TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ
ĐÀO
TẠO SAU ĐẠI
HỌC
TIỂU LUẬN: MÔN TÀI CHÍNH CÔNG
NGHIÊN CỨU PAPER:
NGUỒN THU TỪ DẦU, CHÍNH SÁCH CHI TIÊU
CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG
Amany A. El Anshasy
KHOA TÀI CHÍNH VÀ KINH TẾ
ĐẠI HỌC CÁC TIỂU VƯƠNG QUỐC Ả RẬP THỐNG NHẤT
&
KHOA TÀI CHÍNH CÔNG
ĐẠI HỌC ALEXANDRIA, AI CẬP
GVHD:TS. SỬ ĐÌNH THÀNH
Nhóm 5- Lớp Ngân Hàng Đêm 1 – K22
Danh sách nhóm
1. Bùi Thị Thu Thủy
2. Nguyễn Thị Phương Thủy
3. Nguyễn Thị Hoài Thương
4. Nguyễn Phạm Nhã Trúc
5. Bùi Ngọc Khánh
GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 2 1. GIỚI THIỆU
Kể từ những năm 1970, chu kỳ giá dầu rất khó lường trước. Chính sách tài khóa
trong các nền kinh tế xuất khẩu dầu đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý sự
biến động cao và không chắc chắn của những nguồn thu từ dầu. Một điểm đáng chú ý của
tài chính công ở các nước này là sự ủng hộ mạnh mẽ chu kỳ của chi tiêu chính phủ và sự
cân bằng hoạt động phi dầu mỏ liên quan đến sự biến động giá dầu (Villafuerte và cộng
sự., 2010: El Anshasy & Bradley, 2011). Chi tiêu của chính phủ thường giữ nhiệm vụ
như một cơ chế truyền tải chính của cú sốc giá dầu đối với nền kinh tế vĩ mô (Husain và
cộng sự, 2008; Pieschacon, 2009).
Trong khi đó, có đầy đủ tài liệu dẫn chứng rằng các nước xuất khẩu dầu lâu năm,
tính trung bình, có hiệu suất tăng trưởng thấp trong vài thập kỷ qua, một hiện tượng
thường được nhắc đến như là thất thoát tài nguyên . Theo như chuyên đề nghiên cứu của
Sachs and Waner (1995), nội dung phát triển chính của nghiên cứu này đã nổi bật lên một
số vấn đề mà qua đó sự thâm hụt có thể xảy ra. Bài nghiên cứu này đặt ra câu hỏi sau
đây: bản chất đặc biệt của chính sách tài khóa trong nước xuất khẩu dầu có góp phần làm
tăng sự thâm hụt của họ không?
Đặc biệt, chúng tôi nghiên cứu tác động tăng trưởng của các khoản chi tiêu khác
nhau của chính phủ được tài trợ bởi sự dao động của doanh thu trong khi kiểm soát ảnh
hưởng của biến động giá dầu trong một nhóm các nước xuất khẩu dầu . Nghiên cứu này
có hai tiên đề cơ bản mà các nước đang xuất khẩu dầu đã bị lãng quên. Đầu tiên, những
quyết định của chính sách chi tiêu công thì không thể tách rời khỏi những quyết định tài
chính. Do đó, nhấn mạnh ảnh hưởng sự tăng trưởng của một bên của ngân sách có thể là
sai lầm vì nó không giải thích cho một thực tế rằng tăng trong chi tiêu phải được tài trợ
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG
GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 4
bảo với các quy tắc tài chính là cần thiết để đảm bảo cách chi tiêu công từ chu kỳ dầu.
Chỉ dưới cam kết chính trị tin chắc này, Chính phủ sẽ đầu tư một phần trong quỹ đầu tư
hoặc sử dụng nguồn thặng dư để từ bỏ nợ ,nâng cao các lợi ích xã hội từ sự bùng nổ
doanh thu và giảm bớt áp lực cạnh tranh từ nguồn nguyên liệu thay thế
Bài nghiên cứu này được trình bày như sau: phần hai đặt ra giai đoạn bằng cách
xem xét bản chất riêng biệt của chính sách tài khóa trong nước xuất khẩu dầu và vai trò
của nó trong sự phát triển. Trong phần ba phương pháp và dữ liệu thực nghiệm được đưa
ra. Những kết quả và các tranh luận chính sách được trình bày trong phần bốn. Phần năm
là kết luận .
2. CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG TRONG CÁC NƯỚC XUẤT
KHẨU DẦU
Mô hình tăng trưởng nội sinh bắt nguồn từ mô hình tân cổ điển trong đó họ cho
phép các chính sách công có những tác động tăng trưởng lâu dài. Trong một mô hình tiêu
chuẩn tăng trưởng tân cổ điển, sự khác biệt chính sách tài khóa chỉ có thể được giải thích
qua quan sát được sự khác biệt trong mức thu nhập chứ không phải tăng trưởng. Những
chuyên đề nghiên cứu của Barro (1990) và Barro và Sala-i-Martin (1992) phát triển một
mô hình tăng trưởng nội sinh trong đó vốn công có hiệu ứng lan tỏa trên năng suất vốn tư
nhân. Tính chất bên ngoài này cho phép vốn công ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn,
ngụ ý là sự khác biệt trong chính sách tài khóa giải thích một số quan sát khác biệt trong
sự phát triển lâu dài giữa các quốc gia.
Ở các nước xuất khẩu dầu mỏ, tài chính phụ thuộc vào dầu mỏ làm cho quản lý tài
chính rất khó khăn. Có ít nhất ba đặc điểm tài chính có tiềm năng tăng trưởng chậm. Thứ
nhất, giá dầu tăng có xu hướng giảm bớt sự thúc đẩy để điều chỉnh chính sách tài khóa và
làm giảm động lực cho sự thận trọng tài chính. Ngoài ra, tích lũy thặng dư ngân sách
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG
Các nhánh tăng trưởng kinh tế của việc tăng trong chi tiêu trong thời gian bùng nổ
có thể được truyền qua cơ chế "căn bệnh Hà Lan " mà trong đó nguồn thu từ dầu được
đánh giá đúng qua tỷ giá hối đoái thực. Chi tiêu chính phủ cao hơn đối với hàng hoá phi
thương mại (ví dụ, y tế, giáo dục, và các dịch vụ công cộng) đẩy giá của hàng hoá phi
thương mại lên cân xứng với hàng hoá thương mại, dịch chuyển các nguồn lực của khu
vực phi dầu mỏ đến khu vực phi thương mại. Đối với phạm vi mà các khu vực sản xuất
cung cấp một tác động tích cực lan tỏa đến các lĩnh vực khác, thì sự gia tăng trong chi
tiêu chính phủ đối với hàng hóa phi thương mại sẽ có tác động yếu đối với tăng trưởng
dài hạn (Sachs và Warner, 1995).
Thứ hai, nhiều nghiên cứu cho rằng sự gia tăng lớn trong đầu tư công trong suốt
sự bùng nổ là không hiệu quả và thường dẫn đến khoản sinh lời thấp. Mô hình của
Robinson và Torvik (2005) nghiên cứu các nhà chính trị ưu đãi trong nguồn tài nguyên
sẵn có ở nước đang phát triển đã xây dựng lý thuyết con voi trắng, tức là dự án đầu tư
với lợi ích xã hội âm. Sau những cú sốc dầu đầu tiên và thứ hai của năm 1970, 85%,
50%, và 46% trong tổng thu nhập bất thường được tích lũy cho chính phủ của Nigeria,
Indonesia, Venezuela, tương ứng, được chuyển về tăng cường đầu tư công mà không có
bất cứ sự tăng trưởng nào ( Gelb và cộng sự, 1988). Tình hình đã thay đổi một chút trong
những năm 2000. Theo báo cáo của IMF tại Trung Đông và Trung Á, trong Hội đồng
Hợp Tác Các Nước Vùng Vịnh, đầu tư công theo kế hoạch vượt quá 800 tỷ $ trong năm
2007-2008, đưa ra câu hỏi về khả năng hấp thụ hiệu quả đầu tư lớn như vậy.
Thứ 3, nguồn thu từ dầu mỏ làm giảm tác động của nguồn thu trong nước và từ
nguồn thu phi dầu mỏ, đặc biệt là các loại thuế (Bornhorst và cộng sự, 2008). Thêm nữa,
những nước xuất khẩu dầu mỏ thường xuyên phải đối mặt với khó khăn vay vốn trong
suốt chu kỳ giá dầu mỏ thấp điều đó làm giảm khả năng của các nhà quản trị chính sách
tài khóa trong việc duy trì mức độ chi tiêu như trong quá khứ và trong việc thúc đẩy cắt
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 7
Xem xét mô hình sau đây:
Ở đó, y là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người; V là một véc tơ
bao gồm các biến liên quan đến giá dầu, F là một vector của các biến chính sách tài khóa;
H là một vector của các biến kiểm soát phi tài chính, , một biến thời gian cố định
không quan sát được, có tác động cụ thể đến quốc gia và là một thuật ngữ lỗi quan sát
cụ thể.
