Huy động vốn từ phát hành trái phiếu chính phủ Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế - Pdf 13

Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với mọi nền kinh tế, vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản và
quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt
trong thời đại ngày nay, nhu cầu về vốn lại ngày càng đa dạng. Với các nước phát triển do
nguồn vốn khá dồi dào họ tìm kiếm thị trường nước ngoài để đầu tư và thực hiện xuất
khẩu vốn tư bản sao cho vốn được sử dụng tối ưu. Riêng đối với các nước đang phát triển
do nguồn vốn hạn hẹp, chưa đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nên
thường tìm cách tìm kiếm, thu hút nguồn vốn từ trong nước cũng như nước ngoài như
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA,
huy động từ thị trường vốn quốc tế, và từ các nguồn khác.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế nêu trên. Hiện nay, nước ta đã và đang
thực hiện những chính sách huy động và sử dụng vốn đầu tư trong nước và nước ngoài
với quy mô và tốc độ tăng ngày càng cao cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, với tình hình
hiện tại trong nước, khi mà tỷ lệ lạm phát gia tăng quá mức cùng với sự khủng hoảng về
tiền mặt tại các ngân hàng làm cho việc vay vốn đầu tư kinh doanh của khu vực các
doanh nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn, nguồn vốn hỗ trợ từ nước ngoài mà lâu nay
chúng ta phụ thuộc ngày càng bị thu hẹp, hoạt động thu hút vốn từ các nguồn truyền thống
trở nên khó khăn hơn lúc nào hết. Chính lúc này thì thị trường trái phiếu tỏ ra là một lựa
chọn thích hợp, đặc biệt là thị trường trái phiếu quốc tế do những ưu điểm của thị trường
này đem lại cho nhà đầu tư và những tồ chức muốn huy động vốn. Đây thực sự là một
kênh huy động vốn hiệu quả mà Chính phủ và các doanh nghiệp nên tìm hiểu và tận
dụng để phục vụ cho nhu cầu phát triển.
Tuy Chính phủ Việt Nam đã phát hành trái phiếu quốc tế lần đầu tiên vào năm
2005 nhưng nhìn chung thì loại hình huy động vốn này vẫn còn khá mới mẻ. Việc nghiên
cứu để tiến tới phát hành thêm nhiều đợt trái phiếu chính phủ ra thị trường trái phiếu quốc
tế tạo ra một kênh huy động vốn mới là rất cần thiết, có ý nghĩa chiến lược đối với phát
triển kinh tế và chuẩn bị từng bước tham gia vào thị trường vốn quốc tế. Với mong muốn
đưa ra những khái niệm cơ bản và có cái nhìn cận cảnh hơn về quá trình cũng như
những kết quả đạt được, những hạn chế trong quá trình phát hành trái phiếu quốc tế trong
bối cảnh Việt Nam, em xin phép được giới thiệu đề tài: “Huy động vốn từ phát hành trái

đãi của các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức
thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang phát
SVTH : Lê Thị Phượng 2
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
triển. Nguồn vốn ODA được thực hiện theo một cam kết hay một hiệp định vay vốn được
ký giữa chính phủ các nước đi vay (nước nhận đầu tư) và tổ chức cho vay.
- Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế: Là nguồn vốn mà
cac nước nhận vốn vay sau một thời gian phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho nước cho vay.
Các nước cho vay vốn thu lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức
vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư,
thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh và trực tiếp tham gia quản lý điều hành, tổ chức sản
xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý, nhằm mục đích
thu lợi nhuận.
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế: Huy động thông qua phát hành trái
phiếu và cổ phiếu trên thị trường vốn quốc tế,
2. THỊ TRƯỜNG VỐN QUỐC TẾ
2.1. Khái niệm
Thị trường vốn quốc tế là nơi thực hiện chuyển giao hay mua bán vốn với thời hạn
trên một năm giữa những người cư trú và không cư trú (chính phủ, các công ty nước
ngoài).
2.2. Đặc điểm
- Mang đặc trưng của thị trường vốn với mục đích đầu tư phát triển dài hạn. Thị
trường vốn quốc tế dành cho các khoản vốn dài hạn, và vì thời gian luân chuyển vốn trên
thị trường vốn này dài nên công cụ trên thị trường vốn quốc tế có độ rủi ro cao hơn và tất
nhiên sẽ mang lại lợi tức cao hơn.
- Lợi nhuận của nhà đầu tư sẽ phụ thuộc nhiều vào hoạt động của thị trường vốn
quốc tế (thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu quốc tế).
- Đây là thị trường lớn với nhiều người vay và cho vay hơn, cũng như sự cạnh tranh

