TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ[ CHÍ MINH
HỆ
ĐÀO
TẠO SAU ĐẠI
HỌC
Môn học: Ngân Hàng Quốc Tế
Đề tài:
TỒNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ GVHD: PGS.TS Trương Thị Hồng
Khóa 22 – Lớp Đêm 1 – Nhóm 1
TP.HCM, Tháng 01 năm 2014
5. Đặc điểm của các dịch vụ ngân hàng quốc tế: 5
II. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG QUỐC TẾ NGÀY NAY: 6
1. Các hình thức tổ chức Ngân hàng quốc tế: 6
2. Sự phát triển của các trung tâm tài chính quốc tế : 6
3. Vai trò của Ngân hàng Quốc tế hiện nay 16
III. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM: 17
1. Dịch vụ ngân hàng đại lý: 17
2. Dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế: 18
3. Dịch vụ thanh toán quốc tế: 20
4. Các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác: 21 Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 3
I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ:
1. Khái niệm:
Có nhiều ý kiến khác nhau về việc hiểu thế nào là ngân hàng quốc tế. Có
nguời hiểu là ngân hàng có các chi nhánh hoạt động ở nước ngoài. Một định nghĩa
khác lại lấy đồng tiền sử dụng trong giao dịch làm cơ sở phân loại ngân hàng quốc tế
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nước Châu Âu rất cần tiền để tái thiết
nền kinh tế bị hủy hoại nặng nề bởi chiến tranh và Mỹ là nhà tài trợ chính. Ngoài sự
tăng trưởng chưa từng có về đầu tư và thương mại quốc tế trên thế giới sau chiến
tranh thế giới thứ 2 đã dẫn đến sự phát triển không ngừng các nghiệp vụ ngân hàng
quốc tế của các ngân hàng thương mại. Với các hiệp định “Land Bank”, “Marshall”,
các ngân hàng Hoa Kỳ đã cho nước ngoài vay hàng chục tỷ USD. Rất nhiều ngân
hàng thương mại Hoa Kỳ, trong thập niên 60, tăng lên nhanh chóng về quy mô đã đưa
đến chủ trương mở rộng nghiệp vụ ngân hàng ra nước ngoài ( cả các nước công
nghiệp phát triển và các nước đang phát triển), đó là phản ứng tự nhiên của việc phát
triển nghiệp vụ trong nước và đáp ứng nhu cầu tham gia vào thị trường tài chính quốc
tế và những đổi mới trong lĩnh vực này đã tạo ra rất nhiều nghiệp vụ ngân hàng mới.
Lịch sử phát triển ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế
thứ nhất.
Một vài thập kỷ sau thế chiến thứ 2 kết thúc, bên cạnh sự phát triển kinh tế
vượt bậc của Mỹ, các nước Châu Âu như Anh, Pháp, Đức,… các nước tư bản khác
như Canada và đặc biệt là Nhật cũng giành được những thành tựu kinh tế quan trọng.
Lẽ tất yếu khi kinh tế phát triển kéo theo việc các ngân hàng của các quốc gia công
nghiệp hóa, đặc biệt là ngân hàng các nước Canada, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp cũng
theo gương của các ngân hàng Hoa Kỳ ra sức mở rộng nghiệp vụ của mình ra nước
ngoài trong thập kỷ 70. Lịch sử ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển dịch vụ ngân
hàng quốc tế lần thứ hai.
Bên cạnh làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng ồ ạt của các nước tư bàn, còn
có một làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ ba của các nước đang phát triển
diễn ra bình lặng và cuối thập kỷ 70.
Làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ tư bắt đầu bằng sự kiện ra đời đạo
luật nhất thể hóa Châu Âu ban hành vào năm 1986, trong đó Cộng đồng Châu Âu xóa
bỏ mọi rào chắn đối với luồng vốn quốc tế. Điều này tạo điều kiện cho dịch vụ ngân
hàng quốc tế phát triển mạnh mẽ về chất lượng và số lượng và vì vậy các nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế mang tính toàn cầu hóa.
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
nước và quốc tế, ngoài ra phải có kiến thức sâu rộng về tài chính quốc tế.
