Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH Đề tài:
RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI Môn học: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Lớp: Ngân hàng Đêm 1 – Khóa 22
GVHD: PGS. TS. Trầm Thị Xuân Hương
Danh sách thành viên: nhóm 10
1. Nguyễn Hoàng Anh
2. Nguyễn Thị Ngọc Anh
3. Đặng Thị Thu Hương
4. Nguyễn Bùi Thiên Lý

TP. Hồ Chí Minh, năm 2014

Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 1 | P a g e

2.5. Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit) 17
2.5.1. Khái niệm: 17
2.5.2. Sơ đồ - chú thích: 17
2.5.3. Rủi ro phương thức gặp phải: 18
3. Giải pháp hạn chế rủi ro thanh toán quốc tế. 30
3.1. Đối với NHTM: 31
3.2. Đối với khách hàng: 32
3.3. Đối với Nhà nước: 32
3.4. Đối với NHNN: 32
Tài liệu tham khảo: 33

Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 3 | P a g e DANH SÁCH NHÓM 10

của một bên tham gia bị vi phạm. Rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc
chứng từ không được thanh toán, mà còn được hiểu rộng ra là bất kỳ một sự chậm
trễ nào trong các khâu của quá trình TTQT.
Rủi ro có thể xảy ra với tất cả các bên tham gia: Với người bán, rủi ro xảy ra khi
bán hàng không thu được tiền hoặc chậm thu được tiền, rủi ro về thị trường, rủi ro
không nhận hàng, rủi ro không thanh toán…; với người mua, rủi ro xảy ra khi người
bán giao hàng không đúng với các điều kiện của hợp đồng (không đúng số
lượng, chủng loại…), rủi ro không giao hàng, rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng
hoá…; với NH có liên quan, rủi ro xảy ra khi người mua hoặc người bán thiếu trung
thực, không thực hiện đúng cam kết đã ghi trong hợp đồng, do tỷ giá biến động…
1.2. Giới thiệu các Rủi ro trong thanh toán quốc tế
Sự cách biệt về địa lý, ngôn ngữ, hệ thống luật pháp, tập quán kinh doanh…làm
cho hoạt động TTQT nói riêng và nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại nói chung chứa
đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Bên cạnh các rủi ro vốn có của hoạt động ngân hàng
thương mại như: rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro thị
trường…hoạt động TTQT chứa đựng nhiều rủi ro đặc thù. Sau đây là một số loại rủi
ro mà các ngân hàng thường gặp: 1.2.1. Rủi ro quốc gia, rủi ro chính trị pháp lý
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 5 | P a g e

Là khả năng mà một quốc gia hoặc người đi vay của một quốc gia nhất định
không muốn hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ cam kết của mình với đối tác nước
ngoài. Rủi ro quốc gia có thể tồn tại các dạng sau:
Rủi ro chính trị: Tính ổn định của một quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong giao
thương quốc tế. Bất cứ một sự thay đổi nào về chính thể, chính sách của chính phủ đều
có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế.
Chẳng hạn, khi một quốc gia có chiến tranh, cuộc chiến sẽ phá vỡ mối quan hệ giữa
quốc gia lâm chiến với một số nước khác trên thế giới. Sự tàn phá của chiến tranh có thể

hợp đồng (xét về mặt thời gian, số lượng, chủng loại,…). Người mua chậm thanh toán
do chưa chuẩn bị kịp tiền thanh toán, thanh toán không đủ, hoặc thậm chí từ chối thanh
toán dù người bán đã cung ứng hàng hóa, người mua bị mất khả năng chi trả, vỡ nợ, phá
sản; bất đồng về xử lý nghiệp vụ giữa các ngân hàng đại lý, sự yếu kém về công tác quản
lý khách hàng của ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu cộng với tình trạng mất khả năng
thanh toán, phá sản của các ngân hàng này.
Ngoài các rủi ro trên, thanh toán xuất nhập khẩu còn gặp phải những rủi ro khác như:
rủi ro bất khả kháng, lừa đảo (người mua lừa người bán, hoặc người bán lừa người mua,
hoặc người mua và người bán thông đồng để chiếm đoạt các khoản tài trợ của ngân
hàng), rửa tiền,… rủi ro về thiên tai, hoả hoạn…
2. Các phương thức thanh toán quốc tế
2.1. Phương thức chuyển tiền (Remittance)
2.1.1. Khái niệm:
Đây là một phương thức thanh toán trong đó một khách hàng (người trả tiền, người
mua, người nhập khẩu…) yêu cầu NH phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho
người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ…) ở một địa
điểm nhất định. NH chuyển tiền phải thông qua đại lý của mình ở nước người hưởng
lợi để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền.
Việc chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu sau đây:
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 7 | P a g e

