảng 9 tháng sau khi đồng USD bị phá giá
10%. Sử dụng hàm phản ứng đẩy tổng quát từ mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số
(VECM) để kiểm định sự tồn tại hiệu ứng đường cong J cho các nền kinh tế Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, nghiên cứu của Hsing (2003) cho thấy hiệu ứng đường
việc dùng tỷ giá thực.
Nghiên cứu của Scott Hacker and Abdulansser Hatemi-J (2004) đã sử dụng số liệu về
thương mại song phương để ước lượng những hiệu ứng trong ngắn hạn và dài hạn của
thay đổi TGHĐ lên CCTM ở khu vực châu âu gồm Cộng hòa Séc, Hung-ga-ri và
Phần Lan. Nghiên cứu của họ tiến hành đo lường cán cân thương mại thông qua tỷ số
giữa xuất khẩu và nhập khẩu. những biến khác bao gồm: chỉ số sản xuất công nghiệp
và TGHĐ. Việc sử dụng chỉ số công nghiệp cho phép họ có thể ước lượng các tham
số thống kê với dữ liệu hàng tháng và cũng bởi vì không có dữ liệu đầy đủ, liên tục và
đáng tin cậy về chỉ số GDP. Những kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng trong cả
ba trường hợp, đều có một vài bằng chứng cho thấy có sự xuất hiện của hiện tượng
đường cong J theo sau việc phá giá tiền tệ. Họ cũng phát hiện là hiệu ứng đường cong
J đã thay thế TGHĐ thực với TGHĐ danh nghĩa. Những thay đổi trong TGHĐ thực là
kết quả của cả cú sốc về TGHĐ thực và mức giá chung của nền kinh tế nội địa.
11
Trong một số trường hợp có thể kết hợp cả hai biến này trong mô hình nghiên cứu
định lượng. Song những thay đổi trong TGDN là dễ quan sát và đo lường hơn so với
tỷ giá thực. Bên cạnh đó, TGDN cũng có thể dễ kiểm soát hơn đối với những nhà làm
chính sách. Vì vậy, những bài nghiên cứu thường sẽ có khuynh hướng xem xét tác
động đối với biến TGDN. Kết quả nghiên cứu của họ đã tìm thấy những bằng chứng
tương đối yếu về hiệu ứng đường cong J, trong đó CCTM yếu đi và sau đó lại được
cải thiện sau cú sốc về tỷ giá, tuy nhiên quá trình này không diễn ra nhanh chóng như
những dự báo trong lý thuyết.
Ngoài ra, nghiên cứu của Paresh Narayan (2004) cũng đã cho thấy có hiện tượng hiệu
ứng đường cong J trên CCTM New Zealand. Ông không tìm thấy bất kỳ một mối
quan hệ đồng liên kết nào giữa CCTM và tỷ giá có hiệu lực thực, cũng như giữa thu
nhập quốc nội và thu nhập nước ngoài khi khảo sát trong thời kỳ 1970-2000. Tuy
thương mại đa phương hoặc song phương. Nghiên cứu của Rose and Yellen (1989) đã
đưa ra kết luận rằng việc dùng dữ liệu thương mại song phương sẽ cho ra kết quả tốt
hơn vì nó không đòi hỏi cần có sự phân cách với các biến động trong thu nhập thế
giới như khi phân tích ở mức độ tổng thể. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu những sai
lệch tổng thể.
Với các phân tích về những hiệu ứng kỳ vọng của phá giá tiền tệ lên CCTM, giả thiết
kiểm định cho bài nghiên cứu sẽ được xây dựng như sau: Sẽ có một mối liên hệ trong
dài hạn giữa cán cân thương mại và tỷ giá thực có hiệu lực và có bằng chứng về hiện
tượng đường cong J trên CCTM VN.
13
Nhà nghiên cứu Đối tượng nghiên
cứu
Mẫu (Bộ dữ liệu) Phương pháp nghiên
cứu
Kết quả
Gupta-
Kapoor và
Ramakrishnan
(1999)
Hiệu ứng đường
cong j tại nhật bản
Dữ liệu quý, từ quý
1 năm 1975 đến quý
4 năm 1996
Mô hình ECM kết hợp
giai đoạn 1970 -
1988
Kiểm định về chuỗi thời
gian và nhân quả
granger.
Hai trong bốn thành phầ
n miêu
tả mối quan hệ động này là yếu
và chậm hơn chuẩn của hiện
tượng đường cong j
Hsing (2003) Hiệu ứng đường
cong j cho các nền
kinh tế nhật bản,
Dữ liệu hàng quý, từ
quý 1 năm 1996 –
đến quý 1 năm 2006.
Hàm phản ứng đẩy tổng
quát từ mô hình vectơ
hiệu chỉnh sai số (vecm)
Hiệu ứng đường cong j có xuất
hiện trên CCTM nhật. Trong khi
các kiểm định tương tự tạ
i hàn
14
hàn quốc, đài loan
quốc và đài loan lại không cho
làm cải thiện tình trạng CCTM
song nó giúp cải thiện phần nào
trong cán cân thanh toán.
