Tiểu luận:Chính sách tài khóa của nhà nước - Pdf 11

Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 1

Phần 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt như hiện nay, các nhà kinh doanh ra sức sản xuất, mở rộng kinh
tế nhằm sản xuất ra thật nhiều hàng hóa phục vụ nhu cầu vô hạn của con người. Tuy nhiên, việc
tạo ra thật nhiều hàng hóa đã vô tình phản lại mong muốn có nhiều lợi nhuận của các nhà doanh
nghiệp. Hàng hóa tăng nhanh hơn nhu cầu của con người dẫn đến cung vượt quá cầu và tình trạng
lạm phát xuất hiện. Lạm phát gây cho nền kinh tế nhiều bất ổn đòi hỏi Nhà nước phải vào cuộc để
điều chỉnh giảm lạm pháp gây nên việc thực hiện chính sách tài khoán có nhiều điều thiếu sót và
điều khó tránh khỏi là kinh tế giảm sút, ngân sách thâm hụt, gánh nặng nợ nần ngày càng cao.
Những bất ổn của nền kinh tế, thâm hụt hay lạm phát ở hiện nay đã tới mức nào?Có thể tháo gỡ
không? Đó là lý do nhóm chúng tôi chọn đề tài này.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Tình hình thu chi ngân sách của nước ta từ năm 2009 đến nay có gì thay đổi.
Những thay đổi đó đưa nước ta đi đến đâu trong thời gian tới.
Thâm hụt ngân sách, gánh nặng nợ nần, lạm phát hiện nay được Chính phủ điều chỉnh theo
hướng ra sao.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Bài tiểu luận nhóm mình sẽ cho các bạn cái nhìn sơ khai về các chính sách tài khóa của đất nước:
thâm hụt ngân sách, gánh nặng nợ nần, tác động của chi tiêu và thuế đến hoạt động kinh tế của đất
nước. Từ đó, đưa ra kiến nghị và đề xuất nhằm cải thiện tình hình kinh tế đang trên mức báo động
như nước ta.
4. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu hoạt động thu chi của Nhà nước trong việc trợ cấp các công trình công cộng gây nên
thâm hụt ngân sách, việc vay nợ nước ngoài vượt qua cả vay trong nước làm cho gánh nặng nợ nần
trong tương lai tăng cao.
5. Phương pháp nghiên cứu:
 Phương pháp phân tích thực chứng: lấy các số liệu chính xác để phân tích chính sách nhà nước.
 Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá, nhận xét,…

chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ các hoạt động kinh tế.
Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 3

2. Chính sách mở rộng là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G > T) thông qua chi
tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt hoặc kết hợp cả 2. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân
sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.
3. Chính sách thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi thông qua việc tăng
thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả 2.
Đôi khi chính sách tài khóa để đạt được một số mục tiêu đề ra đã gây hậu quả xấu cho việc thực thi
các mục tiêu của chính sách tiền tệ và ngược lại.Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ nếu thiếu
đi sự phối hợp nhịp nhàng trong chính sách thực thi chính sách sẽ gây ra những tác động đối kháng
lẫn nhau, phá vỡ quy luật của thị trường, ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng trưởng bền vững của
nền kinh tế. Vì vậy, trong ngắn hạn, hai chính sách phải phối hợp nhằm đạt được các mục tiêu của
từng chính sách một cách có trật tự, bao gồm cả ổn định giá.Trong dài hạn, hai chính sách phải
phối hợp để đảm bảo được lợi ích cân bằng giữa mục tiêu của từng chính sách với mục tiêu tăng
trưởng kinh tế bền vững, kiềm chế lạm phát.
1.1.2 Chính sách tài khóa trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua:
Mặc dù bối cảnh kinh tế quốc tế không mấy sáng sủa, nhưng trong năm 2010, Việt Nam vẫn đạt
được mục tiêu tăng trưởng (6,78%) và là một trong số quốc gia có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong
khu vực. Hệ thống ngân hàng - tài chính giữ được ổn định. Có được kết quả trên là nhờ vào việc
thi hành các phương pháp điều tiết chính sách vĩ mô nhanh nhạy, linh hoạt và thận trọng của Chính
phủ, trong đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa - tài chính đóng vai trò quan trọng.
Với chính sách nhạy bén là chủ động để ngân sách thâm hụt trong tình trạng đất nước suy thoái và
thăng dư để bù đắp trong thời kỳ lạm phát đã làm cho đất nước có nhiều chuyển biến tốt hơn.
1.1.3 Mục đích của chính sách tài khóa: ổn định kinh tế và can thiệp tỷ giá hối đoái.
Về ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ là cơ quan hữu trách về tiền tệ (ngân hàng trung ương
hay cục tiền tệ) sẽ thay đổi lượng cung tiền tệ. Các công cụ để đạt được mục tiêu này gồm: thay
đổi lãi suất chiết khẩu, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, và các nghiệp vụ thị trường mở.Thế nhưng,
Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com


Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 5

Năm 2006 2007 2008 2009 2010 ước tính
ICOR 5 4,75 6,95 8,23 6,18
Nợ công (5 trên GDP) 42,9 45,6 43,9 52,6 56,7
Nợ nước ngoài (tỉ USD) 19,1 23,2 29,4 36,6 41,7
Đầu tư (%, so với GDP) 40,96 40,4 43,1 42,8 44,2
Tính toán dựa trên nguồn từ Tổng cục Thống kê
ii

Thứ năm: Ở một số thời điểm Chính phủ phải tăng cường phát hành trái phiếu chính phủ
với lãi suất lên tới 11 - 12%/năm, sau một thời gian, mức lãi suất huy động trái phiếu đã giảm
xuống 9,6% năm, nhưng vẫn cao hơn so với mức rủi ro của công cụ tài chính này. Các ngân hàng
thương mại với động cơ tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, đã sử dụng vốn huy động mua
trái phiếu chính phủ tốt hơn là cho các doanh nghiệp vay và mô hình chung đã đẩy mức lãi suất lên
cao. Đây là một biểu hiện của sự chưa ăn khớp của 2 hình thức tài chính.
Thứ sáu: Điều hành chính sách tiền tệ đòi hỏi có hệ thống thông tin tài chính đầy đủ, cập
nhật và chính xác, thế nhưng trong một số trường hợp các thông tin, báo cáo về các vấn đề tài
chính công, đặc biệt chi tiêu và đầu tư công lệch pha về thời gian với yêu cầu điều hành chính sách
tiền tệ thiếu chính xác.
1.2 Tác động của chi tiêu và thuế đến các hoạt động kinh tế:
Việt Nam là nước đang có tổng số nợ nước ngoài khá lớn.Với tình hình chi tiêu thiếu chính
xác các công trình công đã ngày càng đưa kinh tế đất nước tới mức báo động.Chi tiêu nhiều
nhưng không mang đến kết quả mong đợi đã làm cho những công dân Việt Nam trong
tương lai sẽ mang trên vai một khoảng nợ khá lớn.
Các khoảng thuế thu trong nước không đủ cho việc chi ngân sách quá lớn như hiện nay.
Trong vài năm gần đây, nước ta thêm loại thuế thu nhập cá nhân nhằm đánh trực tiếp đến
thu nhập của từng người dân. Khoảng thuế này là thuế lũy tiến đánh vào những người có

hồi của hoạt động xuất khẩu trong năm, với mức tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vượt 26,4%
so với năm 2009, là năm xuất khẩu rất khó khăn và tốc độ tăng trưởng kim ngạch giảm gần 9%.
 Tỷ giá hối đoái là đoái là tỷ lệ chuyển đổi từ đơn vị tiền tệ nước này sang đơn vị tiền tệ
nước khác.
Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 7

