Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ - Pdf 94

Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................................... 1
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................................. 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG
VỐN THÔNG QUA PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ ............................................... 5
NHU CẦU – KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ –
XÃ HỘI:....................................................................................................................................5
0.1.1 Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 - 2005 .......................... 5
0.1.2 Khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội: ................................. 6
0.1.2.1 Huy động các nguồn vốn trong nước ...... 6
0.1.2.2 Huy động vốn đầu tư nước ngoài: ........................................................................ 7
0.1.3 Giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2003. ........ 9
0.1.3.1 Huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân: .................................................... 9
SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN THÔNG QUA PHÁT HÀNH
TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ ...................................................................................................14
0.1.4 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng Nhà nước. ...................................................... 14
0.1.5 Sự cần thiết của công tác huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
.............................................................................................................................................. 15
1 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN THÔNG QUA PHÁT
HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở KBNN HÀ TÂY ........................................................... 18
KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HÀ TÂY..................................................................................................................................18
1.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tây ..................................................................... 18
1.1.1.1 Về lĩnh vực kinh tế: ............................................................................................. 18
1.1.1.2 Về lĩnh vực văn hoá - xã hội: .............................................................................. 20
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn ở KBNN Hà Tây. .................... 21
1.1.3 Vai trò của KBNN Hà Tây trong công tác huy động vốn thông qua phát hành trái
phiếu Chính phủ: ................................................................................................................. 23
1.1.3.1 Vài nét về KBNN Hà Tây. .................................................................................. 23
1.1.3.2 Vai trò của KBNN Hà Tây trong công tác huy động vốn thông qua phát hành

PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở KBNN HÀ TÂY ............................................... 49
CÁC QUAN ĐIỂM TRONG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN THÔNG QUA PHÁT
HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở KBNN HÀ TÂY.......................................................49
VỀ MỤC TIÊU:.....................................................................................................................50
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ HUY ĐỘNG VỐN THÔNG QUA
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở KBNN HÀ TÂY...........................................53
1.1.1 Huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển kinh tế trở thành chỉ tiêu pháp
lệnh: ..................................................................................................................................... 53
1.1.2 Về cơ chế phát hành: .................................................................................................. 54
1.1.3 Mở rộng hình thức phát hành: .................................................................................... 55
1.1.4 Về mặt lãi suất: ........................................................................................................... 55
1.1.5 Về đối tượng vay: ....................................................................................................... 56
1.1.6 Chú trọng công tác tuyên truyền: ............................................................................... 57
1.1.7 Đào tạo bồi dưỡng cán bộ .......................................................................................... 57
KẾT LUẬN...............................................................................................................................62
2 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 63
- -
2
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
LỜI NÓI ĐẦU
Huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế là một nhiệm vụ cấp bách
nhằm tăng nhanh tiềm lực tài chính để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội. Vốn là một yếu tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định tốc độ
phát triển của nền kinh tế, muốn có vốn phải tìm nguồn. Vậy phải huy động
như thế nào - điều đó còn phụ thuộc vào chính sách, cơ chế huy động vốn của
mỗi nước. Đối với nước ta, vốn cho phát triển kinh tế đã trở thành vấn đề thách
thức trong nhiều năm nay.
Trong những năm qua, Chính phủ đã sử dụng đa dạng các hình thức,
công cụ huy động vốn trong cơ chế thị trường có hiệu quả. Góp phần tạo điều
kiện thuận lợi cho Nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế có khả

