Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhà nước Việt Nam - Pdf 13

Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -1-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
kôùh?lôü?ñ`Þt
Nghiệp vụ thị trường mở là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ quan
trọng được Ngân hàng Trung ương các qu ốc gia sử dụng; là thị trường tiền tệ thứ cấp,
nhằm bảo đảm hỗ trợ khả năng thanh toán cho các tổ chức tín dụng và điều tiết thị trường
tiền tệ, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế.
Ở Việt Nam, nghiệp vụ thị trường mở được xem là còn khá mới để Ngân hàng Nhà
nước điều hành chính sách tiền tệ. Phiên giao dịch đầu tiên được thực hiện vào tháng
7/2000. Mặc dù vậy, việc triển khai nghiệp vụ thị trường mở cơ bản đã đáp ứng được yêu
cầu đổi mới của nền kinh tế, chuyển dần từ sử dụng các công cụ tiền tệ trực tiếp sang sử
dụng công cụ gián tiếp, giúp các tổ chức tín dụng đảm bảo khả năng thanh toán nhanh
chóng, kịp thời. Phát biểu tại “Hội nghị triển khai nghiệp vụ thị trường tiền tệ” do Ngân
hàng Nhà nước tổ chức ngày 18/2/2009, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn
Đồng Tiến nhấn mạnh: “Thị trường tiền tệ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm
bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế, tác động trực tiếp đến cung cầu tiền tệ và lãi suất
trên thị trường, từ đó giúp Ngân hàng Nhà nước thực thi một cách hiệu quả chính sách tiền
tệ quốc gia. Trong các kênh hỗ trợ vốn của Ngân hàng Nhà nước cho các Tổ chức tín
dụng, kênh thị trường mở đang ngày càng phát huy hiệu quả và trở thành công cụ điều
hành tiền tệ chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước ”. Vì vậy, nhằm hiểu rõ hơn về tình hình
hoạt động của Nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam, nhóm đã quyết định chọn đề tài:
“Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -2-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
Phần I : TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
I. Các khái niệm chung về Nghiệp vụ thị trường mở
1.1 Những vấn đề chung về thị trường mở:
1.11 Khái niệm:
Thị trường mở (Open Market) là một bộ phận của thị trường tiền tệ (Money Market)

Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh mà
để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các
mục tiêu xác định của nó.
b. Đối tác của NHTW:
󽝷 Các ngân hàng thương mại (NHTM)
Các NHTM là chủ thể thường xuyên và chủ yếu của thị trường mở, đồng thời là
“đối tác”, là khách hàng chủ yếu của NHTW trong hoạt động giao dịch mua bán
chứng từ có giá.
Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, họ tham
gia mua bán chứng từ có giá trên thị trường mở cũng không ngoài mục tiêu đó.
Chính điều này giúp NHTW điều tiết được hành vi kinh doanh của NHTM.
Các NHTM với các mạng lưới rộng khắp đã trở thành đối tác quan trọng nhất
của NHTW trong các nghiệp vụ của mình trên thị trường mở, qua đó mà tác động
một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất theo các mục tiêu và ý đồ cần đạt được trong
điều hành CSTT.
󽝷 Các định chế tài chính phi ngân hàng
Ngoài NHTM là đối tác chủ yếu và thường xuyên của NHTW trên thị trường
mở, còn có các định chế tài chính phi ngân hàng , bao gồm các công ty tài chính,
các công ty cho thuê tài chính, các công ty b ảo hiểm, các công ty chứng khoán, các
quỹ đầu tư, với tư cách là người đầu tư và kinh doanh chứng từ có giá.
󽝷 Các đối tượng khác
Ngoài các đối tượng nêu trên, thị trường mở như tên gọi của nó, còn mở rộng
cánh cửa để thu nhận các thành viên khác - nếu thỏa mãn các điều kiện quy định.
Những đối tượng này rất phong phú bao gồm các tổng công ty, các tập đoàn kinh
tế, các công ty SX TM DV, thậm chí các cá nhân cũng có thể tham gia vào thị
trường này.
1.1.3 Hàng hóa của thị trường mở:
- Tín phiếu kho bạc (Treasury Bonds)
- Tín phiếu NHTW (Central Bankl Bonds)
- Trái phiếu chính phủ (Government Bonds)