 Tỷ giá hối đoái là quan hệ tỷ lệ so sánh giữa đồng tiền nước này với đồng tiền nước khác
trên cơ sở hàm lượng vàng hoặc sức mua của các đồng tiền đó.
 Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng bao nhiêu đơn
vị tiền tệ nước khác.
 Tỷ giá hối đoái là giá cả mua bán của một đồng tiền trong quan hệ soa sánh với các đồng
tiền khác.
 Tỷ giá hối đoái là giá cả để mua bán trao đổi ngoại tệ.
So với nợ công trong nước, nợ công nước ngoài(nợ công còn gọi là nợ chính phủ hay nợ quốc gia
là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đivay)
của Việt Nam có rủi ro lãi suất khá thấp so với gần 85% nợ nước ngoài của Chính phủ có mức lãi
suất ưu đãi dưới 3%. Tuy nhiên, các khoản nợ thương mại(các khoảng nhà nước vay nhằm thực
hiện các dự án thương mại) với lãi suất cao đang tăng lên (trên 8% tổng dư nợ nước ngoài có mức
lãi suất 6-10%). Cùng với việc trở thành nước có mức thu nhập trung bình, nền kinh tế đang bộc lộ
những rủi ro rõ nét sẽ khiến VN khó có thể tiếp tục thu hút được những khoản nợ lãi suất thấp
trong thời gian tới.
Trước tình hình nợ công và nợ nước ngoài(các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu
chính phủ (trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay
nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công) ngày càng có xu hướng tăng
nhanh, được biết, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại đang nghiên cứu xây dựng khuôn khổ
pháp lý, trong đó có các đề xuất về hoạt động quản lý rủi ro nhằm kiểm soát nợ công và nợ nước
ngoài một cách hiệu quả. Hy vọng đây sẽ là một tín hiệu tốt trong việc quản lý nợ công trong
nước(các khoản vay từ người cho vay trong nước)và nợ nước ngoài(các khoản vay từ người cho
vay ngoài nước).

chép các giao dịch về mặt giá trị, các giao dịch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giữa một
nước với phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm) của
Việt Nam ở mức 8,8 tỷ USD, năm 2010 vào khoảng 4 tỷ USD (có nguồn tin là 2,6 tỷ USD). Diễn
biến này đã bào mòn dự trữ ngoại hối.Nhiều chuyên gia kinh tế đã từng cảnh báo nợ nước ngoài
của Việt Nam có lãi suất ngày càng cao và kỳ hạn vay ngày càng ngắn. Quan điểm này một lần
nữa lại được khẳng định tại bản tin số 7, khi nghĩa vụ nợ dự kiến của Việt Nam thay đổi liên tục
Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 9

trong mấy năm gần đây mà chủ yếu là trong tương lai gần.
Cùng lúc với dư nợ nước ngoài tăng nhanh và dự trữ ngoại hối vơi đi thì theo dữ liệu từ bản tin số
7, tỷ giá cuối kỳ của VND so USD đã giảm khoảng 10,26% trong so sánh năm 2010 với 2009;
tương tự, Euro giảm 11,14%; SDR giảm khoảng 5,53%; và đồng Yên tăng 6,43%.
Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, dự địa chính sách tiền tệ để ổn định ngoại hối sẽ khó khăn khi
phải đánh đổi giữa nghĩa vụ nợ tăng lên hay bào mỏng dự trữ. Bởi cùng trách nhiệm trả nợ thì
Chính phủ còn phải cân nhắc đến khả năng tăng thuNSNN, khi mà tỷ trọng thu so với GDP đã cao
và tình hình kinh tế trong ngắn hạn chưa cho thấy triển vọng phục hồi mạnh mẽ.Theo VnEconomy
1.4 Thâm hụt ngân sách và lạm phát:
1.4.1 Thâm hụt ngân sách:
Đó là tình trạng chi ngân sách vượt quá số thu vào. Tình trạng này có thể là do chi ngân sách kém
hiệu quả hay do có một khoản chi nào đó phải chi gấp mà chưa có tiền thu vào để bù đắp hoặc do
nạn tham nhũng.Thâm hụt ngân sách là một thuật ngữ sử dụng trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế
học công cộng, khái niệm này thường được sử dụng liên quan đến các khoản chi của chính phủ
hơn là cho khu vực doanh nghiệp và tiêu dùng cá nhân.
Để bù đắp thiếu hụt ngân sách thường phát hành trái phiếu (doanh nghiệp hoặc chính phủ).Thâm
hụt ngân sách của chính phủ nếu vượt quá 5% GDP thì được coi là nguy hiểm.
Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là tình trạng các khoản chi
của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là
thâm hụt ngân sách. ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân
sách. Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay(đây được xem là các khoảng nợ). Đi vay

trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để gây lãng phí
nguồn ngân sách và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền và nền hành chính công - dịch vụ
công của chúng ta quá kém hiệu quả làm cho tình trạng thâm càng trở nên trầm trọng.
c.Nhà nước huy động vốn để kích cầu:
Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 11

Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế
và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước.Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng,
tăng trưởng kinh tế mặt khác sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP.
d.Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên:
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách (nhất
là ngân sách các địa phương). Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm
vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. Chính điều đó tạo sự
căng thẳng về NSNN.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân
sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
e.Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn:
Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế
tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra
những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản
chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính.
Nhưng đa số các nhà kinh tế thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá ngưỡng nào
đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do phân bổ nguồn lực không hiệu quả dẫn tới thâm hụt
NSNN và cuối cùng là gây ra lạm phát. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua
cũng được sử dụng nhưmột công cụ trong chính sách tài khóa nhằm kích thích sự tăng trưởng.
1.4.4.Tác động của chính sách tài khóa đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam:
a - Chính sách tài khóa và kinh tế Việt Nam:
Giai đoạn từ năm 2009 đến nay:Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, kinh tế trong nước đối
mặt với nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi thị trường Việt Nam có độ mở cao (xuất,
nhập khẩu trên 150% GDP); khu vực FDI tuy chỉ chiếm trên 27% tổng đầu tư xã hội, nhưng luôn

phủ và kiểm soát tốt các dự án đầu tư công. Việt Nam còn nhiều thiếu sót về cả ba mặt này. Chính
phủ cần chấm dứt, hoặc tạm dừng một cách có hệ thống các dự án mục tiêu không rõ ràng, thiếu
vốn, hay có kết quả hoạt động kém”.
Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 13

1.4.5. Tình trạng thâm hụt ngân sách, lạm phát và mất cân đối vĩ mô ở nước ta:
Nhìn vào những nước đã trải qua lạm phát cao sẽ thấy, lạm
phát ở những nước này thường là hệ quả của việc in tiền
nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Thâm hụt ngân sách
cao và lâu dài buộc Nhà nước phải phát hành thêm tiền để
tài trợ thâm hụt và điều này dẫn đến lạm phát.Thâm hụt
ngân sách ở Việt Nam hiện nay đã tới mức báo động. Theo
số liệu chính thức, thâm hụt ngân sách của nước ta hiện
nay là 5% GDP (gồm cả tiền trả nợ gốc và không bao gồm các khoản chi ngoài dự toán). Thế
nhưng theo ước tính của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thì thâm hụt ngân sách của Việt Nam
- Theo cách tính quốc tế(không bao gồm tiền trả nợ gốc nhưng bao gồm các khoản chi ngoài dự
toán)- lên tới 7% GDP.Điều này làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính
phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của người dân và các nhà đầu tư.
2001

