Lạm phát tại Việt Nam từ năm 2008 đến nay - Pdf 13

0

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG


BÀI TIỂU LUẬN
LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TỪ
NĂM 2008 ĐẾN NAY Giáo viên hướng dẫn:
NGUYỄN THỊ HAI HẰNG
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ HỒNG
Lớp: K09404A
MSSV: K094040550 1
LỜI MỞ ĐẦU

Lịch sử đã chứng minh rằng trong quá trình phát triển kinh tế,các quốc gia đều đã từng
đối mặt với lạm phát,nhưng không phải lúc nào lạm phát cũng gây ra những tác động tiêu
cực,trong nền kinh tế thị trường nhiều quốc gia còn sử dụng lạm phát một con số làm
động lực để kích thích nền kinh tế phát triển.Lạm phát ở Việt Nam trong lịch sử đã kéo
dài nhiều năm và bùng nổ thành siêu lạm phát trong năm 1986-1988 với chỉ số tăng giá
hàng tháng ở mức cao phổ biến từ 15-20%.Tuy nhiên cũng chỉ sau khi ”con bệnh" lạm
phát bùng nổ thành siêu lạm phát với những hệ quả cực kì tai hại về kinh tế và xã hội
trong những năm nữa sau của thế kỉ 80 thì chính sách chống lạm phát,kiềm chế và đẩy lùi
lạm phát,tiến tới kiểm soát lạm phát mới thành vấn đề có ý nghĩa quan trọng chiến lược
tại Việt Nam Nước ta sau 12 năm kiềm chế được lạm phát (1995-2007) ở mức một con
số,trong thời gian này chúng ta đã kiểm soát được lạm phát.Nhưng từ tháng 12 năm
2007,do tình hình phát triển của hội nhập kinh tế chung của hội nhập khu vực và thế
giới,chỉ số giá tiêu dùng cho đến nay vẫn ở mức hai con số,trong 8 tháng đầu năm
2008,tình hình diễn biến hết sức căng thẳng.Chính phủ đã kịp thời đưa ra 8 biện pháp cả
gói để kiềm chế lạm phát.Vì thế có thể nói tình hình đã có phần dịu đi nhưng nền kinh tế
vẫn chưa ổn định,giá cả vẫn ở mức cao và chưa trở về mức khi chưa có lạm phát.Diễn
biến của tình hình lạm phát Việt Nam vẫn hết sức phức tạp cho đến nay.
3 I. TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1. Khái niệm về lạm phát
Quan điểm phổ thông cho rằng: lạm phát là hiện tượng tăng lên của giá chung tại
một thời điểm. Chúng ta có thể hiểu theo quan điểm này thì giá tăng là lạm phát, tất
nhiên là không hẳn như vậy. Chúng ta thử nghĩ xem vào dịp tết tất cả các mặt hàng hầu
nhu đều tăng giá, phải chăng đó là lạm phát? Không!đó chỉ là biến động cung cầu tạm
thời, hay nói cách khác nếu giá tăng trong thời gian ngắn thì không phải cứ coi là lạm
phát, chúng ta không nên cường điệu hóa.

pháp đo lường lạm phát cơ bản nhưng có thể cho chúng vào 3 nhóm cơ bản:
Nhóm phương pháp cơ học: việc tính toán theo phương pháp này được thực hiện
bằng cách loại bỏ một số mặt hàng khỏi rổ CPI với nguyên tắc loại bỏ những hàng hóa
đặc trưng bởi những cú sốc mạnh (có tính mùa vụ hay liên quan tới cung và giá cả không
được hình thành bởi thị trường).
Nhóm phương pháp thống kê: loại bỏ tác động của những thay đổi thái quá của giá
cả ảnh hưởng tới tỷ lệ lạm phát chung. Nhóm mặt hàng bị loại trừ thay đỏi theo từng
tháng và phụ thuộc vào độ biến dộng của giá cả của hàng hóa đó. Các phương pháp thống
kê phổ biến nhất bao gồm phương pháp bình quân thu gọn và phương pháp bình quân gia
quyền cộng dồn.
Phương pháp hồi quy: sử dụng mô hình hồi quy trong kinh tế lượng để đưa ra các số
liệu thực tế của các biến số vào đánh giá lạm phát cơ bản.
5 3. Nguyên nhân của lạm phát.
a) Lạm phát do cầu kéo.
Kinh tế học Keynes cho rằng tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động,
thì sẽ sinh ra lạm phát. Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS. Đường AD dịch sang
phải trong khi đường AS giữ nguyên khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng.Trong khi
đó,chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền
mặt cao hơn,dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng. Do đó có lạm phát. Loại lạm phát
này xuất phát từ sự thay đổi hành vi tổng cầu mang tính đột biến trong nền kinh tế.Các
nguyên nhân có thể là do chính phủ chi tiêu quá mức khi thực hiện chính sách thu chi
ngân sách mở rộng, hoặc tăng chi tiêu tiêu dùng quá mức bình thường do khu vực hộ gia
đình quá lạc quan, hoặc do khu vực hộ gia đình có nguồn thu nhập từ trên trời rơi xuống
như viện trợ nước ngoài, thu nhập do giá cả xuất khẩu tăng đột biến.
b) Lạm phát do cầu thay đổi.
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác
lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc

trị gia tăng tăng từ làm cho mức giá chung của nền kinh tế tăng.
- Lạm phát do nguồn tài nguyên cạn kiệt: khi nguồn tài nguyên chủ yếu của nền kinh
tế bị cạn kiệt( dầu mỏ) làm cho giá năng lượng tăng; hay môi trường nước bị ô
nhiễm làm cho sản phẩm nghành thủy sản tăng. Giá của từng ngành này sẽ ảnh
hưởng tới mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế.
d) Lạm phát do cơ cấu.
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động. Ngành
kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động
7

trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ
tăng giá thành sản phẩm.Lạm phát nảy sinh vì điều đó.
e) Lạm phát do xuất khẩu.
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng có hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động
cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng
cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung mất cân bằng.
f) Lạm phát do nhập khẩu.
Sản phẩm không tự sản xuất mà phải nhập khẩu. khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung
cấp nước ngoài tăng giá như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng
tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng lên. Lạm phát
hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
g) Lạm phát đẻ ra lạm phát.
Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự định duy lý sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng
hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại. Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung,
gây ra lạm phát. Đây là trường hợp dính của Việt Nam và vô cùng nguy hiểm.
4. Tác động của lạm phát :
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng của lạm phát đối
với nền kinh tế. Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế lạm phát là một nỗi lo
của toàn xă hội và ta cũng thấy được các tác động của nó.
a) Tác động đến lĩnh vực sản xuất :

động vốn ,hệ thống ngân hàng phải luôn cố gắng duy tŕ mứclăi suất ổn định. Mà lăi
9

suất thực = lăi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, muốn lăi
suất thực ổn định thì lăi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm phát .
Trong khi đó người đi vay là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền
nhanh chóng. Do vậy hoạt động của hệ thống Ngân hàng không còn bình thường nữa.
Chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế, không c̣òn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát
thì chẳng có ai tích trữ tiền mặt dưới h́nh thức tiền mặt.
II. DIỄN BIẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TỪ 2008 ĐẾN NAY
1. Năm 2008
Năm 2008 với quá nhiều con số, dữ liệu khó lường liên quan đến lạm phát đã để lại
nhiều dấu ấn đặc biệt quan trọng: chiến thắng vào những tháng gần cuối năm, nỗi ám ảnh
của một cơn “đại hồng thuỷ” về lạm phát đã không xẩy ra. Trái lại, có thể đã có một chút
quá “liều kháng sinh” nên xu hướng giảm phát đã xuất hiện ngay sau khi chặn được lạm
phát từ tháng 9, nhưng khống chế và kiểm soát được lạm phát vẫn là nét chủ đạo của
thành công kiểm soát giá cả năm 2008.
CPI năm này đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhất của CPI tính theo
năm của năm 2008 đã lên đến 30%. Kết thúc năm 2008, chỉ số CPI tăng 19.89%,
tính theo trung bình năm tăng 22.97%.