kết nào về việc bán hoặc mua lại các chứng từ đó.
b.Giao dịch mua hoặc bán có kỳ hạn (Giao dịch có hoàn lại – REPO)
Giao dịch có kỳ hạn là nghiệp vụ giao dịch mua, bán chứng từ có giá của NHTW
với các đối tác của mình, có kèm theo điều kiện là các bên giao dịch sẽ bán hoặc mua lại
các chứng từ có giá đã mua, bán trong một hợp đồng cụ thể.
Như vậy, việc Bán và phải Mua lại cũng như việc Mua và phải Bán lại là cách mà
các đối tác của thị trường, ở phải tuân thủ khi được NHTW thông báo, tức là phải giao dịch
hai chiều. Bên bán chuyển giao quyền sở hữu chứng từ có giá cho bên mua và nhận tiền từ
bên mua. Sau đó, đến kỳ hạn đã xác định bên bán mua lại chứng từ có giá đó bằng việc
chuyển tiền thanh toán để nhận lại các chứng từ có giá đã bán.
Trong nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn, các đối tác vừa đóng vai trò là người mua, vừa là
người bán. Như vậy giao dịch này mang tính chất hoán đổi SWAP.
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -5-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
1.3 Các phương thức giao dịch trên thị trường mở:
Tất cả các loại chứng từ có giá được giao dịch trên thị trường mở đều được mua
hoặc bán theo phương thức đấu thầu (Bid for contract), phương th ức này sẽ loại bỏ hoàn
toàn các yếu tố chủ quan, một chiều trong giao dịch tạo sự công bằng cho mọi đối tác tham
gia thị trường đấu thầu sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy cạnh tranh hợp pháp và lạnh mạnh.
Phương thức đấu thầu còn đòi hỏi các thành viên tham gia thị trường phải tính toán, cân
nhắc, phải phân tích, dự báo để đưa ra các quyết định trong đấu thầu một cách đúng nhất và
tốt nhất. Các thành viên sẽ thi thố tài năng để điều chỉnh cơ cấu dự trữ và tìm kiếm lợi
nhuận cao.
Trên thị trường mở, áp dụng các phương thức đấu thầu sau:
a. Đấu thầu khối lượng (Mass Tender):
Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu cho phép người người giao dịch (mua
or bán) đăng ký khối lượng (giá trị) chứng từ có giá sẽ mua hoặc bán (khối
lượng dự thầu).
Căn cứ khối lượng dự thầu, khối lượng chứng từ cần bán hoặc cần mua trong

thách.
1.4 Ưu và nhược điểm của thị trường mở:
So với các công cụ khác của chính sách tiền tệ, OMO có những ưu điểm sau:
1.4.1 Ưu điểm:
- OMO có tác động nhanh, chính sách và có thể được sử dụng ở bất kỳ mức độ
nào. Nghiệp vụ thị trường mở có thể được hoàn thành nhanh chóng, ít bị ảnh
hưởng bởi các thủ tục hành chính. Mặt khác việc thay đổi mức dự trữ hoặc cơ
số tiền tệ ở mức nhỏ, thì nghiệp vụ thị trường mở cũng đáp ứng được thông
qua việc mua hoặc bán ít chứng từ có giá. Ngược lại muốn thay đổi về dự trữ
hoặc cơ số tiền lớn thì nghiệp vụ trường mở đủ sức thực hiện điều đó thông
qua việc mua hoặc bán khối lượng lớn chứng từ có giá lớn.
- OMO rất linh hoạt. Khi có một sai lầm xảy ra trong lúc tiến hành nghiệp vụ
thị trường mở, NHTW có thể lập tức đo ngược lại việc sử dụng công cụ đó.
Nếu NHTW thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do NHTW mua ch ứng
từ có giá trên thị trường mở quá nhiều, thì NHTW sẽ sửa chữa ngay lập tức
bằng cách bán lại các chứng từ có giá vừa mua.
- OMO là công cụ chính sách tiền tệ chủ động, cho phép NHTW có thể tạo ra
những biến động có khả năng hướng dẫn xư hướng thị trường trên cơ sở dự
báo nhu cầu vốn khả dụng.
- Mặt khác, việc hoàn thành nghiệp vụ thị trường mở không phụ thuộc nhiều
lắm vào ý thích chủ quan của các đối tác. Lợi dụng tác động của các lực lượng
thị trường, NHTW có thể buộc các đối tác có thể hoạt động theo mục tiêu của
mình. Khả năng sử dụng công cụ này hơn hẳn so với nghiệp vụ tái chiết khấu.
Ở nghiệp vụ tái chiết khấu, NHTW có thể khuyến khích hoặc hạn chế khối
lượng tái chiết khấu và có thể chống chế hạn mức tái chiết khấu nhưng không
thể kiểm soát được nhu cầu tái chiết khấu của NHTM.
1.4.2 Nhược điểm:
- Sự can thiệp của NHTW có thể trở nên vô hiệu khi có tác động ngược chiều,
chẳng hạn do mất cân đối trong cán cân thanh toán hoặc số dư tiền gửi ngân
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