+ Hiểu biết và áp dụng thành thạo các ứng dụng của khoa học công nghệ. Ngày
nay, hầu hết các ngân hàng kinh doanh quốc tế đều sử dụng mạng toàn cầu Swift,
mạng giao dịch kinh doanh toàn cầu Reuter, và ứng dụng công nghệ thông tin vào
quản lý và kinh doanh. Do vậy việc sử dụng thành thạo các tiện ích ngân hàng,
máy tính và công nghệ thông tin là bắt buộc
+ Phải hiểu biết thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, tiếng Anh là bắt buộc. Do là
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 6
kinh doanh quốc tế nếu không thông thạo ngoại ngữ thì không làm việc được
+ Do bối cảnh hoạt động kinh doanh đòi hỏi rất nhiều về trình độ của nguồn nhân
lực, nên việc tập trung vào phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân lực là điều tất yếu.
- Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có tính rủi ro cao: Do sự phức tạp của kinh doanh
quốc tế
nên
thường xảy ra việc tăng, giảm đột ngột về ngoại tệ, lãi suất, trục trặc
trong thanh toán quốc tế, biến động chính trị….Vì vậy nghiệp vụ ngân hàng quốc
tế có mức độ rủi ro cao hơn nghiệp vụ ngân hàng ở trong nước. Tuy nhiên, rủi ro
càng cao lợi nhuận càng lớn nên các ngân hàng vẫn phát triển hoạt
động
kinh
doanh quốc tế để có cơ hội và tiềm năng phát triển lâu dài.
- Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chịu ảnh hưởng nhiều bởi luật
pháp quốc tế và
thông lệ quốc tế: Đặc điểm này do tính quốc tế của dịch vụ
ngân hàng quốc tế
quyết định. Do sự phức tạp trong môi trường hoạt động kinh doanh quốc tế, do sự
tham gia vào các thị trường tiền tệ châu Âu để dành các khoản nợ đồng đô la châu Âu
hay thực hiện các khoản vay ngân hàng nước ngoài. Chúng nằm chủ yếu ở những nơi
có nền tài chính chủ yếu, như Bahamas, nơi chúng hoạt động mà không phải chịu
thuế; họ không quan tâm đến công việc kinh doanh ở địa phương. Loại hình này xuất
hiện nhiều ở Mỹ.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện dịch vụ trọn gói: Chi nhánh
ngân hàng nước ngoài thực hiện trọn gói là sự mở rộng của ngân hàng chính, hoạt
động như các ngân hàng tại nước đó nhưng về mặt pháp lý chi nhánh ngân hàng tại
nước ngoài lại là một bộ phận của ngân hàng mẹ. Các chi nhánh thực hiện kinh doanh
nghiệp vụ ngân hàng bán sỉ dựa chủ yếu vào các khoản tiền gửi mua từ hệ thống ngân
hàng quốc tế được biết đến như là thị trường liên ngân hàng. Họ không thể phát triển
một cơ sở tiền gửi địa phương. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài vừa chịu sự điều
chỉnh của luật ngân hàng trong nước vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng nước
ngoài mà nó mở chi nhánh. Ở một số quốc gia, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị
cấm, ở một số quốc gia khác người ta không muốn lập chi nhánh vì có rủi ro sung
công. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài thường được mở tại các trung tâm tài chính
và thương mại của thế giới.
Ngân hàng con ở nước ngoài: Ngân hàng con ở nước ngoài là một định chế
độc lập do ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn hoặc gần như sở hữu hoàn toàn để phù
hợp với luật pháp của nước ngoài. Ngân hàng con ở nước ngoài hạch toán độc lập, tự
chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra còn hình thức Ngân hàng con ở nước ngoài nhưng ngân hàng mẹ
không kiểm soát chúng (ngân hàng mẹ chỉ đóng góp một phần vốn tối thiểu, không
đủ giành quyền kiểm soát). Nói chung, ngân hàng con ở nước ngoài chịu sự điều
chỉnh của luật pháp nước sở tại và hầu như không chịu ảnh hưởng của luật pháp tại
nước mà ngân hàng mẹ đặt trụ sở chính.