Chính phủ ở KBNN Hà Tây trong thời gian qua
Ch ương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế huy động vốn thông qua
phát hành trái phiếu Chính phủ ở KBNN Hà Tây
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do trình độ năng lực còn hạn chế, chắc chắn
không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của thầy, cô giáo và những người quan tâm.
- -
4
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÔNG
TÁC HUY ĐỘNG VỐN THÔNG QUA PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU
CHÍNH PHỦ
NHU CẦU – KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ – XÃ HỘI:
0.1.1 Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 - 2005
Xuất phát từ nhu cầu bức xúc về vốn nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát
triển với tốc độ cao, ổn định và bền vững, trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, việc huy động vốn cần khai thác tối đa nguồn vốn
trong và ngoài nước nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu đầu tư của NSNN và
các thành phần kinh tế.
Mục tiêu tổng quát của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội
giai đoạn 1990 - 2000 là ra khỏi khủng hoảng – ổn định tình hình xã hội,
vượt qua tình trạng của một nước nghèo và kém phát triển. Để đạt được mục
tiêu quan trọng trên, nhiệm vụ của Việt Nam là đẩy mạnh công cuộc đổi
mới toàn diện, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đảm bảo
tăng trưởng cao và ổn định ở mức 8 – 9% (trong đó công nghiệp tăng
14%/năm). Đến năm 2002 GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi so với
năm 1990 tức là khoảng 400 – 450$/người/năm. Tuy nhiên, do một số khó
khăn khách quan và chủ quan nảy sinh mà chủ yếu nhất phải kể đến là cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ đã làm giảm nhịp độ phát triển của nước ta

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là sự nghiệp của toàn
dân, khai thác triệt để tiềm năng vốn trong dân mới mong tạo ra sự phát
triển bền vững của nền kinh tế. Phải coi trọng sức mạnh của vốn đang tiềm
ẩn trong dân cư và các doanh nghiệp, coi đó là kho tài nguyên quý hiếm
phải được khai thác, sử dụng có hiệu quả.
0.1.2 Khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội:
0.1.2.1Huy động các nguồn vốn trong nước
Trong những năm tới, cần tăng nhanh tỉ lệ tiết kiệm dành cho đầu tư, coi
tiết kiệm là quốc sách, có những biện pháp tiết kiệm trong sản xuất và tiêu
dùng ở tất cả các khu vực Nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình để dồn vốn
cho phát triển sản xuất; Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, nhất là
hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ, mở rộng và phát triển các tổ chức
Tài chính trung gian như: hệ thống các Công ty Tài chính, các doanh nghiệp
bảo hiểm. Song song với việc huy động vốn ngắn hạn, cần tăng tỉ trọng huy
động vốn trung – dài hạn.
- -
6
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
Mục tiêu phấn đấu là phải huy động được trên 60% tổng nhu cầu vốn
đầu tư từ các nguồn trong nước. Cụ thể là:
- Ngu ồn vốn đầu tư Chính phủ: hàng năm ngân sách Nhà nước dành ra
khoảng 10-15% vốn cho đầu tư phát triển. Dự kiến tổng thu NSNN giai
đoạn 2001-2002 là 20-22% GDP, trong đó thu thuế, phí khoảng 17-18%
GDP. Tổng chi NSNN khoảng 26-28% GDP trong đó chi cho đầu tư
phát triển là 10% GDP và bằng 26% tổng chi NSNN. Bội chi Ngân sách
không vượt quá 5% GDP giải quyết bằng cách khai thác triệt để các
nguồn thu và đẩy mạnh chính sách vay nợ của Chính phủ thông qua phát
hành trái phiếu Chính phủ.
- Ngu ồn vốn đầu tư từ nguồn khấu hao cơ bản và lợi nhuận để lại từ các
doanh nghiệp: khoảng 15 – 16 tỷ $ trong những năm qua bình quân các