BIỂU ĐỒ CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI) NĂM 2008
10

Đến hết tháng 6/2008, lạm phát ở Việt Nam đã là 18,44% so với 31/12/2007 và 24,8%
so cùng kỳ năm trước - mức cao nhất trong 15 năm kể từ 1993 (diễn biến lạm phát 6
tháng lần lượt là: T1: 2,38%; T2: 3,56%; T3: 2,99%; T4: 2,2%; T5: 3,91%; T6: 2,14%=>6
tháng: 18,44%).
 Tiền trong lưu thông cùng với các hình thức quay vòng của nó, được phân tích và
chỉ rõ nằm ở thị trường bất động sản (BĐS) rộng lớn nhưng bị “đóng băng” ở giá cao,

2005 đến 2007 tăng 92% (trong đó
năm 2005: tăng 23,34%; năm 2006: tăng 33,59% và năm 2007 tăng 35%), trong
khi cũng 3 năm đó, GDP tăng tích luỹ khoảng 24,88% (2005: 8%; 2006:8,4% và
2007:8,48%). Như vậy, tốc độ tăng M2 trong 3 năm trước đã gấp 3,7 lần tốc độ
tăng GDP là quá cao so với cũng con số này bình quân tại các nước trong khu vực
thường không lớn hơn 1,5 lần.
ii) Ở Việt Nam từ lâu đã song song tồn tại 3 nền kinh tế độc lập tương đối
với nhau xét chủ yếu qua “cơ chế đầu vào” và một phần cơ chế sử dụng phương
tiện thanh toán hoàn toàn khác nhau gồm: (i) Khu vực kinh tế công của Nhà nước;
(ii) khu vực kinh tế tư nhân gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa và kinh tế hộ gia
đình; (iii) khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, khu vực (i), ở đầu
vào có rất nhiều nhân tố rẻ và độc quyền như: Giá quyền sử dụng đất, tiền công,
khấu hao rất rẻ nhưng năng suất lao động rất thấp, hàm lượng giá trị lao động
cao và giá trị gia tăng rất nhỏ làm cho giá cả vẫn cao; khu vực (ii) và (iii) lại có
các nhân tố đầu vào khá cao và rất cao, đồng thời hầu như có rất ít nhân tố “ưu
đãi” nên nhìn chung, “giá xuất xưởng” của hai khu vực này cao và rất cao hơn so
với “giá cả sản xuất” của khu vực (i) và giá cả (giá bán) cao hơn giá hàng nhập
khẩu của hàng hoá cùng loại nên phải dùng các loại “hàng rào” để bảo hộ đã vô
12

tình cùng lúc đẩy cả giá sản xuất trong nước và giá nhập khẩu lên cao, tách rời giá
trị thị trðờng ở mức khá lớn nên cũng là nhân tố trực tiếp đẩy lạm phát lên cao.
iii) Lý do khác đến từ tình trạng Đôla hoá ở Việt Nam còn khá nặng nề, đã
trở thành một nhóm trong những nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến chính sách
tiền tệ (CSTT) nên việc kiểm soát lạm phát càng trở nên khó lường hơn.

 Xuất phát từ bối cảnh nói trên, các quyết sách lớn từ phía Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước (NHNN) về việc chống lạm phát đã được triển khai:
Từ tháng 3/2008, đã chuyển mục tiêu tăng trưởng xuống cấp độ ưu tiên sau nhiệm vụ
chống lạm phát, theo đó, NHNN thực hiện CSTT thắt chặt và linh hoạt. Biểu hiện qua