Các đặc điểm kỹ thuật năng động trong (1) cho thấy hiệu ứng cố định quốc gia cụ
thể là tương quan với biến phụ thuộc trễ và một số biến cũ có thể là nội sinh. Điều đó làm
tăng OLS không thống nhất và mối quan tâm điều chắc ước tính. Hệ thống dự toán
(GMM), được phát triển bởi Arellano và Bover (1995), và Blundell và Bond (1998), đã
khắc phục những vấn đề này. Nó sử dụng sự khác biệt trễ của các biến được xác định
trước là công cụ cho các cấp và sự khác biệt của các biến nghiêm ngoại sinh (như trong
các thủ tục IV tiêu chuẩn).
Để nắm bắt được ảnh hưởng trực tiếp của giá dầu lên sự tăng trưởng, chúng bao
gồm hai biến giải thích: tốc độ tăng trưởng hàng năm của giá dầu và sự biến động của giá
dầu. Sau này được đo bằng phương sai có điều kiện thay đổi của giá dầu thu được bằng
cách sử dụng mô hình GARCH (1,1). Chúng tôi thực hiện theo các đặc điểm kỹ thuật của
Lee, Ni, và Ratti (1995), sử dụng dữ liệu hàng tháng về giá dầu từ tháng 5/1957 đến tháng
12/2008.
Chính sách tài khóa được đại diện bởi các vector F. Mục tiêu chính của chúng tôi
là nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn thu từ dầu trong thời kỳ tăng cao đến nền kinh tế
thông qua những thay đổi trong các loại chi phí hoặc thay đổi trong thặng dư ngân sách
của chính phủ. Vì những quyết định tài chính của chính phủ phụ thuộc lẫn nhau, chúng
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 9
tôi giới thiệu đầy đủ các hạn chế ngân sách nhà nước (GBC) trong mô hình tăng trưởng.
những thử nghiệm này là kiểm tra trung bình nhóm trong đó tất cả các hệ số sửa lỗi được
tự do khác nhau giữa các nhóm. Còn lại hai được gộp lại kiểm tra bảng. Họ cho rằng hệ
số hạn sửa lỗi không thay đổi giữa các nhóm.
PMG được sử dụng để ước lượng mô hình sửa lỗi sau đây:
Trong đó: là (log) GDP thực tế thu nhập bình quân đầu người và là sự phát
triển của nó; là độ lệch từ cân bằng dài hạn tại bất kỳ thời gian cho nhóm i, và là
các sửa lỗi (tốc độ điều chỉnh) hệ số. Vector nắm bắt được hệ số dài hạn của lãi suất
mà không thay đổi giữa các nhóm, các hệ số này đại diện cho độ đàn hồi lâu dài của thu
nhập bình quân đầu người đối với mỗi biến trong mà biến này là một vector của
các biến dự kiến với ảnh hưởng đến sự phát triển cả trong ngắn hạn và trong dài hạn. Các
phản hồi trong ngắn hạn của các biến X được phản ánh bởi các vector ; là một
vector của các biến kiểm soát được dự kiến sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chỉ
trong ngắn hạn và là hệ số ngắn hạn của nó. là hiệu ứng cụ thể nhóm và là sai.
Các biến trong X và Z là tương tự như trên. Tuy nhiên, các phân vùng của các biến vào
dài hạn và ngắn hạn sẽ được hướng dẫn bởi kết quả của chúng tôi từ các ước lượng
GMM.
