BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM Bộ môn:
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Đề tài:
CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRONG THỰC TIỄN
DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ. GVHD : TS NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
Lớp : Ngân Hàng đêm 2-3
Khóa : 19
1.1.1.2.1 Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức
Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức là một tỷ số phản ánh công ty trả cổ tức bao nhiêu phần cho cổ
đông từ lợi nhuận sau thuế.
Trong đó:
- DPR: là tỷ lệ chi trả cổ tức trên lợi nhuận
- Div: là mức cổ tức chi trả trên mỗi cổ phiếu
- Ear : là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu
EPS
Cổ tức =
Tỷ lệ chi trả cổ tức
DPR = Div
x
Ear
Ví dụ: theo Bảng lưu chuyển tiền tệ của cổ phần cao su Đà Nẵng (DRC) năm 2009 cho
thấy rằng công ty dành 23.07 tỷ VND để trả cổ tức. Bảng Kết quả kinh doanh cùng năm cho thấy
thu nhập ròng của công ty là 390.02 tỷ VND.
DPR
(DRC)
= 23.070.000 / 390.020.000 = 6.9%.
Như vậy, các nhà đầu tư có thể thấy rằng DRC chỉ dành 6.9% lợi nhuận để trả cổ tức cho
các cổ đông. Phần lợi nhuận không trả cho nhà đầu tư sẽ được dành cho việc đầu tư nhằm cung
= 3.000 / 83.000 = 3.61%
DY
(CAP)
= 1.620 / 17.500 = 9.26% DY = Div
x
P
Market Thực tế ta thấy VNM trả cổ tức cao hơn trên mỗi cổ phiếu nhưng nếu nhà đầu tư đầu tư
100.000.000 VND vào VNM chỉ được lợi nhuận từ đầu tư vốn là 3.614.458 VND trong khi đó
nếu đầu tư vào CAP thì nhà đầu tư có thể được 9.257.143 VND từ khoản đầu tư 100.000.000
VND này. Một nhà đầu tư quan tâm thu nhập từ cổ tức mà không quan tâm thu nhập từ lãi vốn
sẽ chọn cổ phiếu thứ 2.
Hình 1.1.1.2 Tỷ suất cổ tức các cổ phiếu Mỹ từ 1960-2003
Nguồn: Estimated using S&P 500 data from 1960 to 2003; Source is Bloomberg.
1.1.1.3 Quá trình chi trả cổ tức
Các công ty ở Mỹ thường trả cổ tức hàng quý. Còn ở Việt Nam thì các công ty thường trả
cổ tức 2 lần/năm. Cổ tức thường được đề xuất bởi Hội đồng quản lý và sau đó được thông qua
bởi Đại hội đồng cổ đông. Có vài cột mốc thời gian chính sau: Ngày công bố cổ tức: là ngày công ty công bố mức chi trả cổ tức. Đây là ngày quan trọng
Sơ đồ: Quy trình trả cổ tức 1.1.1.4 Các phương thức chi trả cổ tức 1.1.1.4.1 Chi trả cổ tức bằng tiền mặt Cổ tức tiền mặt là số đơn vị tiền tệ mà công ty thanh toán cho chủ sở hữu tính trên một cổ
phần. Hầu hết cổ tức được trả dưới dạng tiền mặt.
Giá tham chiếu ngày giao dịch không hưởng quyền
= giá đóng cửa ngày giao dịch hưởng quyền cuối cùng – cổ tức
Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm lượng tiền mặt tại doanh nghiệp, điều này làm cho tài sản
cũng bị giảm theo và lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán cũng giảm, tức
giảm nguồn vốn chủ sở hữu.
Khi doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính thì chi trả cổ tức bằng tiền mặt rất nguy
hiểm. Doanh nghiệp có thể chọn hình thức chi trả khác như là chi trả bằng cổ phiếu. 1.1.1.4.2 Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu là việc công ty chi trả thêm cổ phiếu cho các cổ đông nắm
đến công ty đề nghị bán lại cổ phần với giá tối thiểu mà họ chấp nhận được và nằm trong
biên độ giá. Công ty sẽ tập hợp lại và sắp xếp theo thứ tự xem giá nào là tốt nhất.