- Hình thức bàng điện : chuyển tiền bằng T/T và chuyển tiền thông qua hệ thống
SWIFT.
- Hình thức thư chuyển tiền (M/T)
Quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán chuyển tiền:
 Hình thức trả tiền ngay
 Hình thức trả tiền sau
 Hình thức trả tiền trước
2.1.2. Sơ đồ - chú thích


Nhà xuất khẩu phải giao hàng khi nhận được thông báo ghi có vào tải khoản của mình
tại ngân hàng.
Nhà xuất khẩu có nghĩa vụ bảo đảm giao hàng theo đúng đơn đặt hàng của người mua.
Đối với phương thức chuyển tiền trả sau và phương thức chuyển tiền trả ngay:
Nếu nhà nhập khẩu chậm lập lệnh chuyển tiền (do gặp khó khăn về tài chính hay thiếu
thiện chí thanh toán) gửi cho ngân hàng thì nhà xuất khẩu sẽ chậm nhận được tiền thanh
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 9 | P a g e

toán theo thời hạn quy định mặc dù hàng hóa đã chuyển đi và nhà nhập khẩu đã có thể
nhận được và sử dụng hàng hóa rồi.
Trường hợp nhà nhập khẩu không nhận hàng thì nhà xuất khẩu phải mất chi phí vận
chuyển hàng, phải bán rẻ hoặc tái xuất.
Do đó, nhà xuất khẩu bị thiệt hại do thu hồi vốn chậm ảnh hưởng đến sản xuất trong
tương lai trong khi ngân hàng không có nhiệm vụ và cách thức gì để đôn đốc nhà nhập
khẩu nhanh chóng chuyển tiền chi trả nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu.
Tóm lại, việc trả tiền hay không phụ thuộc vào thiện chí của nhà nhập khẩu, nhà nhập
khẩu có thể sau khi nhận được hàng nhưng không tiến hành chuyển tiền hoặc cố tình
dây dưa kéo dài thời hạn trả tiền để chiếm dụng vốn của nhà xuất khẩu quyền lợi của tổ
chức xuất khẩu không được đảm bảo. Chính vì vậy mà trong ngoại thương phương thức
chuyển tiền này chỉ áp dụng trong trường hợp các bên mua bán có uy tín và tin cậy lẫn
nhau hoặc thường dùng để thanh toán các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu như :
bảo hiểm, vận chuyển, bưu điện….
2.2. Phương thức thanh toán ghi sổ
2.2.1. Khái niệm:
Người bán mở một tài khoản hoặc một quyển sổ để ghi nợ người mua sau
khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ có thể
là tháng, quý hoặc năm người mua trả tiền cho người bán.
2.2.2. Sơ đồ - chú thích:

Sơ đồ 1.4 Quy trình trình nghiệp vụ thanh toán ghi sổ

thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu đó. Có 2 loại nhờ thu:
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 11 | P a g e

- Hình thức:
o Nhờ thu phiếu trơn (Cleancollection): Là phương thức mà người bán nhờ
NH thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu người mua, nhưng không kèm theo
điều kiện
o Nhờ thu kèm chứng từ (Documentarycollection): Là phương thức mà
người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, lập bộ chứng từ nhờ thu
(chứng từ gửi hàng và hối phiếu), nhờ NH thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu
đó. Với điều kiện là người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền mới giao
toàn bộ chứng từ gửi hàng cho người mua nhận hàng.
2.3.2. Sơ đồ - chú thích:
2.3.3. Rủi ro phương thức gặp phải:
2.3.3.1. Rủi ro trong phương thức nhờ thu trơn
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 12 | P a g e

Do việc trả tiền trong phương thức nhờ thu trơn không căn cứ vào bộ chứng từ hàng
hóa, mà chỉ dựa vào hối phiếu do nhà xuất khẩu ký pháp, do đó:
Rủi ro chủ yếu thuộc về nhà xuất khẩu, bao gồm:
Nếu nhà nhập khẩu vỡ nợ, thì nhà XK chẳng bao giờ nhận được tiền thanh toán.
Nếu năng lực tài chính của nhà nhập khẩu kém, thì việc thanh toán sẽ dây dưa, chậm
trễ và tốn kém.
Nếu nhà nhập khẩu chú tâm lừa đảo, vẫn nhận hàng nhưng từ chối thanh toán hay từ
chối ký chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn.
Đến hạn thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà nhà nhập khẩu không thể thanh toán hoặc
không muốn thanh toán (do tình hình tài chính, kinh doanh nhà nhập khẩu trở nên xấu
đi, hay nhà nhập khẩu phát sinh chủ tâm lừa đảo) thì nhà xuất khẩu có thể kiện ra tòa
nhưng rất tốn kém và không phải lúc nào cũng nhận được tiền.
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:

xuất khẩu không hề liên quan đến việc chỉ định ngân hàng xuất trình (theo
URC522, điều 11b)
 Toàn bộ hay một phần chứng từ bị thất lạc
 Số hàng hóa (mà bộ chứng từ đại diện) chỉ có thể được chuyển cho (hay theo lệnh
của) ngân hàng xuất trình với sự đồng ý của ngân hàng này từ trước. Ngoài ra,
ngân hàng không chịu bất cứ trách nhiệm nào về tổn thất hay hư hòng, mất mát
hàng hóa.
 Nhà xuất khẩu thường phải gánh chịu mọi chi phí liên quan đến công việc bảo vệ
hàng hóa của ngân hàng, cho dù ngân hàng không được yêu cầu làm công việc
này.
 Nhà nhập khẩu đã thanh toán để nhận bộ chứng từ, nhưng ngân hàng xuất trình
không chuyển cho ngân hàng chuyển chứng từ để trả cho nhà xuất khẩu. Điều
này có thể xảy ra, ví dụ khi ngân hàng xuất trình không thể hoặc phải chậm trễ
thanh toán do các giải pháo kiểm soát ngoại hối cấm chuyển ngoại tệ ra ngoài
lãnh thổ quốc gia.
 Ngân hàng xuất trình chuyển tiền cho ngân hàng chuyển chứng từ, nhưng ngân
hàng này lại chậm trễ hay bị mất khả năng thanh toán, do đó nhà xuất khẩu nhận
được tiền chậm hoặc không nhận được tiền.
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 14 | P a g e

 Nhà nhập khẩu khước từ thanh toán hay chấp nhận thanh toán, trong khi hàng
hóa đã được gửi từ trước. Dù nhà xuất khẩu có thể kiện nhà nhập khẩu theo hợp
đồng đã ký, nhưng điều này mất nhiều thời gian, trong khi hàng hóa có thể đã
được bốc dỡ và lưu kho hoặc nhà xuất khẩu đã ra lệnh chuyển chở hàng về nước.
 Hàng hóa đã được bảo hiểm đầy đủ hay chưa? Và nhà xuất khẩu có thể khiếu nại
tiền bồi thường nếu hàng hóa bị tổn thất hay hư hại không?
 Các ngân hàng không chịu trách nhiệm về bất kỳ sự chậm trễ hay thất lạc chứng
từ nào ( theo URC 522, điều 14a).
 Nếu hóa đơn thanh toán bằng ngoại tệ, nhà xuất khẩu không chịu rủi ro tỷ giá cho
đến khi nhận được tiền.

chứng từ chịu rủi ro tín dụng trong việc nhà xuất khẩu hoàn trả tiền vay.
Rủi ro đối với ngân hàng xuất trình:
Nếu ngân hàng xuất trình chuyển tiền cho ngân hàng chuyển chứng từ trước khi
nhà nhập khẩu thanh toán, thì phải chịu rủi ro nếu như nhà nhập khẩu không nhận chứng
từ và không thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán.
Nếu ngân hàng xuất trình cho nhà nhập khẩu vay để thanh toán, thì có thể chịu
rủi ro tín dụng từ phía nhà nhập khẩu.
Chịu trách nhiệm kiểm tra chứng từ nhận được xem có đủ và phù hợp với danh
mục liệt kê chứng từ gửi tới, nếu chứng từ không đủ hoặc không phù hợp thì phải thông
báo cho ngân hàng chuyển chứng từ để xin chỉ thị tiếp

2.4. Phương thức thanh toán giao chứng từ nhận tiền
2.4.1. Khái niệm:
CAD Cashagainstdocuments , hay COD: Cashondelivery là phương thức thanh toán
trong đó tổ chức nhập khẩu dựa trên cơ sở hợp đồng ngọai thương sẽ yêu cầu ngân
hàng mở một tài khoản tín thác (Trustaccount) để thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu
sau khi xuất trình đầy đủ chứng từ theo thỏa thuận.
2.4.2. Sơ đồ - chú thích:
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 16 | P a g e Sơ đồ 1.5 Quy trình phương thức giao chứng từ nhận tiền
Qui trình thanh toán:
(1) Nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở cho mình một tài khỏan tín thác, số dư tài
khỏan bằng 100% trị gía hợp đồng và nó được dùng để thanh toán cho nhà xuất khẩu,
theo đúng bản ghi nhớ (Memorandum) thỏa thuận giữa nhà nhập khẩu và ngân hàng .
(2) Ngân hàng thông báo cho nhà xuất khẩu biết .
(3) Nhà xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng
.
(4) Nhà xuất khẩu lập chứng từ xuất trình cho ngân hàng.