Trong thời gian gân đây, các ngân hàng kinh doanh quốc tế có xu hướng mua
các ngân hàng con thay vì lập chi nhánh ở nước ngoài. Việc sở hữu một ngân hàng
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 8
tháng 12 năm 1981, các IBF được cục dự trữ liên bang Mỹ uỷ quyền cấp phép cho
các ngân hàng và các tổ chức tiền gửi khác thực hiện hoạt động ngân hàng quốc tế
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 9
trong nước Mỹ trên cơ sở giống như các chi nhánh và các ngân hàng trực thuộc nước
ngoài của các ngân hàng Mỹ. Khi cấp phép cho các IBF, ý đồ chính của Fed là nhằm
thu họat động này trở lại Mỹ. IBF tạo ra cho các ngân hàng môi trường tương đối tự
do giống như môi trường các chi nhánh và ngân hàng trực thuộc của họ đã gặp ở nước
ngoài. Không có các quy định dự trữ hay các hạn chế lãi suất nào đối với tiền gửi của
người nước ngoài, không phải bảo hiểm cho các khoản tiền gửi và tránh được những
đánh giá liên quan đến bảo hiểm. Phần lớn các tài sản của IBF bao gồm các khoản cho
vay đối với các doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng trung ương nước ngoài với
mục đích sử dụng ngoài nước Mỹ. Nguồn vốn của họ là từ các khoản vay liên ngân
hàng của các tổ chức quốc tế , các chính phủ và các cơ quan nước ngoài.
Hiện nay, đã có hơn 30 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên
doanh hoạt động tại Việt Nam. Hiện nay các chi nhánh NH nước ngoài vẫn còn phải
chịu 2 hạn chế trong huy động tiền VND từ các tổ chức, cá nhân không có quan hệ tín
dụng.
2. Sự phát triển của các trung tâm tài chính quốc tế :
Hoạt động ngân hàng quốc tế đã tăng trưởng ngoạn mục từ những năm 1950.
Hoạt động ngân hàng quốc tế đã được thực hiện bởi các tổ chức tài chính trung gian ít
nhất 4000 năm. Tuy nhiên, do nhiều tác nhân kích thích gần đây, đặc biệt là sự giãn ra
trong việc điều kiển khác nhau của các dòng vốn, tăng trưởng trong các công ty đa
quốc gia cũng như tìm kiếm của các ngân hàng cho các cơ hội lợi nhuận mới sau sự
sụp đổ của chế độ tỷ giá hối đoái cố định Bretton Woods.
Trong chừng mực sự khác biệt trong quy định hoạt động ngân hàng quốc tế xác
định các hoạt động ở nước ngoài của các ngân hàng, sự tăng trưởng trong trung tâm
ngân hàng sẽ rõ rệt hơn ở một số quốc gia hơn so với các nước khác.
Bảng 2.1 cho thấy tổng số nợ phải trả bên ngoài của các ngân hàng đối với một
Market Capitalisation (Billion US$)
2012 2011 2010 2009 2008 2003
1
Industrial & Commercial
Bank of China (ICBC)
241.7
224.2
234.1 269.4 174.2
249.8
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 11
Rank
2012
Bank
Market Capitalisation (Billion US$)
2012 2011 2010 2009 2008 2003
2 China Construction Bank
196.6
167.9
223.0 201.8 128.6
171.3
3 Wells Fargo & Co
161.4
150.9
181.0 199.7 118.0
119.6
4 HSBC Holdings
151.6
57.4
10 Commonwealth
83.3
75.6
98.3
94.6
45.4
57.3
11 Royal Bank Canada
77.3
71.3
89.3
90.4
44.4
55.9
12 Bank of America
72.5
71.2
81.3
76.8
43.9
55.7
13 Toronto-Dominion Bank
71.2
66.0
77.3
76.1
41.2
51.3
14 Banco Santander
69.1 62.3 34.4
43.9
19 ANZ Banking
59.2
57.9
67.9
59.1
33.0
43.8
20 Bank of Nova Scotia
58.9
54.7
66.5
58.8
32.7
43.1
21 Standard Chartered
58.4
53.6
64.1
57.1
32.1
38.2
22
National Australia Bank
56.7
53.0
63.8
56.8
33.60
28 China Merchants Bank
45.90
41.0
0
52.30 52.50 28.30
33.50
29 Sumitomo Mitsui Financial
44.30
40.50
52.20 52.40 27.50
31.10
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 12
Rank
2012
Bank
Market Capitalisation (Billion US$)
2012 2011 2010 2009 2008 2003
30 BBVA
43.70
39.80
51.10 51.90 27.50
30.00
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 13
của bãi bỏ quy định ngân hàng quốc tế:
Giai đoạn đầu tiên đã được chỉ đạo bãi bỏ các kiểm soát định lượng như Quy
chế Q ở Mỹ (1982) và hạn chế tín dụng ở Anh.
