Thực trạng tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng ở Việt Nam thời kỳ 1986
đến nay.
1. Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm
1986. Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về
tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại,
thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam
giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công
nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương
đối trong xã hội. Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 là văn bản luật đầu tiên góp
phần tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường tại Việt
Nam. Năm 1991 Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty ra đời. Hiến pháp sửa
đổi năm 1992 đã khẳng định đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường và khu vực đầu tư nước
ngoài. Tiếp theo đó là hàng loạt các đạo luật quan trọng của nền kinh tế thị trường
đã được hình thành tại Việt Nam như Luật đất đai, Luật thuế, Luật phá sản, Luật
môi trường, Luật lao động và hàng trăm các văn bản pháp lệnh, nghị định của
chính phủ đã được ban hành nhằm cụ thể hóa việc thực hiện luật phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội. Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt
Nam cũng từng bước được hình thành. Chính phủ đã chủ trương xóa bỏ cơ chế tập
trung, bao cấp, nhấn mạnh quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp
quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng, hình thành
các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng
hóa, thị trường đất đai Cải cách hành chính được thúc đẩy nhằm nâng cao tính
cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động
kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Chiến lược cải cách
hành chính giai đoạn 2001-2010 là một quyết tâm của Chính phủ Việt Nam, trong
đó nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tục hành chính, luật pháp, cơ chế quản lý kinh
tế để tạo ra một thể chế năng động, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong
phương trong nhiều năm trước thường bị sụt giảm, nhưng nay vẫn tăng 3,5%.
Khu vực ngoài nhà nước tăng trưởng với tốc độ cao nhất (17,1%). Khu vực này đã
khai thác tốt hơn cả 3 yếu tố- ngoài 2 yếu tố giống như đã được đề cập ở trên đối với
doanh nghiệp nhà nước địa phương, còn có sự tăng lên của năng lực sản xuất, với sự ra
đời của các doanh nghiệp mới, nhất là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng
cao thứ hai (17%) nhờ đã tranh thủ đẩy mạnh xuất khẩu khi kinh tế thế giới có sự phục
hồi và tranh thủ khi giá xuất khẩu tăng cao (chỉ số giá xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2011 so
với cùng kỳ năm trước tăng 13,6%, nếu tính thêm tốc độ tăng tỷ giá bình quân là 10,3%,
thì tăng 25,3%).
Nếu phân chia theo nhóm ngành thì nhóm ngành chế biến tăng trưởng với tốc độ
cao nhất, ở mức hai chữ số. Trong 32 ngành của nhóm ngành chế biến, có 25 ngành tăng
so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 17 ngành tăng cao hơn tốc độ chung (12,7%). Cao
nhất là sản xuất đường (tăng 43,5%), nhờ tốc độ tăng tiêu thụ rất cao (49,8%), góp phần
quan trọng vào việc giảm giá đường.
Sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng cao (38,1%), nhờ có chỉ số tiêu
thụ rất cao (80,8%). Tương tự, sản xuất đồ uống không cồn tăng 35% và tăng 29,9%; sản
xuất đồ gốm, sứ không chịu lửa tăng 35,3% và tăng 27,2%,… Sản xuất xi măng, sản xuất
sắt thép, phân bón, giấy, bia, thức ăn gia súc, bơ sữa,… đều tăng hai chữ số.
Nhóm ngành sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 10,3%, trong đó sản xuất tập
trung và phân phối điện tăng 10,7%, đã góp phần giảm bớt sự căng thẳng về nguồn phải
cắt điện luân phiên như năm ngoái.