- Thị trường vốn quốc tế rất hữu ích cho việc giảm rủi ro của các công ty nhỏ, vì
trong thị trường quốc tế, các công ty này có thể mua trái phiếu, cổ phiếu từ các công ty của
các quốc gia khác nhau, vì vậy tránh được rủi ro trong trường hợp có quốc gia nào đó đối
mặt với chiến tranh hay khủng hoảng tài chính thông qua việc phân tán rủi ro sang các
quốc gia khác.
SVTH : Lê Thị Phượng 4
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
4. PHÂN LOẠI
4.1. Thị trường trái phiếu quốc tế
4.1.1.Trái phiếu và trái phiếu quốc tế
Trái phiếu (bond) là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của một tổ chức phát
hành đối với nguời sở hữu (trái chủ) trong đó cam kết sẽ trả khoản nợ kèm theo tiền lãi
trong một thời hạn nhất định. (Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ, đại học Kinh tế
quốc dân, xuất bản năm 2009)
Trái phiếu quốc tế (international bond) là chứng chỉ ghi nợ do nhà phát hành bao
gồm chính phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế của một nước hay các tổ chức
tài chính quốc tế phát hành trên thị trường vốn quốc tế nhằm huy động vốn từ các nhà đầu
tư trên thế giới
4.1.2.Khái niệm, vai trò và hạn chế của thị trường trái phiếu quốc tế
a. Khái niệm
Thị trường trái phiếu quốc tế là thị trường có kỳ hạn từ một năm trở lên, tại đó những
người đi vay và cho vay từ nhiều nước gặp nhau để trao đổi vốn cho nhau. Thị trường này
là nơi mua bán trái phiếu giữa các chủ thể cư trú và không cư trú.
Thị trường trái phiếu quốc tế bao gồm:
- Thị trường trái phiếu nội địa: trái phiếu nội địa là trái phiếu được phát hành bằng
đồng nội tệ, trong phạm vi lãnh thổ quốc gia do người cư trú phát hành. Những nhà đầu tư
trái phiếu nội địa thường là người cư trú và người không cư trú.
- Thị trường trái phiếu nước ngoài: trái phiếu nước ngoài là trái phiếu do người không
cư trú phát hành, ghi bằng đồng nội tệ, và được phát hành tại nước có đồng tiền ghi trên

4.1.3.Các công cụ và chủ thể trên thị trường trái phiếu quốc tế
a. Các công cụ
 Căn cứ vào đặc điểm của trái phiếu
- Trái phiếu được đảm bảo
- Trái phiếu chuyển đổi
- Trái phiếu thả nổi, v.v…
 Căn cứ vào thị trường (đồng tiền ghi trên trái phiếu)
- Trái phiếu nước ngoài (global bonds)
SVTH : Lê Thị Phượng 6
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
- Trái phiếu châu Âu (Eurobond)
 Căn cứ vào thu nhập
- Các công cụ nợ thu nhập cố định
- Các công cụ nợ với thu nhập biến đổi (lãi suất thả nổi)
b. Các chủ thể
 Các chủ thể phát hành trái phiếu quốc tế

- Chính phủ các nước:
• Chính phủ và các cơ quan chức năng được uỷ quyền
• Chính quyền các địa phương hay tiểu bang
- Các tổ chức quốc tế
• Ngân hàng thế giới (WB)
• Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
• Ngân hàng châu Âu (EIB)
- Các doanh nghiệp lớn
• IBM,
• Deutsche bank, v.v
 Các chủ thể đầu tư trái phiếu quốc tế
- Đầu tư trái phiếu quốc tế chủ yếu là khu vực tư nhân

- Chi phí phát hành và sử dụng vốn thấp, đồng thời phát huy được những lợi thể của
việc huy động vốn bằng phát hành trái phiếu
 Đối với chính phủ của các nước đang phát triển và các chủ thể phát hành chưa có uy
tín lớn
- Chi phí phát hành lớn
- Ghi danh bằng ngoại tệ mạnh
- Khả năng quản lý sử dụng kém
- Không thể tận dụng ưu thế nợ luận chuyển
SVTH : Lê Thị Phượng 8
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
=> Dễ gây ra gánh nặng nợ nước ngoài
4.2. Thị trường cổ phiếu quốc tế
4.2.1.Cổ phiếu
Cổ phiếu chính là là trái quyền về vốn đối với thu nhập ròng và tài sản của một
công ty; tức là nó chứng thực quyền sở hữu một phần của công ty và quyền được chia cổ
tức. (Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ, đại học Kinh tế quốc dân, xuất bản năm 2009)
Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 2 dạng cổ phiếu: Cổ
phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
4.2.2. Khái niệm,vai trò và hạn chế của thị trường cổ phiếu quốc tế
a. Khái niệm
Thị trường cổ phiếu quốc tế là những nơi mua bán cổ phiếu được phát hành bởi
các công ty nước ngoài. Thị trường này được hình thành dựa trên cơ sở:
 Công ty nước này niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán nước khác
 Các công ty đa quốc gia có thể cùng lúc niêm yết tại nhiều sở giao
dịch ở các nước khác nhau
 Sự hợp tác hay quốc tế hoá sở giao dịch cổ phiếu của một số nước:
Euronext, Singapore, NYSE, v.v…
b. Vai trò
- Tăng khả năng gọi vốn đầu cho các công ty ở các nước khác nhau, do vậy tận dụng lợi

VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG VỐN QUỐC TẾ.
1.1. Sự cần thiết phải phát hành trái phiếu chính phủ Việt Nam trên thị trường
vốn quốc tế.
1.1.1. Nhu cầu ngày càng lớn về vốn đầu tư và ngoại tệ của Việt Nam chưa được đáp
ứng.
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu vốn đầu tư của
Việt Nam là rất lớn và ngày càng tăng. Trong khi đó, các nguồn huy động trong nước
SVTH : Lê Thị Phượng 10
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
không đáp ứng được nhu cầu này, nhiều nguồn huy động từ nước ngoài có xu hướng giảm
dần trong tương lai, nhiều nguồn khác lại khó khăn trong huy động. Vì thế, việc phát hành
trái phiếu chính phủ Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế làđiều tất yếu.
Trước hết, vốn đầu tư có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam: Tỷ trọng
vốn đầu tư trên GDP của Việt Nam liên tục gia tăng, năm 1990 đạt 17,3%, hiện nay
khoảng 40-45%, Tính trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam là
39.7%. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư/GDP lên đến 43.1%, năm 2010 khoảng 41%. Đóng góp của
vốn vào tăng trưởng GDP tuy giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn ở vị trí chủ đạo.
Nếu tính theo tỷ lệ, giai đoạn 2003 đến nay nhân tố vốn đóng góp trung bình khoảng
52,73% vào tăng trưởng GDP.
Có thể thấy trong những năm qua, vốn đầu tư đã đóng góp một phần rất lớn vào sự
tăng trưởng, và trong tương lai, để có thể bước nhanh hơn trong tiến trình hội nhập
và đạt được tố độ tăng trưởng cao hơn thì nhu cầu vốn của Viêt Nam là rất lớn, đặc biệt
là vốn để phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, Việt Nam cũng như hầu hết các nước đang
phát triển khác, không nằm ngoài vòng luẩn quẩn của các nước nghèo, khả năng tích lũy
vốn từ trong nước còn rất thấp, phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ bên ngoài và thường
không thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này
Nguồn vốn trong nước hoàn toàn không thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, cụ
thể là:
- Ngân sách nhà nước thường xuyên thâm hụt, nguồn vốn nhà nước không đủ đáp

thụ động và không phải lúc nào cũng vay được. Vì vậy, nếu huy động vốn quốc tế thông
qua pháthành tái phiếu chính phủ thì không những tiếp cận được với nguồn vốn mới,
mà còn khắc phục được những hạn chế trên, đây là nguồn vốn không bị nhiều ràng buộc,
có thể huy động lượng tương đối lớn và lãi s./uất thấp. Đó cũng là lý do vì sao giai đoạn
2005-2012, chính phủ Việt Nam đã phát hành 3 đợt trái phiếu chính phủ trên thị trường
vốn quốc tế nhằm mục đích huy động vốn đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội.
Năm 2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự kiến cần phải huy động cho đầu tư phát triển
khoảng 554.000 tỷ đồng, tương đương 41,5% GDP (tăng 19,6% so với ước thực hiện năm
2007) nhằm mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%. Thế nhưng vấn đề này đang
gặp phải khó khăn khi mà ngân sách chỉ có khả năng đáp ứng được 17,5% tổng nguồn vốn.
Việc huy động từ các nguồn khác, đặc biệt huy động qua phát hành trái phiếu ngoài nước
đang được tính đến.
Dự báo tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội thời kỳ 2011-2020 là 3.900 - 4.100 nghìn
tỷ đồng theo giá thực tế (tương đương 180 - 190 tỷ USD) và thời kỳ 2012-2030 là 6.500 –
7.000 tỷ đồng (tương đương 300- 320 tỷ USD). Với nhu cầu vốn lớn như thế, trong tình
hình huy động nguồn vốn trong nước và một số nguồn vốn nước ngoài không đủ đáp ứng,
cũng như khó khăn trong huy động, việc phát hành thêm nhiều đợt trái phiếu chính phủ
trên thị trường vốn quốc tế là xu hướng tất yếu trong tương lai.
Thêm vào đó, nhu cầu nhập khẩu các máy móc thiết bị đáp ứng cho sản xuất cũng như
tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đòi hỏi một lượng ngoại tệ rất lớn mà những kênh
SVTH : Lê Thị Phượng 12
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
huy động vốn nước ngoài khác, kiều hối cũng như xuất khẩu không đủ đáp ứng, vì vậy
việc phát hành trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế đã bổ sung một lượng ngoại tệ cho
hoạt động nhập khẩu, đáp ứng là nhu cầu tất yếu của Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Đa dạng hóa hình thức huy động vốn
Như đã nói ở trên, nhu cầu vốn của Việt Nam hiện tại và trong tương lai là rất lớn,
để huy động lượng vốn lớn như vậy cần huy động từ rất nhiều kênh. Bên cạnh việc khai
thác nguồn vốn đầu tư trong nước, cần phải huy động nguồn vốn từ nước ngoài bằng các

Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
Việt Nam không nằm ngoài xu thế toàn cầu hóa của thế giới, Trong những năm gần
đây Việt Nam tích cực tăng cường quan hệ giao lưu và hợp tác với nhiều nước trên thế
giới. Tuy nhiên đa dạng hóa quan hệ giao lưu dưới nhiều hình thức khác nhau là một yêu
cầu đạt ra cho nước ta. Bởi vì một trong những xu hướng toàn cầu hóa thời đại ngày nay
chính là xu hướng gia tăng luồng tư bản quốc tế. Sự đa dạng trong hoạt động thương mại
quốc tế và đầu tư quốc tế, tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển thị trường tài chính
quốc tế, thị trường vốn quốc tế với số vốn luân chuyển ngày càng lớn. Đối với Việt Nam,
tham gia vào thị trường vốn quốc tế là hoạt động có ý nghĩa trong việc tăng cường mối
quan hệ quốc tế với các quốc gia trên thế giới, tạo đà cho Việt nam thuận lợi hơn trong tiến
trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.Sự kiện Việt Nam phát hành trái phiếu quốc
tế chứng tỏ cam kết của Chính phủ Việt Nam về việc gia nhập nền kinh tế thế giới, chứng
minh đường lối đổi mới kinh tế của Việt Nam có hiệu quả và là lộ trình để Việt Nam tiến
gần đến Tổ chức thương mại thế giới WTO, vì vậy nên phát hành trái phiếu trên thị trường
vốn là điều cần thiết trong lộ trình phát triển của Việt Nam.
1.2. Thực trạng hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ Việt Nam giai đoạn
2005-2012.
Trong giai đoạn 2005-2012, chính phủ tiến hànhphát hành trái phiếu chính phủ trên
thị trường vốn quốc tế thành 2 đợt lớn: Đợt thứ nhất vào ngày 27/10/2005, Đợt thứ hai
vào ngày 26/01/2010.
1.2.1. Đợt thứ nhất vào ngày 27/10/2005
 Mục đích huy động : Việc phát hành trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế nhằm huy
động một lượng vốn lớn từ bên ngoàivới lãi suất thấp, không gây áp lực lớn về nợ nước
ngoài,bổ sung những thiếu hụt về vốn trong nước, đáp ứng nhu cầu đầu tư để tái sản xuất.
Mặt khác, việc huy động vốn ra bên ngoài lần đầu tiên của Chính phủ Việt Nam mở ra một
kênh huy động vốn mới đầy tiềm năng cho các DN khác trong chiến lược đâu tư mở rộng
sản xuất, tạo cơ hội cho nhiều doanh nghiệp khác như tổng công ty Điện lực Việt Nam,
tổng công ty Dầu khí Việt Nam sẽ gặp thuận lợi hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, các DN
khác không đủ điều kiện phát hành trái phiếu quốc tế cũng có thêm cơ hội để vay vốn
trong nước. Đặc biệt, khi mà nguồn vốn ODA đang có nhiều khả năng giảm sút trong