kỳ hoạt động hoặc bị rút giấy phép với tổng số vốn là 5.775 triệu $. Với việc
tiếp tục chính sách kinh tế mở cửa, khuyến khích, hấp dẫn, tạo cơ sở pháp lý
để hướng dẫn các nhà đầu tư Quốc tế có khả năng huy động vốn đầu tư trực
tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam, ước tính năm 2003, vốn thực hiện khoảng
19 – 21 tỉ $, tăng 12,5% - 13% so với năm 2002. Trong đó vốn nước ngoài
15 – 16 tỉ $ trong tổng số vốn thực hiện. Nguồn vốn FDI ước 6 tháng đầu
năm 2002 theo số đăng ký đạt 346 triệu $, giảm 43% so với cùng kỳ, số
thực hiện đạt khoảng 600 triệu $, giảm 7% so với cùng kỳ.
Nguồn vốn ODA, tài trợ đa phương của các tổ chức tài trợ Quốc tế (IMF,
ADB, WB) cũng có vai trò rất quan trọng. Vốn ODA trong thời kỳ 1991 –
1995 có thể đạt 2 – 2,5 tỉ $. Trong năm 1993 – 1994 hội nghị tài trợ phát
triển cho Việt Nam tại Pari, cộng đồng tài chính Quốc tế đã cam kết dành
cho Việt Nam nguồn tài trợ phát triển chính thức tới 3,8 tỉ $. Ta đã vay từ
IMF khoảng 230 triệu $, với WB và ADB số tiền 740 triệu $, ký hiệp định
vay ODA song phương với Nhật trị giá 52,3 tỉ Yên (tháng 1/1994) với Pháp
trị giá 420 triệu Fr (7/1/1994).
Mục tiêu đặt ra: trong vòng 10 năm chúng ta phải đẩy mạnh huy động từ
6 – 8 tỉ $ từ nguồn ODA và nguồn tài trợ đa phương của các tổ chức Quốc
tế. Nguồn vốn ODA 6 tháng đầu năm 2000 được chính thức hoá bằng các
hiệp định ký kết với các nhà tài trợ đạt 1.068,8 triệu $ (gồm 906 triệu $ vốn
vay và 104,8 triệu $ vốn viện trợ không hoàn lại). Số vốn giải ngân ước đạt
785 triệu $, đạt 46,3 % kế hoạch năm (trong đó vốn vay 655 triệu $, vốn
viện trợ không hoàn lại 130 triệu $)
- Ngu ồn viện trợ nước ngoài : từ năm 1990 viện trợ của các tổ chức Liên
hiệp quốc cho Việt Nam khoảng 50 – 60 triệu $/năm.
- Bên cạnh các nguồn vốn nói trên, cần phát hành trái phiếu Chính phủ ra
thị trường kinh tế để huy động vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
- -
8
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ

nộp thuế tự khai và trực tiếp nộp thuế vào KBNN.
- -
9
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
- Mở rộng phát hành trái phiếu Chính phủ để tạo nguồn vốn cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế.
Vay nợ dân tạo nguồn vốn cho đầu tư là hiện tượng bình thường của mọi
Nhà nước. Vay nợ dân tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển có hai điểm lợi:
+ Tăng tiết kiệm xã hội, tạo thói quen tiết kiệm, tiêu dùng hợp lí cho
người dân.
+ Nhà nước có được nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế mà không
phải phát hành tiền, tránh được lạm phát.
Muốn tăng hiệu quả vay nợ dân, cần chú trọng vào những vấn đề sau:
+ Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn như: Tín phiếu, trái phiếu,
phát hành loại trái phiếu vô danh có thể chuyển đổi tự do, trái phiếu công trình
có thể chuyển đổi thành cổ phiếu, đảm bảo việc lấy lãi dễ dàng, nhanh gọn.
+ Đa dạng hoá các thời hạn vay vốn qua trái phiếu, chủ yếu tập trung huy
động vốn bằng các loại trái phiếu trung và dài hạn, hạn chế và đi tới chấm dứt
vay ngắn hạn với lãi suất cao để bù đắp bội chi Ngân sách.
- Bộ Tài chính phát hành trái phiếu; Ngân hàng nhà nước đứng ra tổ chức
đấu thầu mua trái phiếu (đấu thầu cả về lãi suất, khối lượng mua và thời
hạn), xác định mức lãi suất vay vốn hợp lý, đảm bảo có lợi cho cả chủ sở
hữu lẫn người vay vốn.
o Xúc tiến nhanh việc phát triển thị trường
chứng khoán.
Việc hoàn thiện thị trường vốn và đặc biệt là phát triển thị trường chứng
khoán sẽ tạo điều kiện cho các giao dịch về chứng khoán và chuyển đổi từ
chứng khoán sang tiền mặt được nhanh gọn và thuận tiện.
o Huy động vốn qua các tổ chức Tài chính –
Tín dụng.

+ Khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng vốn hiện có trong
doanh nghiệp, cho phép các doanh nghiệp sử dụng linh hoạt các nguồn
vốn, các loại quỹ, phục vụ kịp thời yêu cầu sản xuất kinh doanh. Nhà
nước cần xây dựng cơ chế bảo toàn vốn.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự huy động vốn từ
dân cư, các tổ chức tín dụng, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để
đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh.
+ Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết, hợp đồng, hợp tác kinh
doanh với các đối tác trong nước và nước ngoài.
- -
11
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
+ Từng bước mở rộng cổ phần hoá, đa dạng hoá các hình thức sở hữu
đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Cho phép các doanh nghiệp được
phát hành cổ phiếu, trái phiếu theo quy định của chính phủ để tìm kiếm
và huy động vốn của cá nhà đầu tư trong và ngoài nước.
o Khai thác triệt để tiềm năng vốn trong dân

kích thích người dân tự bỏ vốn đầu tư cho Nhà nước, các tổ chức kinh tế
vay để tạo nguồn vốn đầu tư. Thực hành tiết kiệm trong toàn xã hội, khuyến
khích và có chính sách hướng dẫn tiêu dùng hợp lý. Tạo môi trường kinh
doanh thuận lợi cho người dân bỏ vốn đầu tư.
o Huy động vốn ngoài nước
Việc huy động vốn nước ngoài trong những năm trước mắt vẫn được coi
là biện pháp quan trọng và liên quan đến chính sách đối ngoại, quan hệ kinh
tế, chính trị giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế để thu hút
được khoảng 20 – 25 tỉ từ nước ngoài cho đến năm 2003. Chúng ta có thể áp
dụng các hình thức sau:
o Thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư
trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài.

ODA, giải quyết tốt công tác giải ngân nguồn vốn vay đã ký.
+ Khai thác nguồn vay, tài trợ đa phương từ các tổ chức quốc tế (IMF,
WB, ADB), cố gắng thống nhất với các nước, tổ chức quốc tế trong thời
gian sớm nhất các văn bản khung về vay vốn trong giai đoạn 2001 –
2010 để có dự kiến bố trí sử dụng vốn và rút vốn.
+ Bên cạnh việc xúc tiến sử dụng vay nợ, cần đẩy mạnh việc quản lý nợ
quá hạn qua đàm phán giãn nợ, thí điểm và mở rộng diện chuyển đổi,
mua bán nợ.
- Phát hành trái phiếu quốc tế ra nước ngoài để thu hút vốn, phải được tính
toán kỹ lưỡng, vì lãi suất cao và vì những khoản này đòi hỏi đầu tư phải
thu lợi nhuận ngay, hoặc thu lãi cao mới có khả năng trả được nợ.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, cần phải coi trọng cả hai nguồn vốn
trong nước và nước ngoài. Trong đó nguồn vốn trong nước giữ vai trò quan
trọng. Việc huy động vốn trong và ngoài nước phải được nhìn nhận theo
một quy trình khép kín trên cả ba phương diện: huy động, sử dụng và quản
lý. Đồng thời bảo đảm thông suốt trên cả ba giai đoạn: tích luỹ – huy động -
đầu tư, nhằm đạt tốc độ luân chuyển và hiệu quả cao nhất. Có như vậy nước
ta mới tránh được tình trạng khủng hoảng nợ và đảm bảo cho nền kinh tế –
xã hội phát triển lành mạnh và bền vững.
- -
13
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN THÔNG QUA PHÁT HÀNH
TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
0.1.4 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng Nhà nước.
Tín dụng Nhà nước là hình thức tín dụng do cơ quan Tài chính thực hiện
Trong hình thức này, Nhà nước là người trực tiếp vay vốn ở trong nước,
ngoài nước để giải quyết các nhu cầu chi của NSNN đồng thời Nhà nước
cũng là người cho vay.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng Nhà nước là việc huy động vốn và sử

Ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, các nguồn thu của NSNN nhiều
khi không đảm bảo thoả mãn nhu cầu chi tiêu để phát triển kinh tế, văn hoá,
y tế, giáo dục, quản lý Nhà nước, giữ vững an ninh, củng cố quốc phòng,...
vì vậy, Nhà nước phải thực hiện vay vốn từ các thành phần kinh tế, các tầng
lớp dân cư trong nước và vay nươc ngoài để bù đắp sự thiếu hụt đó. Đa số
các nước trên thế giới, các nguồn thu mà Tài chính huy động được dưới
hình thức thu NSNN như: thuế, lệ phí không đủ để đầu tư phát triển kinh tế
nên đòi hỏi phải có nguồn Tài chính bổ sung. Một trong những nguồn đó là
khoản Nhà nước vay dân, đây chính là nguồn tiền nhàn rỗi trong các tầng
lớp dân cư thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ. Nhà nước sử dụng
nguồn vốn này để đầu tư cho nền kinh tế, tạo ra khả năng nguồn thu cho
NSNN.
Ở Việt Nam, do tình hình Tài chính – Ngân sách luôn ở trong tình trạng
mất cân đối và không ổn định, đây là nguyên nhân và hậu quả của nền kinh
tế chưa phát triển. Trong khi Nhà nước không đủ vốn cung ứng cho nền
kinh tế, thì trong xã hội vẫn còn đọng vốn và sử dụng vốn lãng phí, kém
hiệu quả. Vốn NSNN cấp ra với tính chất không hoàn lại đã bị trải rộng quá
nhiều, nhu cầu của nền kinh tế luôn thiếu so với nhu cầu ngày càng tăng
mang tính bao cấp, kém hiệu quả kinh tế. Sang nền kinh tế thị trường, nền
kinh tế đòi hỏi một lượng vốn lớn mà nguồn thu của NSNN ta chủ yếu là từ
thuế, chiếm 23% GDP nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của
ngân sách. Trong khi đó nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư rất lớn. Do vậy,
để khai thác được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư nhất thiết phải
tăng cường phát hành trái phiếu Chính phủ qua hệ thống KBNN. Việc huy
động vốn nhàn rỗi trong nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đất
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể:
- Thứ nhất: huy động vốn trong nước góp phần bù đắp thiếu hụt NSNN.
Đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, nền kinh tế chuyển sang cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhu cầu chi của NSNN ngày càng
- -

sự phát triển của thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
Việc phát triển thị trường vốn có ý nghĩa rất quan trọng, trước hết nó là
cơ chế giúp cho việc chuyển các nguồn vốn của các tác nhân kinh tế từ nơi
thừa sang nơi thiếu một cách dễ dàng, thuận tiện, thúc đẩy thực hiện chính
sách huy động vốn trong và ngoài nước. Ngược lại, huy động vốn cho phát
triển kinh tế là điều kiện để thúc đẩy nhanh sự phát triển của thị trường
chứng khoán.
- -
16
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu tạo vốn
hàng hoá cho thị trường vốn, thị trường tài chính. Theo nguyên lý thì hàng
hoá chủ yếu trên thị trường chứng khoán phải là cổ phiếu nhưng đối với
chúng ta, trái phiếu Chính phủ đặc biệt là trái phiếu kho bạc lại có tầm quan
trọng với vị trí ngày càng nổi bật. Từ chỗ chưa cho phép chuyển nhượng,
đến nay, trái phiếu Kho bạc đã được đấu thầu ở Ngân hàng Nhà nước và
không chỉ trở thành công cụ vay vốn của Nhà nước mà còn là công cụ của
chính sách Tài chính – Tiền tệ trong nền kinh tế thị trường, đồng thời là
công cụ đầu tiên của nghiệp vụ kinh doanh thị trường mở của Ngân hàng.
Đây chính là “hàng hoá” chủ yếu khi thị trường vốn, thị trường chứng
khoán hoạt động công khai và mở rộng ở Việt Nam.
Bộ Tài chính cùng với Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành có liên quan
nghiên cứu chuẩn bị điều kiện, các yếu tố cần thiết cho sự phát triển của thị
trường chứng khoán.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn chưa phát triển, trái phiếu, cổ
phiếu doanh nghiệp chưa phong phú, vì vậy trước mắt trái phiếu Chính phủ
phải đóng vai trò là “hàng hoá” chủ yếu trên thị trường, là những hàng hoá
đầu tiên cho thị trường chứng khoán hoạt động ở Việt Nam. Việc đẩy mạnh
côngtác huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ là hết sức
cần thiết. Chúng ta cần tăng cường đa dạng hoá các loại trái phiếu Chính