3.3 DỮ LIỆU
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 11
Mô tả đầy đủ của tất cả các biến và các nguồn dữ liệu được cung cấp trong bảng
Al. Bảng điều khiển cân bằng quan sát hàng năm bao gồm tất cả hoặc một phần của giai
đoạn 1970-2007. Mẫu bao gồm 15 quốc gia xuất khẩu dầu, cụ thể là Bahrain, Cameroon,
Colombia, Ai Cập, Indonesia, Iran, Kuwait, Malaysia, Mexico, NiGeria, Na Uy, Oman,
Syria, UAE, và Venezuela. Các dữ liệu tài chính thu được từ GFS của IMF. Trong một số
trường hợp, chẳng hạn như Nigeria và Indonesia, để hoàn thành bộ số liệu ,chúng tôi phải
quay lại với số liệu tài chính do cấp có thẩm quyền của địa phương báo cáo. Đáng chú ý
dấu hiệu của một cơ cấu doanh thu suy yếu. Sự gia tăng mạnh trong doanh thu từ năm
2002 đến năm 2007 dẫn đến một sự suy giảm đáng kể trong tỷ lệ thuế trong tổng số thu
ngân sách từ 53% trong những năm 80 và 90 đến 41% trong những năm 2000.
Bảng (1a) cũng cho thấy hiệu suất tăng trưởng của các nước mẫu dạng chuỗi trong
điều kiện thu nhập bình quân đầu người thực tế ở cả ba tập. Tuy nhiên nó mô tả một số
dấu hiệu của một phản ứng không cân xứng thu nhập bình quân đầu người đến chu kỳ
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 13
dầu hỏa. Trong khi chúng tôi kỳ vọng thu nhập bình quân đầu người tăng lên trong các
chu kỳ bùng nổ, chúng ta thấy rằng, tính bình quân thì nó giảm nhẹ trong chu kỳ đầu và
thứ ba. Không có gì đáng ngạc nhiên, tuy nhiên, giá dầu sụt giảm đã kéo theo hiệu suất
tăng trưởng thấp nhất trong những năm 1980 và 1990, trên thực tế thu nhập bình quân
đầu người đã giảm với tỷ lệ trung bình 2,65%/năm trong suốt thời gian đó.
Bảng (1b) trình bày sự tăng trưởng trung bình hàng năm ở mỗi quốc gia cho cả
giai đoạn và độ lệch chuẩn của nó. Trong gần 4 thập kỷ, tốc độ tăng trưởng trung bình
hàng năm là âm (-1,74%). Tuy nhiên, một số nước đã làm tương đối tốt hơn so với các
nước khác. Venezuela, Nigeria, Mexico và Iran đã có hiệu suất tăng trưởng kém nhất mà
rõ ràng có liên quan đến biến động thu nhập cao. Điều đó tạo nền tảng cho nghiên cứu
của chúng tôi về vai trò của chính sách tài khóa.
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 14
4. CÁC KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN CHÍNH SÁCH
Sử dụng những kiểm tra F thông thường, chúng ta ước lượng mô hình tăng trưởng
thay đổi trong thu nhập.
3
Theo ghi nhận của một trọng tài kinh tế, đây không phải là một kết quả đáng ngạc nhiên kể từ khi cú sốc giá dầu
đánh vào các nước dầu mỏ ở những mức độ khác nhau, và tập hợp duy nhất của các biến thể hiện việc này là các
biến tài chính.
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 15
chỉ giải thích một 0,14 % (trong số khoảng 2,7%) giảm tốc độ tăng trưởng trung bình
mỗi năm
4
.
Thứ hai, tích lũy thặng dư ngân sách tại thời điểm được hưởng lợi có một tác động
tiêu cực và có ý nghĩa lớn đối với tăng trưởng. Điều này dường như ảnh hưởng mạnh mẽ
thông qua tất cả hồi quy tiếp theo.
Thứ ba, chi tiêu chính phủ - được tài trợ bởi một sự gia tăng trong doanh thu - có
tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng.
Thứ tư, tất cả các biến kiểm soát khác có những dấu hiệu chính xác. Đáng chú ý là
chỉ số dân chủ dường như mất đi ý nghĩa một khi các biến tài chính và quản trị được bao
gồm. Sau khi kiểm soát chính sách tài chính, quản trị dường như có tác động tích cực rất
quan trọng đối với tăng trưởng. Phần còn lại của chủ đề phần này chỉ ra những kết quả để
xem xét kỹ lưỡng.
4
Từ hồi quy 4b, chúng tôi thấy rằng 1% giảm giá dầu trong giai đoạn này kết quả chỉ có 0,02 điểm phần trăm tốc độ
tăng trưởng giảm. Vì vậy, giảm 7% trong giá dầu sẽ chỉ giải thích giảm 0,14% trong tốc độ tăng trưởng, còn lại
2,5% của sự suy giảm trong tốc độ tăng trưởng (xem bảng 1b) được giải thích bởi các yếu tố khác.