các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm để xác nhận hệ số tín nhiệm cho quốc gia;
- Tổ chức quảng bá: việc tổ chức quảng bá chào bán trái phiếu do Bộ Tài chính thực
hiện tùy thuộc yêu cầu của từng phương thức phát hành trái phiếu. Bộ Tài chính phối hợp
với tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành tổ chức quảng bá trái phiếu tại các trung tâm
tài chính lớn trên thế giới để tiếp xúc với cộng đồng các nhà đầu tư quốc tế trước khi thực
hiện việc định giá để phát hành trái phiếu;
- Tổ chức phát hành: Bộ Tài chính quyết định các điều kiện, điều khoản phát hành
trái phiếu trong quá trình định giá trái phiếu trên cơ sở tư vấn của tổ chức hoặc tổ hợp bảo
lãnh phát hành, phù hợp với điều kiện thị trường và các nguyên tắc nêu tại đề án phát hành
trái phiếu đã được Chính phủ phê duyệt;
- Tiếp nhận vốn: Bộ Tài chính tổ chức tiếp nhận nguồn vốn trái phiếu đã phát hành
theo đúng các thỏa thuận đã ký;
- Hoàn tất giao dịch phát hành: sau khi nhận tiền bán trái phiếu, Bộ Tài chính hoàn
tất và ký kết các văn bản pháp lý kết thúc giao dịch phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng
thời báo cáo kết quả phát hành theo các quy định hiện hành.
 Nội dung hoạt động huy động vốn:
- Giá trị trái phiếu phát hành dự kiến: Lượng phát hành trái phiếu ban đầu dự định
là 500 triệu USD sau tăng lên 750 triệu USD.Với mức lãi suất dự kiến là 7,25% sau đó
được điều chỉnh giảm xuống còn 7,125%. Trái phiếu được chào bán có mệnh giá 100 USD
SVTH : Lê Thị Phượng 15
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
với tổng giá trị chào bán là 750 triệu USD với lãi suất 7,125%/năm và có thời hạn là 10
năm(lãi suất cố định, đáo hạn tháng 1/2016)
Trái phiếu của Chính phủ lần đầu tiên phát hành ra thị trường vốn quốc tế được định
giá ở mức 98,223% mệnh giá với mức lãi suất (coupon) là 6,875%, tương đương mức lãi
suất Trái phiếu Kho bạc Mỹ loại 10 năm + 256,4 điểm cơ bản
- Thời gian huy động: Đợt phát hành trái phiếu đầu tiên ra thị trường vốn quốc tế
của Viêt Nam là vào ngày 27/10/2005
- Thị trường phát hành chính thức: thị trường chứng khoán New York và sau đó

Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
tới 50 - 100 triệu USD. Trong đó có Ngân hàng dự trữ quốc gia Malaysia tính đến nay
chưa từng mua trái phiếu Chính phủ của quốc gia nào thì nay đã đặt mua trái phiếu của
Chính phủ VN. Đợt trái phiếu này sẽ được mua bán lại trên tất cả các trung tâm chứng
khoán (thị trường thứ cấp) lớn như Hongkong, Singapore, London, New York, Boston
liên tục đến năm 2016.
Lãi suất trái phiếu Chính phủ trong đợt phát hành này là 7,125%, mức lãi suất này
được coi là rất hiệu quả, thấp hơn suất trái trái phiếu của các nước trong khu vực có cùng
hệ số tín nhiệm như Philippines (8,09%) và Indonesia (7,75%) là 90 và 60 điểm.
Trái phiếu được giao dịch tốt sau khi phát hành và được bán ở mức 98,5 và 99,5 so
với giá giao dịch 98,22. Điều quan trọng nhất và hiếm có nhất là việc một trái phiếu phát
hành từ châu Á có mức lãi suất thấp (lãi suất coupon trả hàng năm là 6,875% tương đương
với lãi suất thực trả là 7,125%) đã thực sự được phân bổ toàn cầu mà không bị dồn vào các
nhà đầu tư châu Á.
Sau gần 2 tháng giao dịch trên thị trường thứ cấp, giới đầu tư quốc tế đánh giá rất
cao trái phiếu quốc tế của Việt Nam.
 Hoạt động sử dụng và quản lý số tiền đã huy động được:
Ở đợt phát hành lần này, Toàn bộ số tiền vay qua trái phiếu quốc tế đã được Chính phủ
phê duyệt cho Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) vay lại với lãi
suất 7,125%/nămvới thời gian ân hạn tới 10 nămđể đầu tư phát triển ngành công nghiệp
đóng tàu, tăng cường đầu tư cho các cơ sở chế tạo, các nhà máy và nâng cao năng lực đóng
tàu Việt Nam. Theo kế hoạch, Vinashin sẽ cần khoảng 3 tỷ USD để đầu tư mở rộng sản
xuất, đáp ứng các hợp đồng đóng mới tàu xuất khẩu. Với nguồn vốn vay trái phiếu, một
phần Vinashin sẽ dành để đầu tư mở rộng một loạt các nhà máy và công ty đóng tàu Bạch
Đằng, Nam Triệu, Phà Rừng , đồng thời đầu tư phát triển ngành công nghiệp phụ trợ (sản
xuất động cơ diezen, thép). Tổng Giám đốc tổng công ty Vinashin cho biết, tổng công ty
đã có đề án phát triển khá cụ thể đến năm 2010 và những năm tiếp theo. Tổng công ty đã
ký chính thức khoảng 1 tỷ USD sản phẩm xuất khẩu và đã thoả thuận khoảng 500 triệu
USD nữa. Đây là những hợp đồng tàu xuất khẩu sẽ được thực hiện trước năm 2009. Vì vậy