. Dân tộc Kinh chiếm khoảng 99% dân số, dân tộc Mường chiếm
khoảng 0.8% dân số. Dân tộc Dao chiếm khoảng 0.2% dân số.
Hà Tây có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú được nhiều khách du lịch
tìm đến như: Đồng Mô, suối Hai, Suối Tiên, Ao Vua,...đặc biệt là thắng
cảnh sông suối, hang động ở chùa Hương Tích đã trở thành điểm du lịch thu
hút khách thập phương đến trẩy hội. Nơi đây được coi là “Nam Thiên đệ
nhất động”. Hệ thống đình chùa, miếu mạo như: Chùa Thầy ở Quốc Oai là
nơi tu hành của cao tăng Từ Đạo Hạnh, Chùa Tây Phương ở Thạch Thất với
kiến trúc độc đáo nổi tiếng với Thập bát Vi La Hán đẹp hiếm thấy; tiếp đến
là chùa Đậu, chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian, thành cổ Sơn Tây,...
1.1.1.1Về lĩnh vực kinh tế:
V ề tài nguyên đất : Vùng đồng bằng gồm đất phù sa được bồi trên 17.000
ha, đất phù sa không được bồi 5.000 ha, đất phù sa gley 51.500 ha. Vùng
đồi núi có đất vàng trên phù sa cổ 20.600 ha. Nhìn chung đất Hà Tây có độ
- -
18
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
phì cao, có nhiều loại địa hình nên có thể bố trí được nhiều loại cây trồng,
vật nuôi.
Do có vùng đồi gò nên Hà Tây có điều kiện xây dựng các khu công
nghiệp tập trung và các cơ sở hạ tầng khác.
V ề tài nguyên khoáng sản : Có đá vôi ở Chương Mỹ, Mỹ Đức; đá granit ốp
lát ở Chương Mỹ; cao lanh ở Ba Vì, Quốc Oai; đồng, pirit, nước khoáng ở
Ba Vì,...
Về tài nguyên rừng: Rừng ở Hà Tây tuy không lớn nhưng rừng tự nhiên,
có rất nhiều chủng loại động thực vật phong phú, đa dạng và quý hiếm.
V ề con người : Hà Tây có nguồn nhân lực dồi dào, có kỹ thuật, trình độ văn
hoá,... Cụ thể: có lực lượng lao động trên 1,5 triệu người.
V ề cơ sở hạ tầng : Có mạng lưới giao thông thuỷ bộ phát triển khá mạnh,
thuận lợi cho giao lưu trong và ngoài tỉnh.