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG
Bảng (3), (4), (5) cho thấy ảnh hưởng tác động tăng trưởng âm của thặng dư trong
chính sách tài khóa khi có một sự tăng đột biến trong doanh thu dường như để chịu chi
phí phân tán. Kết quả này cần xem xét kỹ lưỡng. Lưu ý rằng tác động tiêu cực này phản
ánh 2 thành phần: hiệu ứng biên của cân đối ngân sách và hiệu quả của doanh thu chính
phủ. Nói cách khác, hệ số này đo lường hiệu quả tăng trưởng kinh tế của việc tích lũy từ
thặng dư của chính phủ trong thời kỳ doanh thu tăng cao và thời kỳ doanh thu sụt giảm
mạnh. Do đó, mối quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng - thặng dư có thể được dàn xếp bởi
các ảnh hưởng tiêu cực của cú hích lên nền kinh tế.
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia giàu tài nguyên, ví dụ như Mexico, Nigeria,
Venezuela, và những nước tương tực khác, cho thấy khi nguồn thu từ dầu tăng cao thì
gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế bởi vì chúng sẽ gây ra các cuộc chạy đua trục lợi kinh
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 18
tế từ nguồn thu dầu mỏ của đất nước trên tất cả các cấp của chính quyền
5
. Ngược
lại, trong một cuộc suy thoái, chính phủ thường có thặng dư nhỏ hơn hoặc thâm hụt ngân
sách thì sẽ làm giảm bớt áp lực trục lợi kinh tế và cải thiện hiệu quả chi tiêu .
Điều này, tuy nhiên, không có nghĩa là các quốc gia dầu mỏ không nên tiết kiệm
phần thặng dư của họ. Cần cảnh báo tầm quan trọng của việc thực hiện các quy định tài
chính phản chu kỳ nghiêm ngặt, và xây dựng chính sách chính trị phù hợp để đảm
bảo việc tuân thủ chúng. Điều này thực hiện như là cơ sở để đầu tư thành công thặng
dư trong quỹ tài nguyên quốc gia (Humphreys vàSANDBU, 2007). Ngoài ra, thanh toán
nợ công trong thời kỳ giá dầu tăng cao cũng rất quan trọng.
Để phân tích rõ hơn về hiệu ứng thặng dư tiêu cực này, doanh thu được phân ra
thành thu nhập từ thuế và các phần thu nhập khác. Đối với phần doanh thu không từ
thuế bao gồm hầu hết các hóa đơn dầu chuyển vào ngân sách, biến thể của nó sẽ phản
Một khi nguồn thu không phải từ thuế được bao gồm, hệ số thặng dư ngân sách sẽ
không còn quan trọng, nhưng vẫn còn ý nghĩa tiêu cực, trong khi ảnh hưởng của nguồn
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 20
thu không phải từ thuế xuất hiện có ý nghĩa tiêu cực. Kết quả này phù hợp với lập luận
trên là hiệu ứng tăng trưởng âm của thặng dư ngân sách bắt nguồn từ những tác động bất
lợi của nguồn thu từ dầu trong thời kỳ tăng cao (điều làm chậm thuế trong trường hợp
này) chứ không phải là thặng dư ngân sách cho mỗi se.
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 21
Ghi chú: Tất cả những ước tính ban đầu(1970) bao gồm thu nhập bình quân, độ trễ sự tăng trưởng, biến giả khu vực
và thời gian. Biến chính sách tài khóa được nhập với 5 độ trễ; những biến khác chỉ với 1 độ trễ. Các tác động tăng
trưởng được tính bằng tổng các hệ số cùng thời điểm và độ trễ (5 độ trễ) chia 1 trừ đi hệ số độ trễ của biến phụ
thuộc. Thống kê F được báo cáo theo từng hệ số. p-value trong dấu ngoặc vuông.***, ** và * tương ứng với mức ý
nghĩa 1%, 5%, 10%.
4.2. THÀNH PHẦN CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG
Trong bảng (3), chi tiêu được phân ra thành chi tiêu đầu tư và chi thường xuyên.