Nhóm ngành công nghiệp khai thác mỏ chỉ tăng 2,8%, thấp nhất trong 3 nhóm
ngành công nghiệp. Điều này là phù hợp với chủ trương tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên
nhiên của đất nước,…
Sản xuất da giày 6 tháng đầu năm ổn định và tăng trưởng. Giày dép xuất khẩu vẫn
vững vàng là TOP đầu trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Tiêu thụ sản phẩm đã có sự
chuyển hoá. Sản phẩm giày dép bằng cao su, phẩm cấp thấp, rẻ tiền đã được thay thế dần
bằng dày da thật và giả da, đặc biệt là giày thể thao và giày vải. Tuy vậy ngành da giày
đang phải đối mặt với tình trạng thíếu hụt lao động, nếu không khắc phục trong thời gian
Từ năm 2003 đến nay tỷ trọng đầu tư vào ngành kinh tế thay đổi không nhiều. Tỷ
trọng đầu tư vào ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ.
Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp vào 20% GDP nhưng tỷ lệ đầu tư
hàng năm vào ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ chỉ có 6.5% đến 8.5% và đang giảm dần.
Mặc dù, một số mặt hàng nông nghiệp của Việt nam nằm trong nhóm xuất khẩu đứng đầu
thế giới như gạo, cà phê, tiêu, điều, một số mặt hàng thủy hải sản… nhưng sản xuất nông
nghiệp vẫn đang ở trình độ lạc hậu. Ruộng đất manh mún chưa hình thành được vùng
chuyên canh sản xuất theo quy mô lớn phục vụ xuất khẩu. Tăng trưởng trong ngành nông
nghiệp ở mức thấp và khó có những bước tăng đột biến do giới hạn về tài nguyên và kỹ
thuật.
Tỷ trọng đầu tư cho công nghiệp – xây dựng và dịch vụ khá cao. Tăng cường đầu
tư cho công nghiệp – xây dựng và dịch vụ nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Tuy vậy, tốc
độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Việt Nam tương đối chậm. Tỷ trọng lao động trong hai
khu này hiện nay chưa được 50% số lao động.
Về cơ cấu vùng kinh tế, trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế. Trên bình diện quốc gia, đã hình
thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ và vùng
đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng động lực cho
tăng trưởng kinh tế cả nước.
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây dựng các
khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ
sở điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng vùng. Điều này tạo thuận lợi cho phát
triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá, hướng về xuất khẩu.
Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển rõ nét theo hướng hiện đại hóa. Nếu năm 1990,
ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới 38,7% GDP, thì đến năm 2006 giảm còn 20,4%.
Trong khi đó, các ngành công nghiệp và xây dựng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, tăng
tương ứng từ 22,7% lên 41,5%. Ngành dịch vụ duy trì khá ổn định ở mức khoảng 38%.
số lượng vốn đầu tư. Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2004 đến nay đều đã vượt qua
mốc 40% (năm 2004 đạt 40,7%, năm 2005 đạt 40,9%, năm 2006 đạt 41%, ước năm 2007
đạt 40,4%), kế hoạch năm 2008 còn cao hơn, lên đến 42%.
Đây là tỷ lệ thuộc loại cao nhất thế giới, chỉ sau tỷ lệ trên dưới 44% của Trung
Quốc - một tỷ lệ làm cho tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đạt cao nhất thế giới, đã
nhiều năm liền tăng hai chữ số, hiện đang giữ kỷ lục thế giới về số năm tăng trưởng liên
tục (28 năm), nhưng Trung Quốc đưa ra mục tiêu giảm độ nóng của tăng trưởng và đẩy
mạnh chống lạm phát do tốc độ tăng giá tính theo năm của tháng 2/2008 đã lên đến 8,3%,
cao nhất trong 12 năm qua.
Hai là, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện còn dựa một phần quan trọng vào
yếu tố số lượng lao động, sự quan trọng này được xét trên hai mặt. Một mặt, do nguồn
lao động hàng năm vẫn còn tăng khoảng 2%, tức là trên 1 triệu người mỗi năm. Mặt
khác, do tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao.
Ba là, nếu tính cả sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư và sự đóng góp của
yếu tố số lượng lao động, thì hai yếu tố này đã đóng góp trên ba phần tư tổng tốc độ tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam. Điều đó chứng tỏ, sự đóng góp của yếu tố TFP đối với tổng
tốc độ tăng trưởng kinh tế còn nhỏ, chưa được một phần tư, thấp chỉ bằng hai phần ba tỷ
trọng đóng góp của yếu tố này của các nước trong khu vực hiện nay.