Phân phối quyền bán lại khả năng chuyển nhượng: Cổ đông có quyền bán lại cho
công ty ở một mức giá thực hiện xác định trong khoản thời gian nhất định. Những cổ
đông không muốn thực hiện quyền bán lại có thể giao dịch các quyền chọn bán trên thị
trường thứ cấp, theo đó các cổ đông có giá đăng ký bán lại giá cao có thể bán quyền cho
các cổ đông có giá đăng ký thấp để thu một khoản tiền.
Mua lại cổ phần mục tiêu: Mua lại cổ phần chỉ nhằm vào một mảng cổ đông nào
đó. Đối tượng việc mua lại cổ phần là những cổ đông nhỏ nhằm làm giảm chi phí cho
những tài khoản nhỏ.
1.1.1.4.5 Chi trả cổ tức bằng cách chia nhỏ cổ phần
Doanh nghiệp muốn chia nhỏ cổ phần nhằm làm cho người nắm giữ cổ phần thấy giá trị của
nó tăng lên và thu hút thêm các nhà đầu tư nhỏ và trung bình.
Đồng thời việc chia nhỏ cổ phần ra để thị trường có thể tiêu hoá nó một cách nhanh
chóng, thường chia nhỏ để khi mà giá cổ phiếu cao làm tăng tính thanh khoản của nó.
Chia nhỏ cổ phần còn nhằm làm tăng tính ổn định về mặt giá cả cho cổ phiếu.
Ví dụ: Công ty ABC có tổng giá trị cổ phần 200$
+ Trường hợp 1: Công ty phát hành 2 cổ phần Mỗi cổ phần giá 100$
+ Trường hợp 2: Công ty phát hành 200 cổ phần Mỗi cổ phần giá 1$
Các nhà đầu tư nắm giữ 1 cổ phần cho 2 trường hợp
+ Trường hợp 1: Nhà đầu tư đang cần tiền nên bán gấp 1 cổ phần với giá 50$ ( nhỏ hơn
100$). Điều này làm cho giá cổ phần còn lại cũng bị giảm, cơ hội để giá cổ phần công ty này
Các giả thuyết của MM - Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo
- Không có thuế: theo giả thuyết này, các nhà đầu tư không bận tâm về việc họ sẽ nhận
được thu nhập cổ tức hay thu nhập lãi vốn. Doanh nghiệp cũng sẽ không nhận được khoản sinh
lợi từ tấm chắn thuế, và cũng không quan tâm đến việc chi trả cổ tức nhiều hay ít
- Không có chi phí phát hành: MM giả định rằng chi phí phát hành cổ phần mới và chi
phí giữ lại lợi nhuận là như nhau.
- Không có chi phí giao dịch: giả định này ngụ ý rằng các nhà đầu tư vào chứng khoán
của các doanh nghiệp chi trả ít hoặc không chi trả cổ tức có thể bán lại (không có phí tổn) bất cứ
số cổ phần nào mà họ muốn bán để chuyển đổi lãi vốn thành thu nhập thường xuyên.
- Chính sách đầu tư và tài trợ là cố định. Công ty đã thiết lập kế hoạch đầu tư và cũng
đã xác định được kế hoạch này cần tài trợ bao nhiêu từ vốn vay, bao nhiêu từ lợi nhuận giữ lại.
Số tiền thặng dư còn lại được dùng để chi trả cổ tức.
MM cho rằng các thay đổi quan sát được trong giá trị doanh nghiệp là kết quả của các
quyết định cổ tức mà thật ra là do chính sách cổ tức mang nội dung hàm chứa thông tin và phát
tín hiệu cho nhà đầu tư. M ột gia tăng trong cổ tức sẽ chuyển tải thông tin đến các cổ đông là ban
điều hành doanh nghiệp dự kiến thu nhập tương lai sẽ cao hơn. Tương tự, một cắt giảm cổ tức
xem như truyền đạt thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Hai ông còn dựa vào lập luận hiệu ứng khách hàng đó là các nhà đầu tư ưa thích chính
sách cổ tức của một doanh nghiệp nào đó sẽ không có tác động trên giá trị cổ phần. Khi doanh
nghiệp thay đổi chính sách cổ tức có thể mất đi một số cổ đông bởi lẽ họ sẽ bán cổ phiếu đang sở
hữu và chuyển sang mua cổ phiếu của các doanh nghiệp khác có chính sách cổ tức hấp dẫn hơn.
giới và chênh lệch lô lẻ (số chứng khoán bán ra ít, không đủ để tạo thành đơn vị mua bán trên thị
trường nên khó bán và giá thấp) làm cho việc bán cổ phần bị tốn kém và không thể thay thế một
cách hoàn hảo cho các chi trả cổ tức thường xuyên.