chuẩn quốc gia.
Các hoạt động văn hoá, thông tin diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức
phong phú, đa dạng. Tổ chức các hoạt động sưu tầm, nghiên cứu về văn hoá
phi vật thể, về nếp sống văn hoá của đồng bào các dân tộc. Hoạt động thể
dục thể thao tiếp tục được mở rộng và mang tính quần chúng rộng rãi. Các
chương trình quốc gia về phòng chống các dịch bệnh xã hội, chăm sóc sức
khoẻ nhân dân được triển khai tích cực, công tác truyền thông dân số, kế
hoạch hoá gia đình được đẩy mạnh. Cụ thể: năm 2002 giảm tỉ lệ sinh 0,6%,
giảm tỉ lệ sinh từ 3 con trở lên, giảm tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh
dưỡng, góp phần giảm tỉ lệ phát triển dân số xuống 1,5%. Năm 2002, 65%
số hộ được công nhận là gia đình văn hoá; 15% số làng, khu phố đạt tiêu
chuẩn làng văn hoá, khu phố văn minh.
Các chương trình giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo được triển
khai đồng bộ và tích cực hơn. Chương trình 120 giải quyết việc làm đã xét
duyệt cho vay được 5.225 hộ, tạo việc làm cho gần 2.000 lao động. Ngân
hàng phục vụ người nghèo đạt doanh số cho vay cả năm là 12 tỉ đồng với
gần 11 nghìn lượt hộ, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 8,5%. Các dự án cơ
sở hạ tầng thuộc chương trình 135 của các xã đặc biệt khó khăn được bàn
bạc dân chủ, công khai. Phần lớn các dự án đã được khởi công xây dựng
bằng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước kết hợp với sức dân. Công tác phòng
chống tệ nạn xã hội được tiến hành thường xuyên, liên tục gắn với cuộc vận
động toàn dân xây dựng cuộc sống mới, xây dựng làng văn hoá, gia đình
văn hoá.
Trong năm 2002, bên cạnh những kết quả đã đạt được cũng bộc lộ một
số yếu kém và khuyết điểm, nổi bật là:
- -
20
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
- V ề kinh tế : Tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh còn thấp, còn nhiều yếu tố
mất cân đối, chưa ổn định về phát triển. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội

- -
21
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
lạc hậu, nguồn thu từ nội bộ còn thấp, ảnh hưởng rất lớn đến việc huy
động vốn qua KBNN Hà Tây.
- Hai là: Nhân tố về thu nhập: thu nhập bình quân đầu người trong tỉnh
thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo còn 8,5%. Tích luỹ trong dân cư chưa lớn, chưa
đồng đều mà chỉ tập trung vào một số hộ, một số doanh nghiệp tư nhân.
Trình độ dân trí thấp nên việc phát hành trái phiếu Chính phủ của kho
bạc để thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư chưa đạt hiệu quả cao.
- Ba là: Nhân tố lãi suất: đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới việc huy
động vốn. Người dân mua trái phiếu Chính phủ trước tiên phải xem xét
yếu tố lãi suất vì cho Nhà nước vay cũng là đầu tư gián tiếp, mà đầu tư
phải sinh lợi, ít nhất là sinh lợi đó phải bằng lợi tức bình quân của các
ngành kinh tế đạt được sau khi bảo toàn đồng vốn. Song lãi suất Chính
phủ chưa hấp dẫn được người dân trong khi người dân có thói quen gửi
tiết kiệm vì lãi suất Ngân hàng cao hơn, linh hoạt, dễ rút vốn hơn.
Thực tế ở KBNN Hà Tây có nhiều đợt do lãi suất Ngân hàng cao hơn
nên dân đã rút tiền ra chịu không hưởng lãi để quay sang gửi tiết kiệm Ngân
hàng. Hiện nay, lãi suất trái phiếu Chính phủ đã phần nào hấp dẫn được dân
chúng, do vậy việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu Chính phủ ở
KBNN Hà Tây đã tăng lên đáng kể.
- Bốn là: Nhân tố về lạm phát: do tình hình lạm phát còn lớn, đồng tiền
vẫn bị mất giá, do vậy rủi ro là không tránh khỏi. Dù lãi suất cao nhưng
tiền mất giá thì lãi suất không bù được vốn gốc, người dân mua trái
phiếu kho bạc phải chịu lãi suất âm. Đó là lý do khiến người dân không
dám mạo hiểm bỏ tiền vào mua trái phiếu Chính phủ. Do đó, lạm phát
cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động vốn tại KBNN Hà Tây.
- Năm là: Nhân tố thông tin, tuyên truyền: do thông tin tuyên truyền còn
hạn chế, chưa tổ chức được mạng lưới tuyên truyền rộng rãi trên địa bàn