Điều đó cũng chứng tỏ, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn đi theo hướng tăng trưởng
về số lượng, chưa chuyển sang tăng trưởng về chất lượng, vẫn chủ yếu phát triển theo
chiều rộng, chưa chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu.
Hiệu quả sử dụng vốn chưa cao: TFP là tổng hợp của các nhân tố hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư và năng suất lao động. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được thể hiện ở nhiều chỉ
tiêu. Gần đây, trên các diễn đàn hội thảo và trên một số phương tiện thông tin đại chúng,
khi đề cập đến hiệu quả đầu tư các chuyên gia thường dùng hệ số ICOR.
Chỉ tiêu này được tính bằng nhiều cách, song theo cách tính đơn giản mà các
chuyên gia đề cập là lấy tỷ lệ vốn đầu tư/GDP chia cho tốc độ tăng trưởng GDP. Hệ số
ICOR càng lớn thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại.
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP và tốc độ tăng GDP thì ICOR qua các thời kỳ như sau: Tính
chung ICOR của Việt Nam trong thời kỳ 1991-2007 là 4,86 lần, cao hơn nhiều so với 2,7
của khu vực FDI. Tính đến năm 2007, doanh nghiệp có vốn FDI đã tạo việc làm cho trên
1,2 triệu lao động trực tiếp, trong đó nhiều lao động đã được đào tạo ở nước ngoài. Năng
suất lao động thấp và tăng chậm
Năng suất lao động của Việt Nam trong thời gian qua đã có chiều hướng tăng đáng
kể. Tốc độ tăng năng suất bình quân giai đoạn 2001 - 2010 đạt khoảng 4,8%/năm. Với
mức năng suất lao động hiện nay, Việt Nam còn kém năng suất lao động của Trung Quốc
khoảng 2,6 lần và Thái Lan 4,3 lần.
Sử dụng cách tiếp cận hạch toán tăng trưởng, Hình 1 mô tả đóng góp của vốn, lao
động và TFP vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1991-2009. Có thể thấy một số
nhận định sau về xu hướng tăng trưởng của GDP (Y) và các yếu tố vốn (K), lao động (L),
TFP ở nước ta như sau:
Hình 1: Tăng trưởng GDP, vốn, lao động và TFP, 1991-2009
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê
Trước hết, tốc độ tăng trưởng của vốn ngày càng cao, điều này hoàn toàn phù hợp
với số liệu về đầu tư và tích lũy tài sản của nước ta hiện nay và các nhận định về tăng
trưởng dựa nhiều vào vốn của nền kinh tế trong thời gian gần đây. Theo quy luật năng
suất cận biên giảm dần, sự gia tăng của vốn vật chất cuối cùng sẽ làm giảm năng suất cận
biên của vốn. Tuy nhiên, nếu so sánh thêm với các số liệu về năng suất lao động ở Việt
Nam thì tỷ lệ vốn/lao động tăng lên có thể làm tăng năng suất lao động: năng suất lao
động xã hội (theo giá so sánh) đã tăng từ 4,6 triệu năm 1991 lên 10,8 triệu VND/người
năm 2009, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 4,9%/năm.
Thứ hai, tăng trưởng TFP tính được có xu thế biến động rất giống GDP (mặc dù
khoảng cách giữa hai đường tăng trưởng này dường như ngày càng xa nhau). Cũng giống
tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng TFP có thể được chia thành bốn thời kỳ 1991-
1995, 1996-2000, 2001-2005, 2006-2009. Điều này chứng tỏ tăng trưởng TFP chịu ảnh
hưởng của chu kỳ kinh doanh. Để đánh giá được chính xác hơn vai trò của TFP đối với
tăng trưởng kinh tế, cần loại bỏ tác động của chu kỳ kinh doanh ra khỏi tăng trưởng TFP
bằng phương pháp Wharton.