− Thuế: việc bỏ giả định không có thuế cũng sẽ có tác động đến cổ đông, vì lãi vốn
không chịu thuế cho đến khi bán cổ phần. Nghiên cứu về chính sách cổ tức từ 1920 đến 1960,
John A. Britain đã đi đến kết luận rằng thuế suất tăng làm giảm tỷ lệ chi trả cổ tức.
− Các chi phí phát hành: Sự hiện diện của chi phí phát hành khi bán cổ phần mới cũng
có khuynh hướng làm cho các doanh nghiệp ưa thích giữ lại lợi nhuận hơn. Chi phí của việc bán
các phát hành nhỏ cổ phần thường nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư thường quá cao cho hầu hết các
doanh nghiệp. Vì vậy, các công ty khi có đủ các cơ hội đầu tư để có thể sử dụng vốn giữ lại của
mình một cách có lợi thường thích giữ lại lợi nhuận hơn.
− Các chi phí đại diện: khi công ty chi trả cổ tức làm giảm số lượng lợi nhuận giữ lại có
sẵn để tái đầu tư và đòi hỏi phải sử dụng nhiều vốn cổ phần từ bên ngoài hơn để tài trợ tăng
trưởng. Việc huy động vốn cổ phần từ bên ngoài (như bán cổ phần thường) trong các thị trường
vốn làm cho công ty phải chịu sự giám sát kỹ lưỡng của các cơ quan điều phối (Ủy ban chứng
khoán và thị trường chẳng hạn) và các nhà đầu tư tương lai, việc này được coi như một chức
năng giám sát thành quả của ban điều hành. Do đó có thể nói rằng chi trả cổ tức sẽ làm giảmchi
phí đại diện giữa các cổ đông (chủ sở hữu) và ban điều hành.
Do bất hoàn hảo của thị trường và sự ảnh hưởng của các yếu tố trên nên nhiều nhà thực
hành tin rằng chính sách cổ tức rất quan trọng. Như vậy, khi xác lập một chính sách cổ tức tối ưu
góp phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, Hội đồng quản trị nên xem xét ưu tiên của các cổ
đông cùng với các cơ hội đầu tư và chi phí liên quan của lợi nhuận giữ lại so với vốn cổ phần
huy động từ bên ngoài. 1.1.3 Chính sách cổ tức công ty cổ phần niêm yết trong thực tiễn
thu nhập cho chủ sở hữu doanh nghiệp
Là nguồn tài trợ nội bộ sẵn có giúp doanh nghiệp chủ động kịp thời trong quyết
định tái đầu tư của mình thay vì đi vay và phát hành cổ phiếu mới tốn thời gian và chi phí
Một nhóm các cổ đông mong muốn lợi ích cao nhất từ việc sử dụng tiền của
mình, họ thích những khoản lãi vốn cao hơn là việc công ty chia cổ tức hiện tại để từ bỏ những
cơ hội đầu tư có khả năng sinh lợi cao. Một nhà đầu tư khôn ngoan sẽ thích doanh nghiệp đầu tư
thay mình cho dù nhà đầu tư có thể tìm được khoản đầu tư hơn hẳn vì nhà đầu tư cá nhân khi đầu
tư bao giờ cũng chịu rủi ro hơn.
Nhược điểm
Nếu công ty áp dụng một cách cứng nhắc lợi nhuận giữ lại thụ động sẽ dẫn đến
bất ổn cao đến mức cổ tức chi trả ảnh hưởng đến giá cổ phần cũng như hình ảnh công ty trong
mắt cổ đông
Có thể làm phát sinh chi phí đại diện
1.1.3.2 Chính sách chi trả cổ tức tiền mặt ổn định
Mục tiêu:
Doanh nghiệp thực hiện chính sách này nhằm duy trì cổ tức ở một mức độ nhất định. Cần
lưu ý rằng sự ổn định trong cổ tức không có nghĩa là cố định mà cổ tức phải được trả không
gián đoạn, mức độ thay đổi của cổ tức không có sự đột biến như sự tăng giảm của lợi nhuận.