lược như cá basa, cây công nghiệp, lương thực Khi lạm phát có chiều hướng giảm thì
NHNN chỉ đạo các NHTM chủ động hạ lãi suất cho vay trước, hạ lãi suất huy động sau để
chia sẻ khó khăn với người vay và đảm bảo lãi suất thực dương cho người gửi tiền, đồng
thời NHNN cùng “chia sẻ” khó khăn với NHTM thông qua việc trả lãi suất tiền gửi
DTBB, giảm dần mức DTBB, cho phép bán lại trước hạn tín phiếu bắt buộc, sử dụng
LSCB để phát tín hiệu và định hướng giảm dần mặt bằng lãi suất trên thị trường tín dụng
theo tín hiệu từ tốc độ giảm chỉ số giá tiêu dùng
Tất cả các giải pháp nói trên đã đi vào cuộc sống một cách đúng địa chỉ, có hiệu quả
và đảm bảo được trạng thái an toàn thị trường tài chính (nguy cơ nhất là từ giữa tháng 5
đến giữa tháng 7/2008 - nhiều NHTM trong tình trạng rủi ro thanh khoản) ngay trong
nhịp điệu giảm giá - CPI tháng sau so tháng trước liền kề trong nửa sau năm 2008 như
sau: T7: 1,13%; T8: 1,56%; T9: 0,18%; T10: -0,19%; T11:-0,76%; T12:-0,68% => cả
năm 2008:19,98%; mức tăng trưởng GDP đạt 6,23%, thấp hơn dự kiến hồi đầu năm
khoảng 2% là mức hy sinh cần thiết để chống lạm phát; hạ tỷ lệ nhập siêu cả năm xuống
còn 27% trong khi cán cân thanh toán tổng thể tiếp tục bội thu nhờ dòng vốn FDI chảy
vào tới hơn 11 tỷ USD trong số 64 tỷ USD đăng ký; cân đối được thu chi NSNN trong
giới hạn thâm hụt cho phép (dưới 5%); dự trữ ngoại tệ vẫn duy trì ở mức an toàn (tương
đương khoảng trên 3 tháng nhập khẩu bình quân tính theo năm 2008); vốn đầu tư gián
tiếp chênh lệch chảy ra so với chảy vào khoảng 0,5 tỷ USD là mức không đáng lo ngại;
đồ thị lãi suất cơ bản theo đường cong song song và phản ánh đúng xu hướng của đồ thị
lạm phát, đã dẫn đường thành công cho lãi suất thị trường tín dụng đã và đang dần trả lại
mặt bằng lãi suất cuối tháng 12/2007 – lãi suất cho vay phổ biến tại thời điểm cuối tháng
12/08, đầu năm 2009 là: 11%/năm đối với khoản vay VND ngắn hạn, 12,5%/năm với
khoản vay VND trên 1 năm, lãi suất ưu đãi: 9%/năm là các mức đã thấp hơn thời điểm
này một năm trước từ 0,5 đến 1%/năm. Tuy các khó khăn của NHTM còn nhiều, song
nguy cơ thì đã được đẩy lùi. Sự an toàn hệ thống song song với cuộc chiến chống lạm
phát thắng lợi ở mũi đột phá năm 2008 đã tạo thành một nét son rất đáng ghi nhận đối với
ngành Ngân hàng Việt Nam sau một năm đầy ắp những gian nan và thử thách.
14


tháng thấp nhất lệch nhau đến hơn 1,5%. 3 tháng đầu năm CPI tăng cao nhưng sau đó có
liền 5 tháng tăng thấp về gần mức 0%, sau đó vượt lên trên 1%vào 4 tháng còn lại của
năm. Các tháng từ 9 đến 11, mức tăng đều đạt mức kỷ lục của 15 năm trở lại đây.
Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20%. Tiếp đó là hàng ăn
(16,18%), nhà ở -vật liệu xây dựng (15,74%). Các ngành giao thông, hàng hóa và dịch vụ
khác, thực phẩm đều có mức tăng trên 10%. Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm
giasvowis mức giảm gần 6% trong năm 2010. Chỉ số giá vàng tăng 36,72%,giá USD tăng
7,63%. Về CPI của các vùng miền, đáng chú ý nhất là chỉ số CPI khu vực nông thôn
tháng 12 tăng 2,04% cao hơn 1,87% của khu vực thành thị.
16
4. Năm 2011 Một trong những vấn đề nổi cộm của nền kinh tế Việt Nam năm 2011 là lạm phát. Đã
có những tháng, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có lạm phát cao nhất thế giới.
Nếu tháng giêng năm 2011, lạm phát Việt Nam khởi điểm 7% so với cùng kỳ năm
2010 thì đúng 3 tháng sau đó, cuối tháng 4/2011, Tổng cục Thống kê Việt Nam chính
thức thông báo lạm phát hay chỉ số giá tiêu dùng (gọi tắt là CPI) nhảy vọt lên mức gần
18% so với một năm trước đó.
Với mức tăng xấp xỉ gần 18%, tốc độ leo thang của giá cả được cho là tăng nhanh nhất kể
từ hồi năm 2008.
Tuy nhiên, lạm phát Việt Nam vẫn chưa dừng lại ở đó. Lạm phát tháng 7 lên đến đỉnh
điểm, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm 2010 và tăng xấp xỉ 15% so với ngày đầu tiên
của năm 2011. Lạm phát tháng 7 của Việt Nam lúc này ở mức cao nhất Châu Á và đứng
thứ nhì thế giới, chỉ sau Venezuela.
Sau những tháng ngày được coi là hết sức khó khăn chống chọi với mức tăng giá cả,
lạm phát bắt đầu có dấu hiệu chững lại và tốc độ tăng chậm hơn trong quí 3 và đến những