trái phiếu quốc tế, mở ra kênh huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp cũng như
Chính phủ Việt Nam trong thời gian sau này.
1.2.2. Đợt thứ hai vào ngày 26/01/2010
 Mục đích huy động:
- Huy động thêm nguồn lực để phát triển vốn trong nước, huy động lượng vốn lớn để
hoàn trả vốn ngân sách nhà nước và tài trợ vốn cho các dự án lớn, trọng điểm như thủy
điện, bưu chính viễn thông, dự án hạ tầng,… có hiệu quả cao, đóng góp vào sự phát triển
kinh tế - xã hội và góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế giữa các vùng miền
- Tạo ra hình ảnh của Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế, Tăng cường quan hệ với
cộng đồng đầu tư quốc tế, hình thành kênh thu hút vốn và hội nhập với thị trường quốc tế
- Hai là, trong điều kiện doanh nghiệp chưa trực tiếp tham gia được thị trường vốn
quốc tế, hoạt động này của chính phủ sẽ giúp doanh nghiệp làm quen và tiến tới tự huy
động được vốn quốc tế. Vì việc phát hành trái phiếu ngoại tệ là giải pháp nhanh chóng
nhằm giúp các doanh nghiệp bổ sung các nguồn vốn dài hạn với lão suất thấp hơn lãi suất
đi vay thẳng, tính thanh khoản cao(vì các ngân hàng dễ chuyển nhượng lại hơn so với các
khoản cho vay) để đầu tư mở rộng kinh doanh trong bối cảnh thị trường trong nước không
thể đáp ứng được do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất
là sự khan hiếm các nguồn vốn dài hạn
SVTH : Lê Thị Phượng 18
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
 Công tác tổ chức thực hiện: Về cơ bản, trình tự phát hành trái phiếu cũng giống
như đợt phát hành thứ nhất. Ba ngày trước khi chính thức chào bán đợt đầu trong số 1 tỉ
đô la trái phiếu ra thị trường vốn Hồng Kông (18-1), Bộ Tài chính phát đi một thông cáo
báo chí về hệ số tín nhiệm của Việt Nam.
Đoàn công tác của Chính phủ Việt Nam gồm Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ
Tư pháp cùng các tổ chức tư vấn do Lãnh đạo Bộ Tài chính làm trưởng đoàn đã thực hiện
đợt quảng bá và phát hành trái phiếu tại các thị trường châu Á (Hong Kong), thị trường
châu Âu (London) và thị trường châu Mỹ (Boston, New York) từ ngày 18/1 đến
25/1/2010. Trong thời gian quảng bá, đoàn đã thực hiện nhiều cuộc gặp gỡ để cung cấp,

chính xác định là 16 năm với lãi suất 3,6% một năm. Kết thúc thời hạn nói trên, chủ dự án
sẽ phải trả nợ gốc và lãi bằng đồng đôla Mỹ.
- Riêng khoản vay 240 triệu USD cho Tổng Công ty Hàng hải VN (Vinalines),số tiền
này sẽ được Vinalines dùng để sắm đội tàu vận tải. Phương án đầu tư khai thác đội tàu này
có khả năng hoàn vốn trong vòng 5-7 năm.
- Phần còn lại 60 triệu USD được giao cho Tổng Công ty Sông Đà để thực hiện dự án
Nhà máy thủy điện Xê Ca Mản 3 tại Lào. Khoản tiền cho vay lại của Chính phủ chủ yếu sẽ
được dùng cho việc mua sắm thiết bị. Nhà máy này khi đi vào hoạt động sẽ chủ yếu bán
điện về VN, một phần sẽ cung cấp cho thị trường Lào.
=>Có thể nói đợt phát hành thứ hai này cũng đã thành công tốt đẹp, đạt được mục tiêu
mà Chính phủ đề ra. Nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tiếp tục mở ra kênh huy động vốn
trên thị trường quốc tế của Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới
cho đầu tư phát triển.
2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRÊN THỊ
TRƯỜNG VỐN QUỐC TẾ.
2.1. Kết quả đạt được
2.1.1. Đợt thứ nhất vào ngày 27/10/2005:
Trong đợt phát hành này chính phủ đã huy động được 750 triệu USD và toàn bộ số
tiên này được Chính phủ phê duyệt cho Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
(Vinashin) vay lại với lãi suất 7,125%/năm với thời gian ân hạn tới 10 năm để đầu tư phát
triển ngành công nghiệp đóng tàu, tăng cường đầu tư cho các cơ sở chế tạo, các nhà máy
và nâng cao năng lực đóng tàu Việt Nam.
Thời điểm đó, Vinashin sử dụng một phần số tiền huy động được từ phát hành trái
phiếu của chính phủ để đầu tư mở rộng sản xuất, đáp ứng các hợp đồng đóng mới tàu xuất
khẩu. Một phần Vinashin sẽ dành để đầu tư mở rộng một loạt các nhà máy và công ty đóng
tàu Bạch Đằng, Nam Triệu, Phà Rừng , đồng thời đầu tư phát triển ngành công nghiệp
phụ trợ (sản xuất động cơ diezen, thép). Theo thời giá năm 2005, 750 triệu USD tương
đương 12.085 tỷ đồng VN nhưng sau khi thanh toán phí phát hành trái phiếu, Vinashin
thực nhận có 731,45 triệu USD. Vinashin lên kế hoạch phân bổ vốn vay này cho 189 dự án
SVTH : Lê Thị Phượng 20