Các giai đoạn thứ hai của bãi bỏ quy định ảnh hưởng đến chuyên môn của các
ngân hàng trong lối kinh doanh ngân hàng truyền thống ở nhiều nước ngày
nay. Tại Mỹ, lặp đi lặp lại thay đổi lập pháp từ những năm 1980 lên đến cực
điểm trong Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 dần dần cho phép các
ngân hàng thương mại tham gia vào các lĩnh vực hoạt động ngân hàng đầu tư.
Giai đoạn thứ ba liên quan đến sự cạnh tranh từ người mới tham gia trước đây
không cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Chúng bao gồm các tập đoàn bán lẻ
lớn ở Anh (Tesco Finance, Virgin …) và ở Mỹ (Sears, General Motors).
Đổi mới tài chính
Việc ứng dụng dần dần công nghệ vào ngân hàng (đầu tiên là hệ thống viễn
thông được cải thiện tiếp theo là ứng dụng rộng rãi công nghệ máy tính) cùng với việc
bãi bỏ quy định và nhu cầu của khách hàng đã tăng lên đối với những gì được xem là
ba giai đoạn riêng biệt trong sự đổi mới tài chính. Từng giai đoạn trong cả ba giai
đoạn này đều có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng quốc tế:
Trong thời gian kiểm soát tín dụng, đã hạn chế hiệu quả số lượng các khoản
vay (tài sản) mà các ngân hàng có thể tạo ra ở nhiều quốc gia, các ngân hàng
dần dần chuyển từ quản lý tài sản sang quản lý nợ. Ngân hàng quốc tế tăng
cường sử dụng thị trường đồng đô la để tạo ra nợ phải trả (ví dụ, bằng cách vay
mượn từ các chi nhánh của họ ở nước ngoài). Trong khi mục đích ban đầu
đằng sau việc này là để phá vỡ những hạn chế tín dụng như Quy chế Q, việc
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 15
chuyển sang quản lý nợ đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với hành vi của ngân
hàng.
Lãi suất cho vay biến đổi - khái niệm cơ bản rằng việc cho vay diễn ra ở một
mức giá (lãi suất) phản ánh rủi ro của khách hàng vay không thực sự xuất hiện
3. Vai trò của Ngân hàng Quốc tế hiện nay
Cùng với sự phát triển của Thương mại hóa toàn cầu và các công ty đa quốc
gia, sự bãi bỏ các hạn chế tự do lưu chuyển vốn và tỷ giá hối đoái thả nổi tự do góp
phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động của các ngân hàng quốc tế với vai trò quan
trọng trong nền kinh tế toàn cầu.
- Tập trung vốn nền kinh tế thế giới:
Thực hiện được điều này, Ngân hàng quốc tế thực hiện huy động và tập trung vốn đa
dạng tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế thế giới, với số vốn này Ngân hàng đáp ứng
được nhu cầu vốn cho kinh tế toàn cầu để sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy kinh
tế toàn cầu phát triển.
- Vai trò làm trung gian thanh toán, quản lý các phương tiện thanh toán và góp
phần làm tăng những phương tiện sẵn có đáp ứng nhu cầu của khách hàng với
tính cạnh tranh cao.
Với mạng lưới rộng khắp trên toàn cầu và hệ thống công nghệ thông tin hiện đại tạo
điều kiện cho việc thanh toán nhanh chóng, chính xác, thúc đẩy tài trợ thương mại và
thanh toán quốc tế.