xét, đánh giá tình hình kinh tế, thị trường tài chính trong và ngoài nước và lập kế hoạch cho
các hoạt động của CSTT.
u󰗂?⁄Ÿ‹£?⁄›Ž?¦﹁\?⁄󰗌?‒︹‹£?«[K FOMC tổ chức OMO thông qua việc mua, bán trái
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -8-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
phiếu Chính phủ, trong đó tín phiếu KBNN được giao dịch nhiều nhất trên thị
trường
mở bởi tín phiếu KBNN có tính thanh khoản cao và Chính phủ có dung lượng bán ra lớn
nhất.
u󰗂?fi⁄‹£?⁄﹃¦?J󰗂·?⁄Ÿ‹⁄, FOMC là cơ quan có quyền ra quyết định OMO. Tuy nhiên,
cơ quan thực sự tiến hành các hoạt động của thị trường mở là Phòng kinh doanh tại Ngân
hàng Dự trữ Liên bang Newyork. Hàng ngày, giám đốc bộ phận kinh doanh phân tích
tình hình thực tế dựa trên cơ sở báo cáo đánh giá tổng số tiền dự trữ trong hệ thống ngân
hàng của đêm hôm trước, mức lãi suất liên bang hiện hành, kết hợp với thông tin từ Kho
bạc Mỹ, sau đó đối chiếu với thông tin từ FOMC cho biết tỷ lệ tăng trưởng của lượng
tiền cung ứng và mức vốn liên bang mà Uỷ ban muốn đạt được. Sau khi đã có đầy đủ
thông tin, giám đốc bộ phận kinh doanh sẽ tiến hành cuộc họp bằng điện thoại thường
ngày với các thành viên của FOMC và vạch ra chiến lược hoạt động. Khi kế hoạch được
thông qua, phòng kinh doanh tiến hành liên lạc với các nhà kinh doanh chính để thực
hiện quá trình bơm/hút lượng tiền cung ứng. Một cách thông thường, trong trường hợp
cân đối được lượng tiền cung ứng trong dài hạn, FOMC sẽ can thiệp trên thị trường mở
bằng nghiệp vụ mua hoặc bán hẳn. Những trường hợp việc điều tiết lượng tiền cung ứng
chỉ trong ngắn hạn do mức độ thâm hụt hay nhu cầu vốn chỉ mang tính chất tạm thời,
FOMC sử dụng nghiệp vụ mua lại hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược.
Khi thực hiện nghiệp vụ mua hoặc bán hẳn, FOMC áp dụng theo phương pháp đấu thầu lãi
suất. Khi tham gia giao dịch, các thành viên tham gia đặt giá mua hoặc bán cho từng loại
GTCG. Khi xét thầu, FOMC sẽ lựa chọn bán GTCG thành viên đặt mua với giá cao nhất -
lãi suất thấp nhất và mua GTCG của các thành viên có giá bán thấp nhất - lãi suất cao nhất.
Khi thực hiện nghiệp vụ thoả thuận mua lại, FOMC thực hiện giao dịch với các