lãng phí lớn nhất, hiệu quả của nó thấp nhất và có cả những nhân tố tham nhũng ở đó nữa.
Với con số khoảng 300,000 dự án đầu tư công mỗi năm, lượng tiền đổ ra cho các dự án
này lên đến nhiều ngàn tỉ đồng cộng với số tiền thất thoát 68,000 ngàn tỉ đồng của
Vinashin hay 3,000 tỉ đồng của công ty cho thuê Tài chính 2 của Ngân hàng NN và
PTNN khiến lượng tiền đổ ra thị trường quá nhiều khiến lạm phát bùng nổ là điều dễ nhận
thấy. Do đó, vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế hiện nay với mục tiêu cắt giảm chi tiêu công
đang là trọng tâm hàng đầu mà Chính phủ Việt Nam phải nỗ lực.
Có thể nói rằng, quá trình đấu tranh chống lạm phát của Việt Nam sẽ là một con đươn
với quyết tâm kiềm chế lạm phát, thậm chí đánh đổi tăng trưởng đang là những ưu tiên
hàng đầu mà Chính phủ Việt Nam thực hiện.
18 5. Năm 2012 Sự đảo chiều của lạm phát đã thật sự gây “sốc” khi chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng
9/2012 lên đến 2,2%, cao nhất kể từ 16 tháng trở lại đây (5/2011). Dịch vụ y tế & giáo
dục cùng với các đợt tăng giá xăng dầu vừa qua đã trở thành tác nhân chính khiến “cơn
bão” lạm phát có khả năng quay lại vào cuối năm

19

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2012 tăng mạnh lên 2,2%, vượt dự đoán của các
chuyên gia kinh tế và cơ quan thống kê. Nếu không có các giải pháp hữu hiệu, thời gian
tới, nền kinh tế có quá nhiều yếu tố bất lợi để “hãm phanh” và việc khống chế lạm pháp
năm 2012 sẽ trở nên nan giải. Ngay đầu tháng 8, cơ quan giám sát tài chính quốc gia đã
khuyến cáo các nhà điều hành không thể chủ quan với lạm phát. “Độ trễ” của lạm phát
bao giờ cũng nằm trong vòng 6 tháng, nếu tỉ lệ bình quân 1% / tháng trong 4 tháng cuối
năm, lạm phát sẽ là 2 con số. Điều này sẽ tác động tiêu cực tới ổn định kinh tế vĩ mô vào

mặt hàng thiết yếu thường tạo ra những “đột biến” về chỉ số lạm phát, đe dọa trực tiếp đến
20

nền kinh tế, khiến chính sách vĩ mô đi chệch hướng, việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế, giáo
dục quá lớn thường tạo thay đổi khác biệt lên CPI mà quá khứ đã từng chứng kiến vào
giai đoạn cuối năm 2010
Các cây xăng lại treo bảng “hết xăng”, dấu hiệu của đợt tăng gía mới, ngành điện lại
“ngấp nghé” lên giá khi họ có quyền được xem xét lại giá bán sau 3 tháng quy định, gas
dự kiến tăng thêm 20.000-30.000 đồng/bình (12 kg), nhiều hãng sữa vừa thông báo sẽ
tăng 3,8%-5%, Tất cả đều “nhúc nhích”, chuẩn bị cho một tăng giá hàng hóa, khiến
CPI có thể tiếp tục “bùng phát” vào quý 4/2012. Để đối phó với tình trạng này, một
chuyên gia kinh tế độc lập cho rằng, giải pháp tốt nhất lúc này là Chính phủ phải “neo”
giá của những dịch vụ công như điện, nước, xăng dầu và viện phí. Thậm chí, ngân sách
phải chấp nhận bội chi, tìm những nguồn vốn vay để tạm hỗ trợ cho nền kinh tế. Điều đó
có nghĩa, Nhà nước phải gánh nhiều hơn thay vì đẩy gánh nặng cho dân chúng và thị
trường nhằm giúp cho chỉ số CPI giảm đi.
Bên cạnh đó, các nhà điều hành chính sách vĩ mô cần phải cẩn trọng với “gói” nới
lỏng định lượng QE3 của Fed (Mỹ). Với tốc độ “bơm” 40 tỉ USD/mỗi tháng (không giới
hạn thời gian), Việt Nam và các nền kinh tế trên thế giới đang đứng trước nguy cơ nhập
khẩu lạm phát. Kinh nghiệm từ những năm về trước, mỗi lần nước Mỹ “bơm” gói định
lượng QE, giá xăng dầu và hàng hóa thế giới lại “bùng phát”, tác động mạnh đến chỉ số
CPI của Việt Nam. Một nhân tố tác động mạnh là giá vàng thế giới có xu hướng tăng, nhu
cầu đầu tư vào vàng sẽ trở lại trong lúc nguồn cung vàng trong nước bị hạn chế. Nếu
NHNN cho phép nhập khẩu vàng hoặc gia tăng nguồn cung vàng từ các thương hiệu vàng
miếng khác trên thị trường thì tỷ giá sẽ bị ảnh hưởng do nhu cầu nhập khẩu vàng tăng
cao. Tất cả những điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ nhập khẩu lạm phát từ nước ngoài do
nguyên nhân từ “gói” định lượng QE3 vừa tung ra.
Trong bối cảnh đó, để chống giảm phát và suy thoái, Chính phủ quyết định tiếp
tục giải ngân khoảng 130.000 tỷ đồng từ vôn ngân sách và trái phiếu cho các công trình
đầu tư công trong cả nước. Tuy nhiên với mức giải ngân “ồ ạt” bình quân mỗi tháng