dụng đúng thời gian dự kiến
- Khoảng 700 triệu USD trong số vốn 1 tỷ USD huy động được rót vào Nhà máy
lọc dầu Dung Quất: Với số tiền này, xem như khoản vốn đầu tư 3 tỷUSD dành cho Dung
Quất đã được Chính phủ cân đối đủ. Đây được xem như là một trong những khoản tiền
cuối cùng rót cho dự án trọng điểm quốc gia này, với số tiền này, dự án sẽ được hoàn
thành, đưa vào sử dụng, và dự kiến sẽ thu hồi lại vốn trong khoảng 15-20 năm. Và khi
hoàn thành Dung Quất có khả năng lọc 65 triệu tấn dầu mỗi năm. Đáp ứng được chừng
33% nhu cầu dùng trong nước.
SVTH : Lê Thị Phượng 21
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
- Riêng khoản vay 240 triệu USD cho Tổng Công ty Hàng hải VN (Vinalines),số
tiền này sẽ được Vinalines dùng để sắm đội tàu vận tải, đáp ứng nhu cầu sản xuất, dự án
này được đánh giá khả thi và có khả năng hoàn vốn trong vòng5-7 năm.
- Phần còn lại 60 triệu USD dự kiến được giao cho Tổng Công ty Sông Đà để thực
hiện dự án Nhà máy thủy điện Xê Ca Mản 3 tại Lào (dự án này khởi công tháng 4/2006 và
chính thức đưa vào hoạt động vào tháng 3/2012 do Việt Nam và Lào hợp tác thực hiện).
Số tiền 60 triệu USD này bổ sung vào lượng vốn mà Việt Nam cam kết góp với Lào là 272
triệu USD (trong tổng vốn góp 320 triệu USD). Nhà máy này vào thời điểm ấy đã sắp xây
dựng xong, khoản tiền cho vay lại cuối cùng của Chính phủ chủ yếu sẽ được dùng cho việc
mua sắm thiết bị. Khi nhà máy này khi đi vào hoạt động, tổng công suất phát điện của 2 tổ
máy khaongr 250 MW sẽ chủ yếu bán điện về VN, một phần sẽ cung cấp cho thị trường
Lào.
2.1.3. Định mức tín nhiệm của Việt Nam tăng, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư
nước ngoài
Trên đây đề cập đến những kết quả thu được từ việc sử dụng nguồn vốn huy động
được, ngoài những kết quả đó, những lần phát hành trái phiếu này còn có ý nghĩa động đến
các nhà đầu tư quốc tế để họ xây dựng các hạn mức tín dụng đầu tư vào Việt Nam trong
tương lai. Vì lẽ đó, một trong những thành quả quan trọng của 2 đợt phát hành trái phiếu,
đặc biệt là đợt thứ nhất chính là tăng hạn mức tín dụng của Việt Nam, đó có thể xem là