Hình 2. Phương pháp Wharton để loại bỏ tác động của chu kỳ kinh doanh khỏi TFPG
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê
có cung cấp nguyên vật liệu và năng lượng càng trở nên trầm trọng.
4. Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu ra
Tăng trưởng kinh tế xét ở yếu tố đầu ra có ba yếu tố đóng góp. Đó là sự đóng góp
của tiêu dùng cuối cùng, của tích lũy tài sản, của xuất khẩu ròng (xuất khẩu ròng được
tính bằng xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Có một số nhận xét được rút ra từ đóng góp của
các yếu tố đầu ra đối với tăng trưởng kinh tế:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chủ yếu do tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng. Điều đó
được lý giải là do quy mô GDP của Việt Nam còn thấp, nên tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng
hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (trên dưới 70%); mức tiêu dùng bình quân đầu
người trong nhiều năm còn thấp nên nhu cầu và tốc độ tăng thường khá cao (mấy năm
liên tục tăng trên 7%, gần bằng với tốc độ tăng của GDP).
Một nét quan trọng là tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thị trường ngày
một chiếm tỷ trọng lớn, do tốc độ tăng qua các năm (đã loại trừ yếu tố giá) gần đây liên
tục tăng hai chữ số (năm 2002 tăng 11,2%, năm 2003 tăng 15,2%, năm 2004 tăng 10,8%,
năm 2005 tăng 11,3%, năm 2006 tăng 12,5%, năm 2007 tăng 11,4%). Khi tiêu dùng cuối
cùng thông qua mua bán trên thị trường tăng nhanh và trở thành động lực của tăng trưởng
kinh tế thì một mặt nó hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, mặt khác tạo áp lực tăng cung
tiền tệ, tạo áp lực lạm phát.
Cùng với tăng trưởng tiêu dùng chung thì tiêu dùng của một bộ phận dân cư đã
tăng rất cao về quy mô, đa dạng về chủng loại, mẫu mã, chất lượng. Cùng với xu hướng
này cũng đã xuất hiện tâm lý ưa chuộng hàng hiệu, hàng ngoại, thậm chí mua bán với bất
kỳ giá nào.
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế do tăng trưởng tích lũy tài sản chiếm tỷ trọng khá cao.
Đây cũng là một tín hiệu tốt thể hiện tâm lý tiết kiệm để dành cho tích lũy của khu vực
Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh việc trực tiếp đầu tư tăng trưởng, có một phần không nhỏ đã
được để dành dưới dạng cất trữ hoặc chạy lòng vòng qua các kênh gây ra những cơn sốt
nóng hoặc lạnh ở các kênh này mà không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh.
Hiện có hàng trăm tỷ đồng vốn đầu tư đang được chôn vào bất động sản, vàng.
Thứ ba, tăng trưởng xuất khẩu ròng hiện đang mang dấu âm do nhập siêu gia tăng
những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc
chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả,
tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh
tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng, nghĩa là hệ số mở
cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001, và đến năm 2005 là trên 50%.
Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001 – 2005 đã đạt 111 tỉ USD, tăng bình quân
17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiến cho năm 2005, bình quân kim ngạch xuất
khẩu/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu
tiếp tục đạt mức cao – 40 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ
USD, tăng 21,5% so với năm 2006; năm 2008 tăng 29,5% so với năm 2007, đưa tỷ lệ
XK/GDP đạt khoảng 70%.
Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản… đã
có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều
tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từ
năm 2004 đến nay. Năm 2001, vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỉ USD; tiếp theo, năm
2002: 3,0 tỉ USD; 2003: 3,2 tỉ USD; 2004: 4,5 tỉ USD; 2005: 6,8 tỉ USD; 2006: 10,2 tỉ
USD; và năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta liên tục nhận được các nguồn vốn
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục: 20,3 tỉ USD, tăng gấp đôi so với
năm 2006, bằng tổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm 2001-2005, chiếm 1/4 tổng
vốn FDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa qua.