Ưu và nhược điểm
Ưu điểm
khi lợi nhuận cao và không có nhu cầu sử dụng ngay nguồn tiền dôi ra này, các doanh nghiệp sẽ
công bố một mức cổ tức thưởng cuối năm. Chính sách này giúp ban điều hành có thể linh hoạt
giữ lại lợi nhuận khi cần mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của các nhà đầu tư là muốn nhận được
một mức cổ tức “bảo đảm”.
Như vậy, nhiều chính sách cổ tức để doanh nghiệp lựa chọn. Mặc dù được xếp ưu tiên
thấp hơn chính sách tài trợ và chính sách đầu tư, nhưng việc chọn chính sách cổ tức cũng đòi hỏi
được xem xét cẩn thận bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cổ đông và tới sự phát triển
của công ty. Sau khi đã thống nhất chọn được chính sách chi trả cổ tức, việc tiếp theo mà Đại hội
đồng cổ đông cũng như các nhà quản lý doanh nghiệp phải cân nhắc đó là: lựa chọn phương thức
chi trả cổ tức.
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng chính sách cổ tức
1.1.4.1 Yếu tố pháp lý
Hầu hết các quốc gia đều có luật điều tiết chi trả cổ tức của doanh nghiệp đăng kí hoạt
động ở quốc gia đó. Về cơ bản thì luật này quy định như sau:
Không dùng vốn của doanh nghiệp để chi trả cổ tức
Quy định này được gọi là hạn chế suy yếu vốn. Ở một số quốc gia vốn được định nghĩa là
chỉ bao gồm mệnh giá của cổ phần thường. Nhưng ở một số nơi khác vốn được định nghĩa bao
quát hơn bao gồm cả vốn được góp quá tài khoản mệnh giá ( thặng dư vốn).
Cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiện nay và trong thời gian hoạt động
trước đó
Quy định này được gọi là quy định hạn chế lợi nhuận ròng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải
kinh doanh và phát sinh lợi nhuận thì mới có thể chia cổ tức. Điều này ngăn cấm các chủ sở hữu
rút đầu tư ban đầu của họ và làm suy yếu vị thế an toàn các chủ nợ của doanh nghiệp.
1.1.4.3 Ảnh hưởng của thuế thu nhập cá nhân
Để thấy rõ ảnh hưởng của thuế đến chính sách cổ tức ta hãy xem xét trường hợp điển
hình luật thuế của Mỹ. Trước năm 1986 thuế suất thu nhập biên tế cá nhân đánh trên thu nhập
mức cổ tức là 50% cao hơn thuế suất biên tế đánh vào thu nhập từ lãi vồn đến 20%. Đây là biện
pháp làm cho các doanh nghiệp giữ mức cổ tức thấp để các cổ đông có thể nhận được một mức
tỷ suất sinh lợi lớn hơn sau thuế dưới hình thức lãi vốn. Tuy nhiên đạo luật này được điều chỉnh
vào năm 1986 và mức thuế suất biên đánh vào thu nhập từ cổ tức và lãi vốn gần như bằng nhau.
Hình 1.1.4a: Thuế suất đanh trên thu nhập thông thường và thu nhập lãi vốn
Nguồn: Aswath Damodaran (2005), Applied Corporate Finance – A User’s
Manual, Second Edition, pp.445-481 [10]
Luật thuế năm 2003 của Mỹ giảm thuế đánh trên cổ tức cho bằng với thuế thu nhập lãi
vốn đã làm cho cổ tức hấp dẫn hơn, ít nhất là đối với các nhà đầu tư cá nhân. Chúng ta sẽ kiểm
chứng công ty có trả cổ tức tăng tương ứng không. Thật quá sớm để nói về giả thuyết này, nhưng
đã có những bằng chứng là các công ty đã thay đổi chính sách về cổ tức để phản ứng lại những
thay đổi chính sách về thuế thu nhập cổ tức. Các công ty về khoa học công nghệ như M icrosoft
chưa bao giờ trả cổ tức trước đây cũng đã bắt đầu trả cổ tức.