Chúng tôi xem xét khả năng chi tiêu của chính phủ có thể có tác động tăng trưởng khác
nhau tùy thuộc vào độ lớn của sự thay đổi giá dầu. Các khoản tương tác của những thay
đổi trong giá dầu với chi tiêu đầu tư và chi tiêu thường xuyên được cộng vào.
Bất chấp phương án tài chính, chi tiêu thường xuyên vẫn không có ý nghĩa với sự
tương tác của nó với sự thay đổi giá dầu. Ngược lại, chi tiêu đầu tư tài trợ thông qua sự
gia tăng doanh thu có khoản sinh lợi xã hội dương trong dài hạn. Tác động này trở nên rất
GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 22
ta thấy ngưỡng này nhiều hơn gấp đôi (lên 94%). Phải mất một cú sốc dầu tích cực rất lớn
cho đầu tư công để có tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
Phát hiện này là phù hợp với thực nghiệm. Từ nguồn tài nguyên có sẵn chính phủ
đáp ứng các ưu đãi chính trị để chi cho các dự án lớn, có uy tín, và kém hiệu quả. Ngoài
ra, các kết quả trong cột 6a và 6b cho thấy đầu tư công, được tài trợ thông qua đánh thuế
cao hơn trong thời gian bùng nổ (thay đổi giá dầu), sẽ có lợi nhuận âm. Lưu ý rằng
cap
trở
nên không có ý nghĩa trong khi
0
vẫn có ý nghĩa tiêu cực. Những kết quả này gợi ý
nhanh 2 chính sách quan trong: thứ nhất là mở rộng chi tiêu đầu tư trong thời gian bùng
nổ sẽ làm chậm sự tăng trưởng; thứ hai, phản ứng với sự sụt giảm của giá dầu bằng cách
tăng chi tiêu đầu tư kích thích tăng trưởng, bất kể phương thức tài chính. Ngược lại, cắt
giảm chi tiêu đầu tư trong bối cảnh những cú sốc giá dầu tiêu cực sẽ làm tăng mạnh thêm
những tác động bất lợi cho tăng trưởng vì những cú sốc. Mức độ thiệt hại tăng trưởng lớn
lớn hơn những cú sốc tiêu cực và rõ nét hơn trong việc cắt giảm chi phí vốn.
Chúng tôi cũng có thể xem xét hiệu quả tăng trưởng biên của một sự thay đổi
trong giá dầu, tại tỷ trọng xác định của vốn công, điều này có thể được tính như sau:
0
* .Ex .%
growth oilp
capital penditure GDP
oilp
nước và mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ trong thời gian bùng nổ giá dầu có ảnh
hưởng bất lợi đáng kể vào tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong khi tăng tiền lương khu
vực công thông qua tăng thuế có hiệu quả tăng trưởng không đáng kể, thì việc tăng chi
tiêu mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ có tác động ít đối với tăng trưởng kinh tế .
Ngoài ra, tài khoản vãng lai và chi tiêu thường xuyên khác xuất hiện không phụ thuộc
đáng kể vào nguồn kinh phí, cái mà chỉ ra rằng hầu hết chúng không hiệu quả.
Bảng (5) phân tích tổng kinh phí theo chức năng. Chi tiêu cho cơ sở hạ tầng và
dịch vụ công xuất hiện hiệu quả nhất, không phụ thuộc vào phương án tài chính. Hiệu
quả này tương đối lớn trong trường hợp các dịch vụ công, cho thấy lợi nhuận tương đối
cao. Mặt khác, việc chi tiêu cao hơn cho xã hội được tài trợ bởi nguồn thu từ dầu tăng cao
sẽ cản trở tăng trưởng.
NGUỔN THU TỪ DẦU,CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG GDVH: TS SỬ ĐÌNH THÀNH Trang 24 Ghi chú: Tất cả những ước tính ban đầu(1970) bao gồm thu nhập bình quân, độ trễ sự tăng trưởng, biến giả khu vực
và thời gian. Biến chính sách tài khóa được nhập với 5 độ trễ; những biến khác chỉ với 1 độ trễ. Các tác động tăng
trưởng được tính bằng tổng các hệ số cùng thời điểm và độ trễ (5 độ trễ) chia 1 trừ đi hệ số độ trễ của biến phụ
thuộc. Thống kê F được báo cáo theo từng hệ số. p-value trong dấu ngoặc vuông.***, ** và * tương ứng với mức ý
nghĩa 1%, 5%, 10%.