Himarios (1985) Kiểm định lạ
i bài
nghiên cứu của
Miles (1979)
Dữ liệu hàng năm,
giai đoạn 1956 –
1972
Sử dụng tỷ giá thực, mô
hình OLS.
Đường cong j được tìm thấy tại
9 trên 10 nước q
uan sát (xem
thêm himarios 1985)
Scott Hacker và
Abdulansser
Hatemi-J (2004)
Ước lượng những
hiệu ứ
ng trong
ngắn hạ
n và dài
Sử dụng số liệu về
thương mạ
i song
phương
Đo lường cán cân thương
mại thông qua tỷ số giữa
Bahmani-Oskooee
và các cộng sự
(2003)
Ấn Độ Dữ liệu hàng năm,
giai đoạn 1962 –
2006
Mô hình cán cân thương
mạ
i (xem thêm NC EB
…)
Không tìm thấy bất cứ một dấu
hiệu nào về sự xuất hiện của
đường cong j
Olugbenga
Onafowora (2003)
Thái Lan, Mã Lai
và Indonesia trong
mối thương mại
song phương ở cả
Mỹ và Nhật Bản
Dữ liệu quý, từ quý
1 năm 1980 đến quý
4 năm 2001.
Phân tích đồng liên kết
và mô hình VECM.
Indonesia và Mã Lai đều có hiệu
ứng đường cong J trong ngắn
hạn. Ngược lại, tại Thái Lan khi
xem xét với Nhật Bản thì không
thấy xuất hiện.
Qua Hình 1 chúng ta nhận thấy rằng tỷ giá giữa VND/USD liên tục tăng và chia làm 2
giai đoạn rõ rệt: từ quý 1 năm 2000 đến đầu quý 1 năm 2008; từ sau quý 1 năm 2008
đến quý 1 năm 2011. Giai đoạn đầu, tỷ giá gia tăng một cách ổn định. Nhìn chung
không có đợt tăng giá nào đáng kể. Nhưng bước sang giai đoạn thứ 2, TGDN gia tăng
một cách mạnh mẽ thể hiện những hành động phá giá liên tục và mạnh mẽ hơn từ phía
NHNN. Đặc biệt phải kể đến là đợt phá giá gần đây nhất vào tháng 2/2011, với mức
phá giá làm VND giảm giá 9.3% so với USD, tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng từ
18 932 VND/USD lên 20 693 USD.
3F
4
Dưới đây, chúng tôi tiến hành xây dựng TGDN đa phương (NEER) và tỷ giá hiệu lực
đa phương (REER).
4
Nguồn: website Ngân hàng nhà nước.
17
Giỏ tiền tệ mà chúng tôi lựa chọn gồm 20 nước đối tác thương mại chính4F
5
với VN (vì
không thu thập được số liệu của Đài Loan do Đài Loan vẫn chưa là thành viên của
IMF). Kỳ gốc mà chúng tôi lựa chọn là quý 1 năm 2000 vì tại năm này CCTM của
VN tuy có thâm hụt nhưng khá thấp. Do đó, tỷ giá phản ánh được ngang giá sức mua
giữa VND với các đồng tiền còn lại hay tỷ giá hiệu lực đa phương có thể được xem là
bằng 1. Kỳ gốc năm 2000 cũng là kỳ gốc mà nhiều nghiên cứu về tỷ giá hối đoái lựa
chọn, chẳng hạn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng và các cộng sự (2010).
=
1
Trong đó:
• t là thời gian theo quý.
• n = 20 là số nước đối tác thương mại chính của Việt Nam.
• e
jt
là TGDN của đồng tiền nước j so với VND (trong trường hợp này VND là
đồng định giá còn đồng tiền nước j là đồng yết giá) tại quý t và được tính theo
chỉ số với kỳ gốc là quý 1 năm 2000.
• P
t
là chỉ số giá hàng hóa trong nước.
• P
jt
là chỉ số giá hàng hóa nước j.
5
Gồm những nước sau Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Thái lan, Úc, Hồng Kông, Đức, Mã Lai, Pháp,
Anh, Hà Lan, Nga, Philippin, Thụy Sỹ, Bỉ, Singapore, Indonexia, Ý, Ấn Độ.
18
2005Q1
2006Q1
2007Q1
2008Q1
2009Q1
2010Q1
2011Q1
NEER
REER
Nguồn: tính toán của tác giả dựa trên số liệu của IFS, Datastream
19
3.2. Cách xử lý dữ liệu
3.2.1. Dữ liệu
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng dữ liệu theo quý từ quý 1 năm 2000 đến
quý 4 năm 2011. Nguồn dữ liệu như sau:
Dữ liệu về xuất nhập khẩu của VN với 20 đối tác thương mại chính được thu
thập từ Datastream giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 3 năm 2010, giai
đoạn còn lại chúng tôi tổng hợp từ TCHQ.
Dữ liệu GDP theo quý của VN từ TCTK.
Dữ liệu GDP theo quý của 15 đối tác thương mại
5F
6
với VN được thu thập từ
IFS.
Tỷ giá hiệu lực đa phương (REER) được tính toán với 20 đối tác thương mại