bình chung của nền kinh tế là 5,2.
(3) Tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại diễn ra trong thời gian
dài:Trong giai đoạn 2008 – 2010 liên tục gia tăng từ mức 7,1 nghìn tỷ 2008 lên mức
115.900 tỷ đồng năm 2009 và mức 69 nghìn tỷ năm 2010; nhập siêu cũng gia tăng
mạnh từ mức 4,3 ỷ USD lên mức 12,2 tỷ USD năm 2009 và ước xấp xỉ 12,4 tỷ USD
năm 2010. Nhập siêu trong đầu năm 2011 lên đến 6,4 tỷ USD. Tình trạng này nếu tiếp
tục kéo dài đến nay gây khó khăn cho việc hoạch định triển khai chính sách tỷ giá, nỗ
lực giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ và quá trình tăng trưởng bền vững của
nền kinh tế.
22
IV. CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VIỆT NAM.
1. Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và linh hoạt theo tín
hiệu thị trường; kết hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để bảo
đảm tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng dư nợ tín dụng hằng năm không vượt quá
mức đề ra trong Nghị quyết 11. Giữ mặt bằng lãi suất hợp lý. Ðiều hành tỷ giá chủ động,
phù hợp, không để biến động lớn. Giám sát chặt chẽ hoạt động tín dụng của các ngân
hàng thương mại; bảo đảm vốn cho sản xuất; kiểm soát chặt cho vay bất động sản và kinh
doanh chứng khoán; kiểm soát nợ xấu, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống ngân
hàng.
2. Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, giảm sâu hơn bội chi ngân
sách; tăng cường tiết kiệm chi thường xuyên; rà soát, sắp xếp lại danh mục đầu tư
công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và chuyển một phần đầu tư nhà nước sang đầu tư từ
các nguồn vốn khác. Kiểm soát chặt chẽ hiệu quả đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp
nhà nước. Bảo đảm nợ công trong giới hạn an toàn.
3. Tăng cường quản lý nhà nước về giá; xử lý nghiêm khắc các hành vi tăng giá
bất hợp lý, nhất là đối với các nguyên vật liệu quan trọng và các mặt hàng tiêu dùng thiết
yếu; công khai, minh bạch và tăng cường cơ chế thị trường đối với giá các hàng xăng dầu,

lớn. Hoàn thiện cơ chế chính sách để huy động các nguồn lực cho phát triển và nâng cao hiệu quả
đầu tư; đa dạng các hình thức đầu tư theo các cơ chế BOT, BT, BTO ; đẩy mạnh hình thức hợp
tác công - tư (PPP) để phát triển hạ tầng có quy mô lớn nhằm tạo bước đột phá trong lĩnh vực
quan trọng này.
Thứ tám, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường công tác phòng, chống
tham nhũng. Cần tạo đột phá về nhận thức lý luận và chủ thuyết phát triển, củng cố giá trị chuẩn
và tạo đồng thuận xã hội chung, tăng cường cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia và đổi mới công tác
cán bộ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực hiện có hiệu quả chương trình cải cách
hành chính, chú trọng cải cách thể chế và thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và
nhân dân.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status