Trong bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều đổi mới về cơ chế quản lý, tình
hình kinh tế xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các doanh nghiệp đã
trải qua giai đoạn thử nghiệm trong cơ chế thị trường, đã đi sâu vào cơ chế
ổn định và phát triển, hiện đang tiến hành cổ phần hoá. KBNN Hà Tây đã
góp phần không nhỏ trong quá trình quản lý, xây dựng và phát triển nền
kinh tế của tỉnh.
- -
23
Một số giải pháp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ
SƠ ĐỒ CỤ THỂ VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA KBNN HÀ TÂY
KBNN Hà Tây đã hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy, không ngừng nâng cao
trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm đối với công việc của mỗi cá nhân,
mỗi phòng. Đồng thời giúp cho công tác quản lý quỹ ngân sách được chặt
chẽ hơn, chất lượng hơn, công tác kiểm tra giám sát của lãnh đạo cần cụ thể,
sâu sát, khách quan hơn. Việc bố trí như vậy còn tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng trong quan hệ giao dịch.
Với bộ máy gồm 321 cán bộ, trong đó có 175 cán bộ đạt trình độ đại học
(chiếm 56%). Qua 12 năm hoạt động đã có những đóng góp tích cực, góp
phần ổn định tình hình kinh tế – xã hội, giữ nhịp độ tăng trưởng khá. Những
thành tựu mà KBNN Hà Tây đã đạt được là: Các đơn vị trong toàn hệ thống
kho bạc của tỉnh đã thực hiện tốt công tác thu NSNN, chi tiền mặt và ngân
phiếu thanh toán trên địa bàn, đồng thời thực hiện tốt công tác kiểm soát chi
NSNN qua KBNN; làm tốt công tác phát hành trái phiếu kho bạc và công
trái xây dựng tổ quốc. Góp phần thực hiện tốt chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước trên địa bàn tỉnh, cụ thể:
- Tổng số thu NSNN trên địa bàn năm 2002 là 487 tỉ đồng.
- -
Chi nhánh KBNN
các huyện
Ban Lãnh đạo

thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, liên tục được các cấp khen thưởng
như: Chính phủ, Bộ Tài chính, KBNN TƯ, UBND tỉnh, Bộ Văn hoá
Thông tin, Chủ tịch nước.
1.1.3.2Vai trò của KBNN Hà Tây trong công tác huy động vốn thông qua
phát hành trái phiếu Chính phủ
Cũng như các kho bạc khác, KBNN Hà Tây có chức năng quản lý quỹ
NSNN, tập trung các nguồn thu, cấp phát, chi trả các khoản chi NSNN. Bên
cạnh đó, KBNN Hà Tây còn có vai trò quan trọng trong công tác huy động
vốn để bù đắp thiếu hụt NSNN và để đầu tư phát triển kinh tế. Điều đó thể
hiện ở những điểm sau:
- KBNN Hà Tây nghiên cứu và áp dụng chính sách vay dân có hiệu quả
thông qua việc phát hành tín phiếu, trái phiếu Chính phủ, các chứng chỉ
vay nợ khác của Chính phủ mà KBNN TƯ giao cho.
- KBNN Hà Tây tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ, tập trung vốn
cho NSNN, đồng thời thanh toán trả nợ gốc và lãi đến hạn.
- Tổ chức quản lý và bảo quản trái phiếu Chính phủ mà KBNN Hà Tây
phát hành trên địa bàn
- Công tác huy động vốn ở KBNN Hà Tây gắn liền với việc thực hiện
chính sách Tài chính – Tiền tệ, tổ chức điều hoà tiền mặt, kiểm soát các
hoạt động mua bán tín phiếu và trái phiếu KBNN để góp phần kiềm chế
lạm phát, ổn định lưu thông tiền tệ.
- Tổ chức hạch toán kế toán các khoản vay nợ, trả nợ ở trong tỉnh theo
từng kỳ hạn nợ, từng loại tín phiếu – trái phiếu của từng đối tượng huy
động. Phân tích tác động ảnh hưởng của việc huy động vốn trong tỉnh
đối với cân đối NSNN và điều hoà lưu thông tiền tệ
- Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với cả nước, nền
kinh tế Hà Tây đã chuyển biến rõ rệt, nhất là trong lĩnh vực Tài chính.
- -
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status