Ở các nước trên thế giới, việc các doanh nghiệp tư nhân phát hành trái phiếu trên thị
trường vốn quốc tế không còn là điều xa lạ thì ở Việt Nam,trướn năm 2005, chưa có một
doanh nghiệp nào thử nghiệm hình thức thức huy động vốn này. Có thể thấy so với việc
vay vốn trong nước với lạm phát và lãi suất cao, cộng với tỷ giá không ổn định và thắt chặt
cho vay và hạn mức tín dụng quá khắt khe của các ngân hàng đang là những yếu tố ảnh
hưởng lớn nhất tới khả năng huy động vốn của DN, thì việc phát hành trái phiếu trên thị
trường vốn quốc tế với mức lãi suất 7-8%/ năm là kênh huy động vốn khá hấp dẫn.
Trước đây, do chưa có kinh nghiệm về hình thức huy động vốn này, các doanh
nghiệp còn khá rụt rè chưa dám thử nghiệm, nhưng sau khi Nhà nước phát hành 2 đợt trái
phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế, các doanh nghiệp bắt đầu thử nghiệm hình thức
huy động vốn này. Cụ thể là:
- Tháng 12 năm 2009, Công ty cổ phần Vincom (VIC) cũng đã phát hành thành
công 100 triệu USD trái phiếu chuyển đổi quốc tế với mức lãi suất 6% trong thời hạn 5
năm. Đến năm 2012, Công ty cổ phần Vincom cũng tiếp tục phát hành thành công trái
phiếu chuyển đổi quốc tê với khối lượng 185 triệu USD, kỳ hạn 5 năm, phát hành bằng
USD với lãi suất coupon 5%/năm.
- Đầu năm 2011, Hoàng Anh gia Lai huy động thành công 90 triệu USD trái phiếu
quốc tế có thời hạn 5 năm với lãi suất coupon được cố định ở mức 9,875%.
- Đầu năm 2012 Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
(VietinBank) đã phát hành thành công 250 triệu USD trái phiếu quốc tế lãi suất 8% không
có tài sản bảo đảm theo quy chế S/144A, đáo hạn vào năm 2017
SVTH : Lê Thị Phượng 23
Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
2.2. Hạn chế
Bên cạnh những kết quả khả quan mà 2 đợt phát hành trái phiếu chính phủ trên thị
trường vốn quốc tế, những đợt huy động này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế:
2.2.1. Không quản lý chặt chẽ quá trình sử dụng vốn, hậu quả là vốn sử dụng
không hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí lớn và gây nên gánh nặng nợ.
Ngay trong đợt phát hành trái phiếu chính phủ đầu tiên, Nhà nước đã không đưa ra

Mã SV: CQ512478
Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân GVHD: Lương Hương Giang
2.2.2. Gánh nặng vay nợ, bội chi ngân sách và rủi ro tỷ giá
Tuy có nhiều ưu điểm hơn các hình thức khác, nhưng phát hành trái phiếu trên thị
trường vốn quốc tế cũng gây ra gánh nặng nợ nần, và vấn đề ở đây là chúng ta vay tiền
bằng ngoại tệ, và phải trả nợ bằng ngoại tệ. Bội chi ngân sách trong những năm gần đây
luôn duy trì ở mức cao. Mức bội chi trong năm 2009 lên tới 7% GDP, trong đó chưa bao
gồm các khoản chi từ nguồn trái phiếu Chính phủ và các khoản Chính phủ vay về cho
doanh nghiệp vay lại.
Do thường xuyên ở trong tình trạng bội chi ngân sách nên nợ công (mà chủ yếu là
nợ Chính phủ) tăng mạnh trong những năm gần đây. Năm 2008, nợ Chính phủ chiếm
khoảng 36,5% GDP, năm 2009 ước lên đến 40% GDP và năm 2010 dự kiến khoảng 44%
GDP. Nếu không có các biện pháp để giảm bội chi ngân sách thì nợ Chính phủ sẽ tiến dần
đến mức giới hạn an toàn là 50% GDP. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh tài
chính quốc gia và làm giảm mức độ tín nhiệm của Việt Nam trên thị trường tài chính thế
giới. Việc vay thêm 1 tỷ USD bằng ngoại tệ (tương đương 18.000 tỷ VND) sẽ làm cho
gánh nặng nợ nần càng thêm chồng chất.
Ngoài ra chúng ta sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh toán và rủi ro tỷ giá. Rủi ro thanh
toán là việc khi trái phiếu đáo hạn, Nhà nước sẽ phải dành ra một số lượng tiền tương ứng
để thanh toán số tiền gốc đã vay, hơn nữa, hàng năm Việt Nam cũng sẽ phải chi trả lãi
coupon tương ứng. Nói về rủi ro tỷ giá, ta thấy từ năm 2005 đến nay, tỷ giá hối đoái của
Việt Nam đã tăng đáng kể. Nếu như năm 2005, một USD tương đương với 15800VND, thì
theo tỷ giá hiện nay 1 USD tương đương với 20800VNĐ. Điều này có nghĩa là, đồng Việt
Nam ngày càng mất giá, và tương ứng với một USD vay nợ, lượng VNĐ cần phải trả tăng
lên khoảng 1/3 (nếu tính theo tỷ giá cho đến nay). Rủi ro tỷ giá do trong thời gian 10 năm
cho tới ngày đáo hạn, diễn biến đồng USD cũng như VNĐ rất khó lường đặc biệt trong bối
cảnh hiện nay khi phục hồi kinh tế thế giới cũng như sự phát triển của Việt Nam còn nhiều
câu hỏi vẫn được bỏ ngỏ. Việc vay thêm750 triệu USD năm 2005 và 1 tỷ USD năm 2010
bằng ngoại tệ (tương đương 18.000 tỷ VND) sẽ làm cho gánh nặng nợ nần càng thêm
chồng chất, rủi ro tăng cao. Vậy câu hỏi đặt ra là, chúng ta phải trả khoản nợ 1,75 tỷ USD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status