Năm 2008, tuy kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế suy thoái, song
đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt 64,011 tỉ USD, tăng gấp đôi năm
2007. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 diễn ra đầu
tháng 12, tại Hà Nội, tổng cam kết từ các nhà tài trợ lên tới 5,014 tỉ USD (thấp hơn 1 chút
so với năm 2007: 5,4 tỉ USD). Giải ngân vốn ODA được 2,2 tỉ USD, vượt chỉ tiêu kế
hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007 (2,176 tỉ USD).
Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu được triển khai. Các
tế, tài chính toàn cầu, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng kinh tế là 6,2%.
Cùng với việc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu kinh tế trong nước của Việt
Nam đã có sự thay đổi đáng kể. Từ năm 1990 đến 2007, tỷ trọng của khu vực nông-lâm
nghiệp thủy sản đã giảm từ 38,7% xuống dưới 20% GDP, nhường chỗ cho sự tăng lên về
tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng từ 22,7% lên 41,7%, còn khu vực dịch vụ
được duy trì ở mức gần như không thay đổi: 38,6% năm 1990 và 38,3% năm 2007. Trong
từng nhóm ngành, cơ cấu cũng có sự thay đổi tích cực. Trong cơ cấu công nghiệp, tỷ
trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng
cao. Cơ cấu của khu vực dịch vụ thay đổi theo hướng tăng nhanh tỷ trọng của các ngành
dịch vụ có chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch…
Luật doanh nghiệp được sửa đổi năm 2000 đã tạo điều kiện cho sự phát triển của
các doanh nghiệp tư nhân. Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinh doanh của các cá
nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dỡ bỏ những rào cản về hành
chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp như cấp giấy
phép, thủ tục, các loại phí… Từ 1/7/2006, Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụng chung cho
cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài) đã có hiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh
của các doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp,
không phân biệt hình thức sở hữu.
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện pháp điều chỉnh,
sắp xếp lại các doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý tài chính của công
ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, hay việc chuyển
các công ty nhà nước thành công ty cổ phần theo tinh thần cải cách mạnh mẽ hơn nữa các
doanh nghiệp nhà nước, ngày càng được coi trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả cho khu
vực kinh tế quốc doanh. Tính đến 30/6/2008, đã có 3.786 doanh nghiệp Nhà nước được
cổ phẩn hóa.
Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả các thành tựu kinh tế vào mục tiêu phát
triển xã hội như phân chia một cách tương đối đồng đều các lợi ích của đổi mới cho đại
đa số dân chúng; gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát
triển y tế, giáo dục; nâng chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam từ vị trí thứ
120/174 nước năm 1994, lên vị trí thứ 109/177 nước trên thế giới năm 2007; tăng tuổi thọ
vào những năm 1996 và năm 2002 nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn
hơn để khuyến khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vào những mục tiêu trọng điểm và
những lĩnh vực ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào
xuất khẩu và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.
Cùng với Luật Doanh nghiệp, việc ban hành Luật Đầu tư 2005 đã tạo bước tiến dài
trong việc điều chỉnh, cải tiến môi trường đầu tư của Việt Nam để tạo thêm hấp dẫn đối
với các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, việc đẩy mạnh tháo gỡ những khó khăn vướng
mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉnh sửa thuế thu nhập cá nhân theo hướng hạ thấp
mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế một cửa, giảm giá dịch vụ viễn thông xuống
ngang bằng mức giá tại các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mở rộng lĩnh
vực đầu tư, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vào một số lĩnh vực trước
đây chưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm, kinh doanh siêu thị, ngân hàng… cũng góp
phần tạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn ở Việt Nam.