Khi so sánh tỷ lệ các công ty trả cổ tức qua các năm và tỷ lệ cổ tức so với mức vốn hóa của thị
trường từ 1980 đến 2003 như sau:
Hình 1.1.4b : Tỷ lệ trả cổ tức các công ty của Mỹ (1980-2003)
Nguồn: Aswath Damodaran (2005), Applied Corporate Finance – A User’s Manual,
đầu tư của mình. Thay vì đi vay các Ngân hàng hay bán cổ phần mới ra công chúng (tốn chi phí
phát hành tới 10%) thì họ có thể chi trả cổ tức thấp để giữ lại một phần lớn lợi nhuận.
Bảng minh họa về mối liên hệ giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ lệ tăng trưởng
Bảng 1-1. Mối liên hệ giữa tỷ lệ tăng
trưởng lợi nhuận và tỷ lệ chi trả cổ tức
Công ty
Tỷ lệ chi trả cổ tức
2002 (%)
Tỷ lệ tăng trưởng
EPS 10 năm (%)
Idaho Power 97,4 3,0
Boston Edison 96,3 3,0
Kansas Power and Light 80,0 4,5
Sears 76,1 4,5
Exxon 62,4 4,5
doanh nghiệp giữ lại mức lợi nhuận cao hàm ý rằng doanh nghiệp phải có một cơ hội đầu tư để
thanh minh với cơ quan thuế việc giữ lại mức lợi nhuận cao này. Vì nếu không có cơ hội đầu tư
mà cơ quan thuế chứng minh được rằng việc giữ lại lợi nhuận cao chỉ để tránh thuế cho các cổ
đông thì doanh nghiệp này sẽ bị phạt nặng.
Đối với các doanh nghiệp lớn có cổ phần được sở hửu rộng rãi thì thường các giám đốc
tài chính khó có thể tính đến các ưu tiên của cổ đông. Một số cổ đông giàu có thì thích chính
sách lợi nhuận giữ lại để hưởng lãi vốn. Một số cổ đông có mức thuế suất biên tế thấp hơn hay
coi cổ tức là mức thu nhập thường xuyên thì lại thích chính sách chi trả cổ tức cao hơn. Vì vậy
đối với các doanh nghiệp này khi quyết định chính sách cổ tức thì thường ban điều hành chỉ xem
xét các yếu tố cơ hội đầu tư, nhu cầu dòng tiền, khả năng tiếp cận thì trường tài chính, và các yếu
tố liên quan khác để ấn định mức cổ tức. Cổ đông nào thấy chính sách cổ tức này không phù hợp
có thể bán cổ phiếu của mình và mua cổ phiếu của công ty khác hấp dẫn và phù hợp với họ hơn.
Một số người cho rằng doanh nghiệp thường phát triển các nhà đầu tư khách hàng của
riêng họ. Hiệu ứng khách hàng này do Merton Miller và Franco Modiliani khởi xướng và nghiên
cứu của họ cho rằng các nhà đầu tư bị hấp dẫn bởi các công ty có chính sách cổ tức phù hợp với
mục tiêu của mình. Một số công ty như các công ty công ích chẳng hạn thường trả một tỷ lệ lợi
nhuận của mình cho cổ tức cáo thường là trên 70% và những công ty này thường hấp dẫn các
nhà đầu tư thích tỷ suất sinh lợi cổ tức cao. Ngược lại các công mà định hướng của họ là mục
tiêu tăng trưởng thì thường không chi trả cổ tức hoặc chi trả rất thấp thường hấp dẫn các nhà đầu
tư thích giữ lại thu nhập và hưởng tăng giá cổ phiếu. Các cuộc nghiên cứu thực nghiệm thường
cho thấy có một hiệu ứng khách hàng về cổ tức như thế.
