Bằng chứng kiểm toán và các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính - Pdf 13

Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
A Lời mở đầu
Từ khi Nhà nớc ta chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, theo cơ chế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa; ở nớc ta
xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau nh: doanh nghiệp nhà nớc,
doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các hợp tác xã nông nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ theo nghị định 66 HĐBT... Pháp luật cho phép
các doanh nghiệp kinh doanh bình đẳng với nhau trên thơng trờng và tự do
cạnh tranh với nhau. Đã có cạnh tranh tất nhiên sẽ dẫn đến xu hớng mạnh
đợc yếu thua. Khi một doanh nghiệp không còn đáp ứng đợc những đòi hỏi
khắt khe, nghiệt ngã của thơng trờng, doanh nghiệp đó sẽ bị đào thải.
Trong nền kinh tế thị trờng với qui luật cạnh tranh, chọn lọc và đào
thải đợc ví nh một vòng đấu khốc liệt, trong đó các doanh nghiệp chủ thể
chính của các quan hệ kinh tế chính là các đối thủ không cân sức, kẻ mạnh
thắng thế sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, còn những kẻ yếu hơn nếu không
muốn bị đào thải và loại ra khỏi cuộc chơi phải chủ động tìm kiếm phơng án
cơ cấu, tổ chức lại, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt
động. Tuy vậy không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng thành công trong
việc tự cứu mình mà cần phải có sự trợ giúp từ bên ngoài mới có thể thoát
ra khỏi tình trạng bế tắc, và ngay cả những doanh nghiệp vững mạnh, có tiềm
năng đôi khi cũng gặp khó khăn nghiêm trọng trong sản xuất kinh doanh. Do
vậy, phá sản là hiện tợng tự hiệu chỉnh bên trong của nền kinh tế thị trờng.
Trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp đã làm ăn thua lỗ liên tiếp, chỉ
còn sống thoi thóp. Thậm chí đã có những doanh nghiệp chấm dứt hoàn
toàn mọi hoạt động, lẽ ra phải đợc Toà án tuyên bố phá sản những lại lựa
chọn các phơng án khác nh: sáp nhập, hợp nhất, giải thể doanh nghiệp.
Luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993), đợc áp dụng vào thực tiễn kể
từ ngày 1/7/1994, hiện có những bất cập bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: do
Luật còn xa rời thực tiễn, không có tính khả thi, thiếu sự gắn kết, nhất quán
giữa các quy định trong cùng văn bản cũng nh với quy định của các văn bản

doanh nghiệp. Phá sản với tính chất là một hiện tợng có tính qui luật trong
cơ chế kinh tế thị trờng, trong một thời gian dài đã đợc nhiều Nhà nớc
khuyến khích vì hiểu theo nghĩa lợi ích chung của nền kinh tế thì đây là hiện
tợng có ích, vì qua đó nó điều chỉnh lại cơ cấu nền kinh tế quốc dân thông
qua việc nhổ đi những cây cỏ dại trong vờn hoa đẹp. Tuy nhiên sang những
năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, sự vận động của nền kinh tế phát triển và
nền kinh tế thế giới làm cho nhiều quốc gia phải hoài nghi về lợi ích do phá
sản đem lại. Quá trình phân công lao động ngày càng cao theo chiều rộng và
chiều sâu ở mỗi thị trờng quốc gia và thị trờng toàn cầu đã làm tính phụ
thuộc giữa các doanh nghiệp ngày càng lớn. Sự xuất hiện các công ty đa quốc
gia cùng với quá trình toàn cầu hoá đã từng bớc xoá nhoà đờng biên giới về
thị trờng giữa các quốc gia trên thế giới và vì vậy làm cho tính phụ thuộc lẫn
nhau giữa các doanh nghiệp ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn bao giờ hết.
Trong bối cảnh nh vậy, phá sản không còn là công việc riêng của doanh
nghiệp phá sản. Sự cho phép rút lui một cách đột ngột của một doanh
nghiệp ra khỏi thơng trờng bằng cơ chế phá sản không phải bất cứ trờng hợp
nào cũng là giải pháp đợc Nhà nớc lựa chọn sau khi đã cân nhắc đầy đủ và
thận trọng các hệ quả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội. Để ngăn chặn và
kiểm soát một cách có hiệu quả những hậu quả bất lợi của việc phá sản
doanh nghiệp, cơ chế phá sản hiện đại đã chủ động can thiệp bằng pháp luật
từ khi doanh nghiệp có những dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản.
1.2 Phá sản và xử lí phá sản:
Phá sản thuộc lĩnh vực kinh tế xã hội phức tạp, liên quan đến nhiều đời
sống xã hội. Vấn đề đầu tiên thấy nhng khó giải quyết ở mọi quốc gia - đó là
vấn đề thất nghiệp của những ngời lao động trong doanh nghiệp bị phá sản,
gây hậu quả khôn lờng cho xã hội. Nh vậy phá sản thuộc lĩnh vực xã hội.
Mỗi khi một doanh nghiệp bị phá sản thì những doanh nghiệp bạn
hàng cũng chịu ảnh hởng sấu theo kiểu dây truyền và đã gây ảnh hởng sấu
đến tiến trình sản xuất của xã hội. Xét về mặt này thì phá sản thuộc lĩnh vực
kinh tế.