2002

2003

2004 2005 2006 2007

Tăng cung tiền (M2, % thay đổi) 25,5 17,6 24,9 29,5 29,7 33,6 39,0
Tín dụng ( % thay đổi) 21,5 22,2 28,4 41,6 31,7 25,4 36,0
Tổng đầu tư xã hội (% GDP) 31,2 33,2 35,4 35,6 38,9 41,0 41,2

được thắt chặt để giảm tổng cầu và ngăn chặn lạm phát, chính sách tài khóa cần được xây dựng
theo hướng giảm dần thâm hụt tài chính tổng thể ở mức 4 - 5%/năm.
2.2. Giải pháp kiểm soát bội chi NSNN và kiềm chế lạm phát trong thời gian tới:
Vấn đề đặt ra hiện nay là rà soát cắt giảm chi tiêu NSNN chưa thật cần thiết và kém hiệu quả như
đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu tư chưa thật bức bách, kém
hiệu quả hoặc chưa khởi công. Đây là một trong những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, nhưng với số
NSNN hiện có như hiện nay sẽ không thể có điều kiện thực hiện được hết các dự án, công trình đã
bố trí. Do vậy, cần có sự rà soát để chuyển vốn từ các công trình chưa khởi công, khởi công chậm,
hoặc thủ tục không đầy đủ sang cho các công trình chuyển tiếp, công trình cấp bách, công trình có
Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 15

hiệu quả kinh tế cao. Việc làm này, đỏi hỏi phải có sự đồng tâm nhất trí và quyết tâm cao của tất cả
các Bộ, ngành và địa phương trong việc thực hiện chính sách của Nhà nước.
Về chi tiêu thường xuyên, cũng nên rà soát lại tất cả các khâu hoạt động để tổ chức lại bộ máy cho
hợp lý hơn, đồng thời cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết để tập trung nguồn lực cho các
công tác khác quan trọng và cấp thiết hơn.
Kiểm soát bội chi NSNN và triệt để thực hiện chính sách có thu mới chi, không để bội chi NSNN
tăng cao, nếu cần thiết nên giảm tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP dưới mức 5%, tức là nên ở
khoảng 3-4%. Đồng thời, tiến tới tính toán cân đối các nguồn phát hành trái phiếu, công trái giáo
dục một cách hiệu quả hơn, nếu chưa thật cần thiết hoặc chưa đủ thủ tục thì nên cắt giảm.
Cùng với chính sách tài khóa chặt chẽ thì chính sách tiền tệ thắt chặt với việc kiềm chế dư nợ tín
dụng dưới 20 % cho năm 2011 sẽ là các biện pháp cần thiết để ổn định lạm phát ở mức hợp lý. Tuy
nhiên cần lưu ý là các chính sách bao giờ cũng có độ trễ nhất định nên cần có thời gian để hiệu quả
của các chính sách này được thể hiện. Hơn nữa mức thay đổi giá có quán tính nên chưa thể ngay
lập tức dừng lại trong ngắn hạn.
Kết luận:
 NSNN có mối quan hệ nhân quả với lạm phát. Nếu thâm hụt NSNN quá mức sẽ dẫn đến lạm
phát cao. Đặc biệt, nếu bù đắp thâm hụt bằng việc phát hành tiền sẽ tất yếu dẫn đến lạm phát.
Tăng chi NSNN để kích thích tiêu dùng và tăng cầu tiêu dùng, sẽ kích thích đầu tư phát triển và
Tieuluanfree.tk nguyenhuuvu.wordpress.com
Nhóm 3 trang 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO

-Tư Giang - Sài Gòn tiếp thị
-SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 10/2008
-Nguồn từ tổng cục thống kê
-NCEIF - Theo báo cáo mới đây của Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính)
-2009, Thanh toán quốc tế, nhà xuất bản ĐH Quốc gia TP. HCM
- http://www.nghiencuukinhtehoc.com/2011/10/ty-gia-hoi-doai-la-gi.html
- http://nguyenvanphu.blogspot.com/2010/05/no-cong-viet-nam.html
-http://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%A3_ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status