1.1.4.9 Bảo vệ chống lại loãng giá ( bảo vệ quyền kiểm soát, giữ lại lợi nhụân nhiều, chia cổ
tức ít)
Nếu một doanh nghiệp chấp nhận chính sách sử dụng phần lớn lợi nhuận của mình để chi
trả cổ tức, thì khi có các dự án tiềm năng sinh lời doanh nghiệp có thể cần phải bán cổ phần mới
nhằm huy động thêm vốn đầu tư cho dự án. Nếu các nhà đầu tư hiện hữu của doanh nghiệp
không mua hay không thể mua một tỷ lệ cân xứng cổ phần mới phát hành, quyền lợi chủ sở hữu
Hiện nay trên thế giới có hai phương pháp đánh thuế: (1) Có nước tính thuế vào từng
khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, (2) có nước tính thuế trên tổng thu nhập của cả hộ gia
đình:
Cách thứ nhất được áp dụng phổ biến ở Anh, Nhật, Thụy Ðiển, các nước Châu Phi, Liên
Xô, Hunggari, Tiệp khắc, Việt Nam Ưu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo
thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước. Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối
lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu qủa và đáp ứng được sự công bằng xã hội và nhất
là đối với những cá nhân có nhiều khẩu ăn theo.
Cách thứ hai được áp dụng ở Pháp, Hà Lan Các chuyên gia cho rằng cách này công
bằng hơn về mặt đạo đức xã hội nhưng không kịp thời vì mỗi gia đình đều có ít nhất hai người
trở lên. Ðã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập khác nhau, do đó phải mở sổ sách kế
toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải đối chiếu với nơi phát sinh thu nhập, vì có nhiều
phức tạp nên rất ít quốc gia áp dụng cách thứ hai.
Ở miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế thu nhập cá
nhân nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 và sau đó được cải cách vào năm
1972.
Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã được ủy ban Thường vụ
Quốc hội thông qua. Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế-
xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 06 lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ
ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001( có hiệu
lực thi hành từ ngày 1/7/2001) và lần thứ 6 là pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-
UBTVQH11 ban hàng năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 đến nay). Hiện nay việc thực
hiện các quy định của pháp lệnh số 14 này được hướng dẫn bởi thông tư 81/2004/TT-BTC và
thông tư số 12/2005/TT-BTC.
Để nâng cao hơn nữa tính chất quan trọng và phải có các biện pháp chế tài đủ mạnh để
thuế.
1.2.1.3 Chức năng và vai trò của luật thuế thu nhập cá nhân
Mục tiêu của việc ban hành và áp dụng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao, sau này là Luật thuế thu nhập cá nhân là:
Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước:
Sự giảm dần các loại thuế xuất nhập khẩu do yêu cầu tự do hóa thương mại nên thuế thu
nhập cá nhân ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước. Nền kinh tế
nước ta ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó
thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho ngân sách Nhà nước.
Thực tế tỷ trọng thu thuế thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu ngân sách của nhiều quốc
gia đã phản ánh tiến trình đó, tại các nước khối ASEAN: 5-10%, các nước phát triển có tỷ trọng
15-16% có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như Anh, Mỹ. Tại Việt Nam, mới tiếp cận chính sách
thu và còn phân tán ở nhiều sắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu khá lớn trong
những năm gần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
là 62 tỷ, thì đến năm 2000 thu được 1.832 tỷ và đến năm 2005 số thu đã đạt 8.300 tỷ. Tuy vậy tỷ
trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách.
Góp phần thực hiện công bằng xã hội:
Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu
nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và
gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng
thêm. Ở nhiếu nước còn có quy định miễn, giảm thuế cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội.
Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông
dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những
những bằng chứng là các công ty đã thay đổi chính sách về cổ tức để phản ứng lại những thay
đổi chính sách về thuế thu nhập cổ tức. Các công ty về khoa học công nghệ như Microsoft chưa
bao giờ trả cổ tức trước đây cũng đã bắt đầu trả cổ tức.
Khi so sánh tỷ lệ các công ty trả cổ tức qua các năm và tỷ lệ cổ tức so với mức vốn hóa
của thị trường từ 1960 đến 2003 như sau:
Hình 1.2.2b. Tỷ lệ các công ty trả cổ tức tại Mỹ Ta thấy có sự gia tăng đột ngột số lượng các công ty trả cổ tức vào năm 1986 và đặc biệt
vào năm 2003 số cổ tức chi trả sau một thời gian dài sụt giảm.
Dù ưu đãi thuế này không còn thì thu nhập lãi vốn vẫn có lợi điểm về thuế so với thu
nhập cổ tức đó là thu nhập cổ tức bị đánh thuế ngay (trong năm hiện hành), còn thu nhập lãi vốn
có thể hoãn đến các năm sau.