bốn quyết điịnh để xử lí theo quyết định 315- HĐBT theo trật tự: Sát nhập,
cho thuê, nhợng bán và giải thể.
Căn cứ vào tình hình sản xuất cụ thể, đòi hỏi phải chọn lọc và sắp xếp
lại, phải có những phơng án sử lí đa dạng và thích hợp. Tuy vậy viẹc chon lọc
và sắp xếp lại các xí nghiệp vẫn gặp nhiều lúng túng do thiếu những quy định
và hớng dẫn cụ thể. Nhiều doanh nghiệp t nhân hoặc liên doanh với nớc
ngoài cũng gặp những khó khăn về tài chính, mắc nợ hoặc không thanh toán
đợc các khoản nợ đến hạn và đang đứng bên bờ phá sản. Vì vậy cần phải có
một đạo luật phá sản áp dụng chung cho tất cả các loại doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau.
2- Pháp luật về phá sản.
2. 1- Sự cần thiết phải có luật phá sản ở Việt nam
Nhà nớc chủ trơng thực hiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo cơ chế thị trờng; đồng thời cho phép các doanh nghiệp của các
thành phần kinh tế khác nhau hoạt động bình đẳng và tự do cạnh tranh lẫn
nhau trên thị trờng. Cạnh tranh tất yếu sẽ dẫn đếỡnu hớng mạnh đợc- yếu
thua. Vì vậy hiện tợng phá sản các doanh nghiệp trong cơ chế thị trờnglà xu
hớng tất yếu của quá trình cạnh tranh, đồng thời cũng là quá trình đào thải tự
nhiên các doanh nghiệp yếu kém ra khỏi nền kinh tế, để hình thành các
doanh nghiệp mới hoạt động có hiệu quả hơn.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Trớc năm 1993, đối với các doanh nghiệp bị phá sản hoặc đang đứng
bên lề phá sản thì cha có một văn bản nào của nhà nớc quy định về phá sản
và thủ tục phá sản. Vì vậy việc sử lý đối các doanh nghiệp đó gặp rất nhiều
khó khăn. Việc sử lý các doanh nghiệp phá sản phải áp dụng những quy điịnh
có tính chất hành chính trong các văn bản pháp quy hiện hành về giải thể xí
nghiệp thì đỡ dẫn đến tuỳ tiện, xoá nợ để chốn tránh trách nhiệm, tham ô
chia chác, Song việc áp dụng các quy định đó để xử lý phá sản doanh
nghiệp vừa dẫn đến các lại vừa không phù hợp với thông lệ quốc tế. Ngoài ra

nhau. Tuy nhiên sự hình thành nhanh chóng của các công ty xuyên quốc gia
cùng với tiến trình toàn cầu hoá trong điều kiện hiện nay đang đòi hỏi các
nền kinh tế phải có cách nhìn nhận hiện tợng phá sản thống nhất, sự hợp tác
chặt chẽ giữa các quốc gia để đảm bảo an ninh kinh tế chung trên cơ sở hạn
chế đến mức tối đa những hậu quả bất lợi do phá sản đem lại.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Biết rằng, Luật phá sản áp dụng đối với những đôí tợng nào là phụ
thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nớc:
Luật phá sản của Anh, Mĩ, úc áp dụng cho tất cả các cá nhân, pháp
nhân bất luận là nhà kinh doanh hay không là nhà kinh doanh nếu không
thanh toán đợc nợ đến hạn đều có thể tuyên bố phá sản.
Luật phá sản Liên Bang Nga áp dụng chỉ với nhà kinh doanh, gồm
doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh mới có thể bị tuyên bố phá sản.
Riêng ở Việt Nam, Luật phá sản thể hiện rõ đặc trng về đối tợng áp
dụng của nó qua tên gọi: Luật phá sản doanh nghiệp. Nh vậy chỉ doanh
nghiệp mới chịu sự chi phối của Luật phá sản. Sở dĩ có qui định nh vậy là khi
xây dựng Luật phá sản chúng ta cho rằng nên tập trung sự quan tâm và các
đối tợng là các doanh nghiệp, bởi lẽ đây là chủ thể kinh doanh chủ yếu trên
thơng trờng, hơn nữa Toà án kinh tế mới đợc thành lập nên ngại rằng việc đa
ra tất cả các cá nhân và nhóm kinh doanh theo Nghị định 66 HĐBT vào
đối tợng điều chỉnh của Luật phá sản thì Toà án kinh tế không thể giải quyết
đợc khối lợng công việc đồ sộ này.
Tuy nhiên, việc đa Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam đi vào thực
tiễn cuộc sống là vấn đề hoàn toàn mâu thuẫn với quan điểm xây dựng luật.
Số vụ việc yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp so với thực tế là
quá ít. Luật có hiệu lực từ năm 1994, trong 6 năm thực hiện, tính đến năm
2000, trên toàn quốc, các Toà án mới chỉ giải quyết cha đầy 100 vụ yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Trong đó số vụ ra quyết định bởi Toà án lại
càng ít. Sở dĩ có tình trạng đó là do rất nhiều nguyên nhân, mà không thể nói