FDI vào Việt Nam tăng nhanh còn do các nguyên nhân quan trọng khác như: sự
ổn định về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế Việt Nam liên tục đạt
mức tăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường tiếp tục được duy
trì và đẩy mạnh; mức sống của người dân được nâng cao góp phần làm tăng mức cầu nội
địa; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại
hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên các thị trường thế giới ngày càng được nâng cao.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút được một lượng đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) ngày càng lớn. Từ ở mức gần như con số không vào năm 1986, vốn
đăng ký FDI đã tăng lên 64 tỷ USD năm 2008. Việt Nam hiện có 10.700 dự án đầu tư
trực tiếp của 90 quốc gia và vùng lãnh thổ đang hoạt động với tổng số vốn đầu tư gần 170
tỉ USD. FDI tăng không chỉ hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước
ngoài, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công
nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại, khai thác các tiềm năng của đất nước, đào tạo
tay nghề và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, góp phần phát triển kinh tế -
xã hội Việt Nam.
4.3. Sức cạnh tranh của nền kinh tế
Trong 5 năm qua, mặc dù tình hình chính trị, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp,
luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ
tuổi lao động đang làm việc trong các nghành kinh tế quốc dân . Sự ra đời và phát triển
của kinh tế tri thức gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ cao và sự ứng
dụng rộng rãi với hiệu quả cực kỳ to lớn của những công nghệ ấy vào đời sống kinh tế xã
hội. Trình độ của người lao động làm việc trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội
được nâng cao. Lao động trong các ngành có sự gia tăng, điều kiện lao động được thay
đổi cơ bản, cường độ lao động giảm nhẹ. Nhưng trình độ lao động phát triển nên năng
suất lao động cao dẫn đến sự gia tăng nạn thất nghiệp. Mặt khác sự chênh lệch trình độ
giữa các vùng miền cũng là vấn đề cần giải quyết để kinh tế có thể tăng trưởng ổn định.
Thực trạng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực tương đối lớn nhưng chất lượng chưa đáp
Ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Nước ta hiện nay có trên 50 triệu người từ 15 tuổi trở lên, nhưng tỷ lệ qua đào
tạo nghề nghiệp và chuyên môn kỹ thuật rất thấp. Theo kết quả điều tra dân số 1-4-1999
thì tại thời điểm điều tra chỉ có 7,6% dân số từ 13 tuổi trở lên có bằng cấp về một trình độ
chuyên môn kỹ thuật nào đó, tức là đã qua trường lớp đào tạo, trong đó 2,3% là công
nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng cấp; 2,8% có trình độ trung học chuyên
nghiệp; 0,7% cao đẳng; 1,7% đại học và 0,1% có trình độ trên đại học. Đây là một tỷ lệ
quá thấp. Nếu loại trừ giáo viên trong ngành giáo dục và thầy thuốc trong ngành y là 2
ngành có tỷ lệ qua đào tạo cao thì số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn chiếm tỷ
lệ thấp hơn nữa. Tỷ lệ qua đào tạo đã thấp, cơ cấu đào tạo lại bất hợp lý. Quan hệ tỷ lệ
đào tạo giữa 3 loại trình độ chuyên môn kỹ thuật; Đại học và trên đại học; Trung học
chuyên nghiệp; Công nhân kỹ thuật theo thông lệ quốc tế là: 1 - 4 - 10 hoặc 1 - 3 - 5,
nhưng ở nước ta các tỷ lệ này tại thời điểm tổng điều tra dân số năm 1- 4-1989 là 1 - 1,16
- 0,96 và đến thời điểm tổng điều tra dân số 1-4-1999 còn bất hợp lý hơn với quan hệ tỷ
lệ: 1- 1,13 - 0,92. Cơ cấu đào tạo bất hợp lý nên tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” trong
nền kinh tế có xu hướng ngày càng trầm trọng. Sinh viên ra trường không có việc làm,
nhưng các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài lại không tìm được
công nhân kỹ thuật và thợ lành nghề. Theo kết quả điều tra toàn bộ công nghiệp đã nêu ở
trên, đến giữa năm 1998 trong tổng số lao động công nghiệp ngạch 4 bậc chỉ có 17,5% số
người đạt tay nghề bậc 4/4; trong ngạch 5 bậc, tỷ lệ bậc 5/5 chiếm 20,8%; ngạch 6 bậc,