- Vai trò tạo ra tiền ngân hàng
Cùng với hệ thống ngân hàng, quá trình tạo ra tiền của Ngân hàng quốc tế được thực
hiện thông qua tín dụng và thanh toán.
- Thúc đẩy chu chuyển vốn quốc tế thông qua việc cung cấp các loại dịch vụ
khác nhau phục vụ cho nhu cầu của các công ty quốc tế lớn:
+ Chuyển tiền và quản lý tiền mặt. Doanh nghiệp quốc tế phát sinh dòng tiền nội tệ
và ngoại tệ khác nhau và họ sẽ tìm kiếm một tổ chức tài chính để giúp họ quản lý các
nhu cầu tiền tệ của mình.
+ Cung cấp tiện ích tín dụng. Ngân hàng quốc tế cung cấp các khoản vay cho các
khách hàng của họ với những loại tiền tệ khác nhau với những điều kiện khác nhau
(cố định hoặc thả nổi lãi suất, bảo đảm hoặc không có bảo đảm) và các kỳ hạn khác
nhau.
+ Cho vay hợp vốn. Cho vay hợp vốn, hai hoặc nhiều ngân hàng cùng cho vay đối
với một doanh nghiệp. Nợ gốc thường vượt quá 50 triệu USD. Khoản tiền vay lớn
1. Dịch vụ ngân hàng đại lý:
Quan hệ đại lý có vai trò rất quan trọng đối với nghiệp vụ ngân hàng ngày nay.
Để thực hiện nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, đặc biệt là thanh toán quốc tế, mỗi ngân
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 18
hàng cần thiết lập quan hệ đại lý với các định chế tài chính, ngân hàng ở các quốc gia
khác nhau, nhất là tại các quốc gia đã có Hiệp định thương mại song phương.
Hiện nay, các ngân hàng thương mại lớn và có uy tín tại nước ta như Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV), Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
(Vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), … có
hệ thống ngân hàng đại lý rộng lớn. Các ngân hàng này luôn đặt quan hệ đại lý với
các ngân hàng hàng đầu tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Cụ thể là:
Vietinbank có quan hệ đại lý với trên 900 ngân hàng, định chế tài
chính tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
Hiện nay Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có quan hệ ngân
hàng đại lý với hơn 1.600 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng tại 125 quốc gia và vùng
lãnh thổ trên thế giới, trong đó Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn đặt
quan hệ đại lý với với các ngân hàng hàng đầu tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ đó.
Trên thế giới, hiện tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương
Việt Nam có quan hệ ngân hàng đại lý với khoảng 1.700 ngân hàng và chi nhánh ngân
hàng tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại thương Việt Nam luôn đặt quan hệ đại lý chính với các ngân hàng hàng đầu tại
từng quốc gia và vùng lãnh thổ đó.
Agribank luôn chú trọng mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý trong khu vực và
quốc tế. Hiện nay, Agribank có quan hệ ngân hàng đại lý với 1.043 ngân hàng tại 92
quốc gia và vùng lãnh thổ
Cho đến nay mạng lưới các Ngân Hàng đại lý của Ngân Hàng Quân Đội đã mở
rộng tới hơn 300 Ngân Hàng trên 56 quốc gia, đảm bảo thanh toán và giao dịch với tất
những bước tiến mạnh. Thanh toán qua máy cà thẻ (POS) bằng thẻ quốc tế chiếm đến
85%, trong khi sử dụng thẻ nội địa chiếm 15% trong các giao dịch bán lẻ hàng hóa,
dịch vụ không dùng tiền mặt trên địa bàn. Sự ưa thích sử dụng thẻ tín dụng quốc tế
của người dân Thành phố có phần do loại thẻ này có lợi thế chi tiêu trước, trả tiền sau,
đặc biệt hình thức miễn lãi suất 45 ngày rất kích thích giới trẻ, nhân viên văn phòng
sử dụng…
Chúng tôi nhận thấy, năm 2013 hoạt động thanh toán bán lẻ trên địa bàn vẫn
giữ được xu hướng tăng trưởng ổn định. Tổng số thẻ đang hoạt động tính đến cuối
năm 2013 ước khoảng trên 8 triệu thẻ (sau khi đã loại trừ thẻ 6 tháng không có giao
dịch), tăng trên 15% so với cùng kỳ năm trước. Do lượng thẻ quốc tế tăng vượt bậc so
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 20
với thẻ nội địa nên doanh số thanh toán qua máy POS năm 2013 có mức tăng trưởng
trên 32% so với năm 2012.