dụng thường xuyên và ngày càng quan trọng trong việc
thực thi CSTT. Thành
viên tham gia thị trường mở là các NHTM và OMO được BOJ tổ
chức thông
qua nối mạng vi tính với các thành viên tham gia.
gŸ‹£?⁄›Ž?£\›?󰗌¦⁄ trên thị trường mở là trái phiếu Chính phủ, trái phiếu của doanh
nghiệp Nhà nước và được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc ghi sổ. Tuy nhiên, cho đến
nay, thị trường tín phiếu KBNN vẫn là cơ sở quan trọng cho các hoạt động của thị trường mở
của Nhật Bản.
o⁄‹£? ⁄﹃¦? £\›? 󰗌¦⁄ được áp dụng trong OMO của BOJ ban đầu là giao dịch
mua, bán có kỳ hạn thông qua hợp đồng mua lại theo lãi suất cố định, sau phương thức giao
dịch được chuyển sang thực hiện trên cơ sở mua, bán GTCG theo giá thị trường thông qua
hình thức đấu thầu nhằm nâng cao khả năng điều chỉnh lãi suất trên thị trường. Ngân hàng
Trung ương Nhật Bản tổ chức đấu thầu không chỉ thực hiện theo định kỳ mà còn tổ chức
đấu thầu nhanh trong đó khối lượng GTCG mà BOJ cần mua được xác định và thực hiện
ngay trong ngày điều này góp phần nâng cao tính linh hoạt của thị trường mở.
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -10-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
Việc thanh toán được thực hiện như sau: trong trường hợp mua hẳn, bán hẳn, tiền
mua trái
phiếu Chính phủ được thanh toán ngay trong ngày T + 0 hoặc sau một
ngày T + 1, 2, 3
đối với trái phiếu của doanh nghiệp Nhà nước. Trong trường hợp
mua, bán có kỳ hạn, thời
gian thanh toán là T + 0, 1, 2 đối với trái phiếu Chính phủ và T + 1, 2 đối với trái phiếu
của doanh nghiệp Nhà nước .
2.3 Ngân hàng Trung ương Thái Lan
Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BOT - Bank
of Thailand) thực hiện OMO thông qua mua,

OMO nhằm tăng cường khả năng can thiệp của BOT trên cả thị trường tiền tệ và
thị trường ngoại hối. Ví dụ, BOT phát hành tín phiếu BOT một/hai lần trong
tuần vào các ngày thứ ba, thứ năm, thứ sáu. Danh mục các GTCG đủ điều
kiện sử dụng trên thị trường mở được mở rộng bao gồm cả chứng khoán nợ
có đảm bảo của các cơ quan quản lý chính quyền địa phương; BOT coi việc
thiết lập hệ thống các nhà giao dịch sơ cấp như là một đối tác bổ sung trên thị
trường mở, nhằm tăng cường sự ảnh hưởng của OMO đến thị trường tài chính.
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -12-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
Phần II : TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ
TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
I. Cơ sở pháp lý cho việc hình thành nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam:
1.1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngoài các điều kiện vĩ mô về tiền tệ ngân hàng thì Luật NHNN Việt Nam có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/10/1998 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự ra đời và hoạt động
thị trường mở. Theo quy định tại Điều 21 Luật NHNN (Luật số 06/1997/QHX): "Ngân
hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán tín phiếu kho
bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân h àng Nhà nước và các loại giấy tờ có giá ngắn hạn
khác trên thị trường tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia”
1.2 Luật các Tổ chức tín dụng
Luật các Tổ chức Tín dụng tại điều 104 quy định NHTM được tham gia đấu thầu
tín phiếu KBNN, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu
KBNN, tín phiếu NHNN và các GTCG trên thị trường tiền tệ; điều 111 quy định
các công ty tài chính được tham gia thị trường tiền tệ theo quy định tại điều 104 của
Luật này.
1.3 Quy chế Quản lý vốn khả dụng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định bơm/hút tiền qua thị trường mở phải căn cứ
vào vốn khả dụng của toàn hệ thống ngân hàng, do đó việc quản lý và dự báo
vốn khả