(1) Người mua làm đơn xin mở L/C và gửi cho ngân hàng mở L/C, yêu cầu mở L/C
cho người hưởng.
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 18 | P a g e

(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, Ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C và thông báo
nội dung L/C này cho người bán biết và gửi bản chính L/C cho người bán thông
qua ngân hàng của họ.
(3) Ngân hàng thông báo thông báo nội dung L/C cho người bán và chuyển bản chính
L/C cho người bán.
(4) Người bán giao hàng cho người mua, nếu chấp nhận L/C; nếu không chấp nhận
L/C thì yêu cầu người mua và Ngân hàng mở L/C sửa đổi L/C theo ý của mình,
đến khi chấp nhận mới tiến hành giao hàng.
(5) Người bán lập bộ chứng từ thanh toán và xuất trình cho Ngân hàng mở thông qua
ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng khách để đòi tiền.
(6) Ngân hàng mở L/C tiến hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp
với L/C thì tiến hành trả tiền cho người bán. Nếu thấy không phù hợp ngân hàng
mở từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người bán.
(7) Ngân hàng mở đòi tiền người mua.
(8) Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền lại cho Ngân
hàng mở L/C và nhận bộ chứng từ; nếu thấy không phù hợp có quyền từ chối trả
tiền.
2.5.3. Rủi ro phương thức gặp phải:
Phương thức này hiện đang được sử dụng rất phổ biến, vì nội dung của nó được thực
hiện theo “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” – UCP600 do Phòng
Thương mại Quốc tế tại Paris (ICC) ban hành (ban hành văn bản mới nhất ICC – UCP
600 có giá trị hiệu lực từ ngày 1/7/2007). Tuy nhiên, khi sử dụng phương thức này cũng
có thể xảy ra rủi ro cho các bên tham gia.
a) Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
Việc thanh toán của NH cho nhà xuất khẩu chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình mà
không căn cứ vào việc kiểm tra thực tế hàng hoá. NH chỉ kiểm tra tính hợp lệ bề ngoài

toán.Tuy nhiên, tình trạng này có thể được cải thiện nếu nhà XK lựa chọn ngân hàng
có kinh nghiệm để được tư vấn trong ký kết hợp đồng thương mại và kiểm soát L/C.
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 20 | P a g e

 Rủi ro tín dụng
Rủi ro xảy ra đối với việc chiết khấu bộ chứng từ của nhà xuất khẩu và cho vay tài trợ
xuất khẩu.
Chiết khấu chứng từ có 2 loại: chiết khấu truy đòi và miễn truy đòi, tuy nhiên hình thức
chiết khấu miễn truy đòi hầu như không được thực hiện vì nó chứa đựng mức độ rủi ro
rất cao.
Tỷ lệ chiết khấu bộ chứng từ tùy trường hợp cụ thể, có thể lên tới 95% giá trị bộ chứng
từ. Rủi ro xảy ra khi ngân hàng đã thực hiện chiết khấu chứng từ nhưng không được
ngân hàng phát hành thanh toán bởi nhiều lý do khác nhau.
Còn về cho vay tài trợ xuất khẩu thì rủi ro thường xảy ra do khách hàng sử dụng vốn sai
mục đích ban đầu, hoặc hàng hóa doanh nghiệp sản xuất ra không đủ tiêu chuẩn xuất
khẩu. Loại rủi ro này tương đối nhiều và gây thiệt hại không nhỏ cho ngân hàng.
 Rủi ro đối với L/C nhập
Khi thanh toán hàng nhập khẩu theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng đóng vai trò
ngân hàng mở L/C cho khách hàng (NHPH). Rủi ro tín dụng đã ẩn chứa ngay trong việc
ký quỹ mở L/C cho khách hàng.
 Rủi ro tín dụng
Một số doanh nghiệp không chịu thanh toán khi các chứng từ hợp lệ đã về. Họ
thường lấy lí do hàng chưa về hoặc hàng có vấn đề chờ thương lượng để cố tình trì hoãn
thời hạn thanh toán. Các ngân hàng nước ngoài có thể phạt Ngân hàng mở L/C do thanh
toán chậm, ảnh hưởng tới uy tín của Ngân hàng. Việc cho vay ký quỹ cũng như để thanh
toán hàng nhập khẩu gây thiệt hại không nhỏ cho Ngân hàng mở L/C khi một số đơn vị
nhập khẩu làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán.
Thiệt hại trong việc bảo lãnh L/C nhập hàng trả chậm. Đây chính là một hình thức
tín dụng mà ngân hàng cấp cho người nhập khẩu. Bằng uy tín của mình, Ngân hàng
đứng ra bảo lãnh các hối phiếu kỳ hạn. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp biến nó thành

Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 22 | P a g e

d) Một số tình huống trong thanh toán bằng L/C
Tình huống 1
Tháng 3/2011 Công ty may H ký hợp đồng nhập một lô hàng nguyên liệu vải may mặc
của một Công ty P ở Thái Lan. Trong HĐ quy định: Thanh toán bằng L/C không huỷ
ngang, trả ngay. Công ty may H đã mở L/C tại NH A Hải Phòng theo đúng quy định
của HĐ, công ty P giao hàng.
Sau khi người bán giao hàng xong, lập bộ chứng từ và gửi qua DHL một vận đơn gốc
cho Công ty May H còn 2/3 B/L gốc gửi cho NH cùng bộ chứng từ để thanh toán theo
L/C .
Hàng về tới cảng Hải Phòng trước khi NH A nhận được bộ chứng từ. Công ty May H
đến cảng nhận hàng và mời 1 công ty giám định chất lượng lô hàng. Biên bản giám định
kết luận hàng kém phẩm chất. Công ty May H gửi đơn cùng biên bản cho NH A yêu
cầu NH ngừng thanh toán cho Công ty P. Đồng thời Công ty may H điện khiếu nại Công
ty P về việc giao hàng kém chất lượng và yêu cầu hoặc là giao lại hàng hoá thay thế,
hoặc giảm giá lô hàng rồi mới chỉ thị cho NH A trả tiền.
Sau khi NH A nhận được bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của L/C, song để
bảo vệ quyền lợi của KH mình, NH A đã gửi fax tuyên bố ngừng trả tiền công ty P với
nội dung “chúng tôi ngừng trả tiền quý ngài bởi vì người mở L/C đã tuyên bố ngừng trả
tiền với lý do hàng hoá kém phẩm chất tại cảng đến”.
Công P một mặt khiếu nại NH A, mặt khác cử đại diện tại Việt Nam kiểm tra xác minh
chất lượng lô hàng. Đại diện đã kết luận đúng là lô hàng kém phẩm chất. Công ty P đã
đồng ý giảm 2% giá hàng cho Công ty may H.
Công ty May H chỉ thị cho NH A thanh toán 98% trị giá L/C.
1. Theo UCP600 NH A tuyên bố ngừng thanh toán cho công ty của Thái
lan là đúng hay sai?
2. Nếu NH A không chấp nhận yêu cầu của Công ty May H thì công ty có
quyền khiếu nại Công ty P của Thái Lan không?
Rủi Ro Thanh Toán Quốc Tế 23 | P a g e


thanh toán, thương lượng thanh toán hoặc thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào khác trong tín
dụng không phụ thuộc vào các khiếu nại hoặc khiến cáo của người yêu cầu phát hành
tín dụng phát sinh từ các quan hệ của họ với ngân hàng phát hàng hoặc người thụ hưởng.
Tình huống 2
Một LC có nội dung như sau:
- LC không thể hủy ngang.
- Ngân hàng phát hành L/C: NH ABC
- Mã tiền, số tiền: khoảng 50,000 USD.
- Giao hàng từng phần: cho phép.
- LC có giá trị thanh toán tại bất kì ngân hàng nào bằng thương lượng.
- Các chứng từ được yêu cầu:
- Hóa đơn: 3 bản gốc.
- Giấy CN xuất xứ.
- Vận đơn: trọn bộ 3 bản gốc, VĐ sạch, đã bốc hàng lên tàu và thông báo cho người
đề nghị mở LC.
Người thụ hưởng đã mang bộ chứng từ đi thương lượng tại NH XYZ. NH này sau khi
kiểm tra, quyết định chiết khấu miễn truy đòi, xuất trình đòi tiền NH ABC. NH ABC
sau khi kiểm tra và gửi thông báo từ chối thanh toán cho NH XYZ với lý do:
 Hóa đơn thương mại không có chữ kí nhà XK.
 C/O do người thụ hưởng phát hành.
 Giá trị bộ chứng từ 20,000 USD (< 50,000 USD theo LC).
 Trên VĐ có mục: Consignee: SIFOCO (nhà NK).
Việc từ chối thanh toán của NH ABC có hợp lý không, giải thích?
Trả lời:
Việc NH ABC gửi thông báo từ chối cho NH XYZ với lý do:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status