3. Dịch vụ thanh toán quốc tế:
Với việc đầu tư công nghệ cũng như thực hiện tốt các quy trình nghiệp vụ,
nhiều ngân hàng trong nước đã được các tổ chức tín dụng lớn của quốc tế công nhận
đạt chuẩn thanh toán quốc tế.Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội (SHB) lần thứ hai
liên tiếp được giải thưởng “Ngân hàng có chất lượng thanh toán quốc tế xuất sắc năm
2011” (STP) do Ngân hàng The Bank of New York Mellon (BNY Mellon) trao tặng.
Giải thưởng này nhằm tôn vinh những ngân hàng có chất lượng thực hiện các giao
dịch thanh toán quốc tế dựa trên tỷ lệ điện chuẩn cao (tối thiểu 95%). Tất cả điện giao
dịch của SHB đều được xử lý tự động tại Ngân hàng BNY Mellon theo đúng quy
trình, an toàn và thông suốt, đảm bảo hạn chế tối đa mọi rủi ro hoặc chậm trễ có thể
xảy ra đối với các giao dịch thanh toán quốc tế.
Trước đó, Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cũng được BNY
Mellontrao tặng giải thưởng STP, công nhận trình độ tác nghiệp chuẩn xác của những
người làm công tác vận hành nói chung và thanh toán viên thanh toán quốc tế nói
riêng. Đây là lần thứ 6 liên tiếp VPBank nhận được giải thưởng STP do BNY Mellon
khác. Trong các giải pháp trên , bốn giải pháp đầu tiên được xem như là công cụ tài
chính phái sinh trên thị trường ngoại hối để phòng ngừa rủi ro. Việc quyết định lựa
chọn giải pháp nào trong những giải pháp nêu trên nhiều khi không đơn giản, nó
không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào lợi ích và chi phí mà còn phụ thuộc vào khả năng
thương lượng và khả năng cung cấp các giải pháp đó trên thị trường.
Dịch vụ quản lý vốn trên tài khoản của khách hàng đã được Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam triển khai đối với Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt
Nam về khoản vốn gần 750 triệu USD trái phiếu quốc tế phát hành cuối năm 2005.
Hiện tại, ở Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại được chấp nhận làm đại lý phát hành
và thanh toán thẻ tín dụng quốc tế của các tổ chức thẻ: VISA, Master Card, Amex,
Đặc biệt là dịch vụ chuyển tiền kiều hối đang được phát triển mạnh tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam, nhiều ngân hàng thương mại phối hợp với các tổ chức quốc tế
như Western Union, song dẫn đầu vẫn là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á. Riêng Đông Á thành lập riêng một công ty
kiều hối, đạt doanh số chi trả gần 700 triệu USD trong năm 2006, chiếm 14% thị phần
chi trả kiều hối trong cả nước.
Tổng quan về Ngân hàng quốc tế
Nhóm 1 – NH Đêm 1 K22 Page 22
Ngoài ra còn có các dịch vụ ngân hàng điện tử được cung cấp như sau:
Với dịch vụ Internet banking, hiện tại ở Việt Nam hầu hết các ngân
hàng đều có trang web riêng để khách hàng truy vấn thong tin, một số ngân hàng như
Vietcombank, vietinbank, ACB, Techcombank, sacombank….đã cung cấp các dịch
vụ xem số dư, theo dõi giao dịch tài khoản…qua internet, còn dịch vụ thanh toán qua
internet thì chưa ngân hàng nào cung cấp.
Telephone banking – dịch vụ ngân hàng qua điện thoại hiện đã có một
số ngân hàng cung cấp như: vietcombank HCM, ACB, Sacombank, Techcombank,
Eximbank…
Mobile banking – giao dịch ngân hàng qua điện thoại di động, hiện nay
dịch vụ này đang được một số ngân hàng cung cấp như: ACB, techcombank,