thành viên tham gia.
1.5. Các văn bản khác
Sau khi Quyết định số 85/2000/Qđ-NHNN14, NHNN đã ban hành một loạt Quyết
định, tạo nên một hệ thống các văn bản pháp lý tương đối đồng bộ cho phép hoạt
động thị trường mở được triển khai một cách có hiệu quả như : Quyết định số 87/2000/Qđ-
NHNN9 ngày 13/3/2000 về việc thành lập Ban điều hành OMO ,Quyết định số
171/2000/Qđ-NHNN18 ngày 25/5/2000 về việc đăng ký GTCG ngắn hạn đi kèm là Quy
định về việc đăng ký GTCG ngắn hạn và hiện nay được thay thế bằng Quy chế lưu ký
GTCG tại NHNN ban hành kèm theo Quyết định số 1022/2004/Qđ-NHNN ngày 17/8/2004,
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -14-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
bổ sung Quyết định số 1909/2005/Qđ-NHNN ngày 30/12/2005 NHNN về việc các TCTD
sử dụng một số loại trái phiếu trong các giao dịch tái cấp vốn của NHNN, Quyết định số
362/1999/Qđ-NHNN1 ngày 08/10/1999 về việc ban hành Quy chế phát hành tín phiếu
NHNN, Quy trình nghiệp vụ đấu thầu tín phiếu NHNN ngày 06/4/1999, Quyết định số
906/2002/Qđ-NHNN ngày 26/8/2002 về việc ban hành quy chế chiết khấu và tái chiết khấu
của NHNN đối với các NHTM.
Trong quá trình thực hiện, NHNN đã có nhiều văn bản sửa đổi, bổ sung như: Quyết
định số 1439/2001/Qđ-NHNN ngày 20/11/2001 về việc sửa đổi một số điều trong
Quy chế Nghiệp vụ thị trường mở, Quyết định số 877/2002/Qđ-NHNN ngày
19/8/2002 về việc sửa đổi điều 1 Quyết định 1439/2001/Qđ-NHNN ngày 20/11/2001;
Quyết định số 1085/2003/Qđ-NHNN ngày 16/9/2003 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
trong Quy chế Nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 85/2000/Qđ-
NHNN và Khoản 4 điều 1 Quyết định số 1439/2001/Qđ-NHNN. Công văn số 737/CV-
SGD ngày 09/4/2003 về việc bổ sung mã số GTCG tham gia giao dịch OMO, Công
văn số 2069/CV-SGD ngày 22/10/2003 bổ sung mã số GTCG tham gia OMO. Công văn
số 901/CV-THNH ngày 07/12/2004 của NHNN hướng dẫn vận hành phần mềm OMO qua
mạng tại thành viên và chi nhánh NHNN được uỷ quyền, Công văn số 902/CV-THNH ngày
07/12/2004 hướng dẫn vận hành phần mềm OMO qua mạng.

Vụ Tín dụng: cung cấp số liệu chính xác về hoạt động tái cấp vốn cho Ban điều hành
nhằm kịp thời hỗ trợ trong những quyết định điều tiết thị trường mở như khối lượng GTCG
sẽ đấu thầu, lãi suất đấu thầu, phương thức giao dịch, … Bên cạnh đó, Vụ Tín dụng còn
phối hợp với các đơn vị có liên quan trong quá trình triển khai OMO.
Sở Giao dịch: ban hành quy trình OMO. Phối hợp với Vụ Chính sách tiền tệ và Vụ
Tín dụng. Thực hiện xem xét, công nhận TCTD là thành viên tham gia OMO. Trên cơ sở
khối lượng GTCG trúng thầu của các TCTD, Sở giao dịch thực hiện các giao dịch mua,
bán GTCG và thực hiện thanh toán, hạch toán kế toán theo quy định. Chịu trách nhiệm
tổng hợp, theo dõi và báo cáo thông tin về thị trường mở gửi Ban điều hành, Vụ tín dụng,
Vụ Chính sách tiền tệ. Đồng thời, cung cấp các thông tin OMO tới các TCTD.
Vụ Tài chính – kế toán: là bộ phận hướng dẫn quy trình hạch toán kế toán liên quan
đến OMO.
Cục Công nghệ tin học: cài đặt chương trình phần mềm và đảm bảo hạ tầng mạng
truyền thông cho OMO hoạt động ổn định, an toàn và bảo mật. Thông báo quy định mả số,
mã khóa, chữ ký điện tử cho những thành viên tham gia OMO.
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -17-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
2.2 Hàng hóa giao dịch
Bảng: Danh mục giấy tờ có giá giao dịch trên thị trường mở
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Từ năm 2000 đến 2002, hàng hóa giao dịch là tín phiếu KBNN, tín phiếu NHNN.
Tuy nhiên, khối lượng phát hành tín phiếu KBNN không nhiều (năm 2000 là 4.521 tỷ
đồng, năm 2001 là 3.736 tỷ đồng, năm 2002 là 7.969 tỷ đồng), tín phiếu NHNN chỉ phát
hành rất hạn chế. Ngoài ra, 2 loại GTCG này lãi suất thấp nên không hấp dẫn các TCTD,
nên việc mua bán GTCG này chỉ tập trung ở các NHTM Nhà nước. Vì vậy, khả năng tham
gia thị trường mở của các TCTC là hạn chế.
Từ năm 2003, OMO được thực hiện trên cơ sở “mua,
bán ngắn hạn tín phiếu KBNN, chứng chỉ tiền gửi, tín
phiếu NHNN và các loại GTCG khác trên thị trường tiền

Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -20-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
2.4 Thời gian giao dịch và thời gian thanh toán
Thời gian giao dịch: được xác định theo số phiên giao dịch/ ngày hoặc số phiên giao
dịch/ tuần. Năm 2000, khi mới triển khai, các phiên giao dịch trên thị trường mở được tổ
chức định kỳ với chu kỳ 10 ngày cho một phiên giao dịch. Năm 2001, OMO được tổ chức
với tần suất 1 phiên giao dịch/ tuần vào thứ tư hàng tuần. Sang năm 2002, NHNN tăng định
kỳ tổ chức các phiên là 2 phiên giao dịch/ tuần vào các ngày thứ ba và thứ năm hàng tuần.
Ngoài ra, trong những trường hợp đặc biệt, NHNN tổ chức các phiên đấu thầu đột xuất
theo ngày, khi các TCTD cần nhiều hơn số vốn đáp ứng nhu cầu chi trả, NHNN tổ chức 2
phiên giao dịch/ ngày. Tháng 11/2004, NHNN áp dụng định kỳ 3 phiên giao dịch/ tuần vào
các ngày thứ hai, thứ tư và thứ sáu của tuần nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng
cho các TCTD. Từ năm 2007, NHNN thường xuyên thực hiện 2 phiên giao dịch/ ngày, chủ
yếu với lệnh chào mua GTCG đồng thời chào bán tín phiếu KBNN vào buổi chiều. Điều
này tăng khả năng quản lý, điều tiết thị trường của NHNN thông qua OMO.
Thời gian thanh toán: có sự thay đổi qua các năm. Năm 2000, NHNN áp d ụng thời
gian thanh toán sau 2 ngày kể từ ngày đấu thầu T+2. Sang năm 2001, thời gian thanh toán
giảm xuống còn T+1. Và từ năm 2002 đến nay, việc thanh toán được thực hiện ngay trong
ngày đấu thầu T+0. Điều này giúp NHNN có thể điều tiết vốn khả dụng của nền kinh tế.
Ngoài ra, giúp các TCTD linh hoạt và chủ động kế hoạch lượng vốn cho hoạt động kinh
doanh.
Bảng: Số lượng các phiên giao dịch và định kỳ giao dịch trên thị trường mở
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -21-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
2.5 Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở
Nhìn chung, lãi suất OMO khá bám sát các lãi suất khác của NHNN công bố như lãi
suất cơ bản, lãi suất TCV và lãi suất chiết khấu. Lãi suất trúng thầu thường nằm giữa mức

Khối lượng giao dịch tối đa trong một phiên qua các năm cũng có nhiều thay đổi.
Năm 2000, khối lượng giao dịch tối đa trong một phiên chỉ khoảng 300 tỷ đồng, năm 2003
là 1.500 tỷ đồng. Trong các năm 2008, 2009 trư ớc những biến động bất thường của thị
trường, nhằm đáp ứng khả năng thanh toán cho các TCTD, doanh s ố giao dịch có phiên là
10.000 – 15.000 tỷ đồng. Sang năm 2010, gần đến thời điểm cuối năm, doanh số giao dịch
có phiên 20.000 tỷ đồng. Điều này góp phần ổn định thị trường tiền tệ ngay tức thì, đáp
ứng yêu cầu điều tiết vốn khả dụng của các thành viên tham gia thị trường mở.
Tình hình hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
GVHD: PGS.TS.Trương Thị Hồng Trang -24-
Thực hiện: Nhóm 6 –Lớp CH Ngân hàng đêm 4-K19
III. Những kết quả đạt được
3.1 Cơ chế và quy trình OMO đã được không ngừng cải tiến và hoàn thiện
Về cơ bản, các vướng mắc về cơ chế, quy trình và hạ tầng kỹ thuật đã được từng
bước xử lý, khắc phục. Công tác tổ chức, điều hành hoạt động OMO của NHNN được thực
hiện bài bản, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong các phiên giao dịch.
Các GTCG được sử dụng trong OMO đã được mở rộng bằng quyết định số
01/2007/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở và quyết định số
11/2010/QĐ-NHNN về danh mục giấy tở có giá được sử dụng trong các giao dịch của
NHNN. Đến nay, nghiệp vụ thị trường mở được hiểu là việc NHNN thực hiện mua, bán
ngắn hạn các loại GTCG với các tổ chức tín dụng.
Quy trình thanh toán từng bước được rút ngắn. Từ thanh toán sau 2 ngày kể từ ngày
đấu thầu (T+2) năm 2000, thanh toán sau ngày đ ấu thầu 1 ngày (T+1) năm 2001 và từ năm
2002 đến nay việc thanh toán được thực hiện ngay trong ngày đấu thầu (T+0).
Tần suất giao dịch cũng được từng bước tăng cường từ 10 ngày/phiên trong thời gian
bắt đầu hoạt động lên 1 tuần/phiên trong năm 2001, 2 phiên/t uần năm 2002. Từ tháng
11/2004 hoạt động OMO đã thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, góp phần điều tiết kịp thời vốn
khả dụng của TCTD. Hiện nay, NHNN đã thực hiện giao dịch hằng ngày và tổ chức thêm
các phiên giao dịch đột xuất (cá biệt 2 phiên/ngày), giúp các TCTD đáp ứng kịp thời vốn
đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ và an toàn hệ thống.
Thủ tục đấu thầu ngày càng được cải tiến. Nhất là từ ngày 15/12/2004, NHNN đã bắt

CSTT nói chung.
3.4 Hoạt động OMO góp phần phát triển thị trường tiền tệ, hỗ trợ các TCTD sử
dụng vốn hiệu quả
Thông qua hoạt động OMO, tính thanh khoản của các GTCG do các TCTD nắm giữ
được tăng cường. Điều này góp phần thúc đẩy hoạt động của thị trường sơ cấp, giúp cho
các TCTD yên tâm hơn khi đầu tư vào các trái phiếu dài hạn của Chính phủ, khuyến khích
các hoạt động mua bán lại trái phiếu chính phủ.
Nhiều TCTD không chỉ coi việc đầu tư vào trái phiếu chính phủ là hình thức đầu tư
an toàn mà còn là hình thức dự trữ thanh khoản có hiệu quả cao. Khi cần thiết để đảm bảo
khả năng thanh toán, các TCTD có th ể sử dụng các GTCG trong các giao dịch OMO cũng
như các nghiệp vụ thị trường tiền tệ nói chung, tạo điều kiện cho các TCTD điều chỉnh cơ
cấu đầu tư theo hướng tăng tỷ suất đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Qua theo dõi, phân tích các kết quả hoạt động OMO được công bố rộng rãi trên các
phương tiện thông tin, các TCTD có thể tham khảo về diễn biến thị trường để quyết định
việc tham gia các hoạt động thị trường tiền tệ, nắm bắt tín hiệu về định hướng điều hành
CSTT của NHNN để có hướng cân đối nguồn vốn thích hợp.

Trích đoạn Nguyên nhân Phát triển cơng nghệ tin học ứng dụng Hồn thiện cơng tác dự báo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status