tuyên bố phá sản doanh nghiệp Nhà nớc u tiên cho việc hoà giải tự nguyện
giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ, nhận bảo lãnh và mua lại các khoản nợ
của doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản đợc u tiên giải quyết đến
trớc ngày Toà án có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp.
Thứ hai: Chỉ có T.A.N.D cấp tỉnh trở lên mới có thẩm quyền tuyên bố
phá sản doanh nghiệp. Thẩm quyền sử lý yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp theo Luật phá sản doanh nghiệp qui định: Chỉ T.A.N.D cấp tỉnh,
T.A.N.D.T.C là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Thứ ba: Nguyên tắc thi hành: phòng thi hành án thuộc sở T pháp, Cục
quản lý thi hành án dân sự thuộc bộ t pháp là cơ quan có thẩm quyền thi hành
quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Thứ t: Nguyên tắc kiểm soát và giám sát việc xử lý yêu câu phá sản.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở nên mới có chức năng kiểm soát và giám
sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh
nghiệp theo qui định của pháp luật.
** Thủ tục làm đơn, nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Thứ nhất: Thủ tục làm đơn của chủ nợ: Sau 30 ngày kể từ khi gửi giấy
đòi nợ cùng hạn mà không đợc doanh nghiệp thanh toán, hoặc doanh nghiệp
không trả lơng cho ngời lao động 3 tháng liên tiếp thì các chủ nợ có quyền
viết đơn nộp lên toà án nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.
Thứ hai: Thủ tục làm đơn của chủ doanh nghiệp. Trong trờng hợp đã
thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính và để thanh toán các
khoản nợ đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh nghiệp không thoát khỏi tình
trạng mất khả năng trả nợ đến hạn thì chủ doanh nghiệp hoặc ngời đại diện
hợp pháp của họ làm đơn đến Toà án nơi có trụ sở chính của doanh nghiệp
xin tuyên bố phá sản.
Thứ ba: Trách nhiệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Toà

án cũng nh các đơng sự. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đợc quyết
định khác của Chánh Toà kinh tế nếu các bên còn khiếu nại thì Chánh án
TAND cấp tỉnh xem xét. Trong thời hạn 7 ngày phải ra quyết đinh khác,
quyết định lần này có hiệu lực thi hành.
Nh vậy, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải
dựa trên một số nguyên tắc và tuân theo những thủ tục nhất định.
Qua việc khảo sát pháp luật phá sản của một số nớc có nền kinh tế thị
trờng phát triển trên thế giới có thể đi đến kết luận: thủ tục phá sản trong
pháp luật các quốc gia đó rất thống nhất với nhau mặc dù còn rất khác nhau
về mặt nội dung điều chỉnh pháp luật. Sở dĩ nh vậy là pháp luật của
Các nớc đó có những quan niệm tơng đồng về những nhóm lợi ích cần
đợc bảo vệ và phơng pháp bảo vệ một cách có hiệu quả những lợi ích đó bao
gồm các giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thụ tục yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn điều tra, đánh giá khả năng thanh toán
nợ của doanh nghiệp.
Giai đoạn thứ ba: - Nếu doanh nghiệp có khả năng phục hồi, toà án sẽ
mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp thông việc tổ chức hội nghị chủ nợ. Nếu
hội nghị chủ nợ tổ chức không thành thì toà án sẽ mở thủ tục tiếp theo.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
- Nếu doanh nghiệp không có khả năng phục hồi, Toà án sẽ mở thủ tục
phá sản nhằm thanh lý tài sản của doanh nghiệp.
Khác với thủ tục phá sản của các nớc kể trên, pháp luật phá sản Việt
Nam đợc thiết kế theo một thủ tục duy nhất áp dụng chung cho tất cả các
doanh nghiệp mắc nợ. Theo đó, việc phục hồi doanh nghiệp thông qua thiết
chế Hội nghị chủ nợ là một thủ tục có tính chất bắt buộc trong trình tự phá
sản của một doanh nghiệp. Và nh vậy, thủ tục phá sản doanh nghiệp ở Việt
Nam trải qua các bớc:

Hội nghị chủ nợ hợp lệ lần 1
( 1/2 số chủ nợ đại diện,
1/3 tổng số nợ ko có bảo
đảm)
Hội nghị chủ nợ hợp lệ lần 2
(chủ nợ đại diện 2/3 tổng số
nợ ko có bảo đảm)
Đình chỉ giải quyết
Hoà giải và đưa ra giải pháp tổ chức lại DN
Hoà giải thành và đưa ra giải pháp
tổ chức lại DN
Hết hạn hoà giải, vượt quá tình trạng
phá sản và ko có khiếu nại của chủ nợ
Đ
Ă
N
G
B
A
O
( 10
ngày)
Quyết định tuyên bố phá sản DN
Kháng nghị, khiếu nại quyết
định tuyên bố phá sản DN
Ra quyết định phúc thẩm
(Toà Kinh tế T.A.N.D.T.C)
Thi hành quyết định tuyên bố phá sản
DN
Nộp đơn

doanh nghiệp mắc nợ không có sự bảo đảm hoàn trả nợ bằng tài sản của
doanh nghiệp mắc nợ.
Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ đợc bảo đảm bằng
tài sản của doanh nghiệp mắc nợ mà giá trị tài sản đảm bảo ít hơn khoản nợ
đó.
Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ đợc bảo đảm bằng tài sản
của doanh nghiệp mắc nợ nh: đã thế chấp cầm cố, bảo lãnh bằng tài sản khi
vay mợn, mua, sang nhợng tài sản khác.
Vậy trong số những chủ nợ này thì những ai có quyền nộp đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định pháp luật. Theo Điều 7 Luật
phá sản doanh nghiệp (30/12/1993) thì chỉ có chủ nợ không có bảo đảm và
chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn lên Toà án nơi đặt trụ sở
chính của doanh nghiệp để yêu cầu Toà án giải quyết việc tuyên bố phá sản
doanh nghiệp. Nếu sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn
mà không đợc doanh nghiệp thanh toán nợ.
Khi nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chủ nợ phải gửi
kèm theo bản sao giấy đòi nợ, các giấy tờ, các tài liệu chứng minh doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Và các chủ nợ còn phải nộp tiền
tạm ứng lệ phí trong trờng hợp này theo qui định của pháp luật.
Tuy vậy trên thực tế việc xác định và tiến hành phân loại chủ nợ không
phải là một công việc dễ dàng đối với toà án trong quá trình giải quyết tuyên
bố phá sản doanh nghiệp. Mặt khác thì việc xác định chủ nợ có bảo đảm một
phần dựa trên giá trị tài sản đợc dùng để bảo đảm nghĩa vụ tại thời điểm xác
lập giao dịch, mà nh hiện nay là không phù hợp vì trớc sự vận động và phát
triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trờng thì nó đã gây ra các thiệt hại cho
các chủ nợ. Vì vậy, có lẽ đó chỉ là giải pháp có tính chất quá độ ở nớc ta khi
các thị trờng hình thành cha đồng bộ và đặc biệt là thị trờng về các yếu tố sản
xuất.
Ngời lao động cũng có quyền đệ đơn yêu cầu giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp với tính cách là chủ nợ không có bảo đảm. Điều 8

tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; kèm theo đơn phải có danh
sách các chủ nợ và số nợ phải trả cho các chủ nợ, địa chỉ của các chủ nợ, bản
tờng trình về trách nhiệm của giám đốc, các thành viên của Hội đồng quản trị
của doanh nghiệp đối với tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, báo
cáo tình hình kinh doanh 6 tháng trớc khi không trả đợc nợ đến hạn, báo cáo
tổng kết 2 năm cuối cùng, nếu doanh nghiệp hoạt động cha đến 2 năm thì gửi
báo cáo tổng kết tài chính của cả thời gian hoạt động và các hồ sơ kế toán
liên quan ( Theo Khoản 2 Điều 9 LPSDN 31/12/1993). Thêm vào đó thì các
doanh nghiệp còn phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo qui định của pháp luật.
Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp khi đã lâm vào tình trạng
phá snả thì hầu hết không đủ điều khiện để thực hiện đúng trình tự theo quy
định của Luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993).
Hơn nữa, khi hớng dẫn các toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh,
Toà án nhân dân tối cao yêu cầu: mọi trờng hợp khi có đơn tới Toà án để yêu
cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì đều phải có xác nhận của
cơ quan kiểm toán đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Khi cha có
xác nhận của cơ quan kiểm toán thì Toà án không mở thủ tục giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Song tài liệu để phục vụ kiểm toán rất
nan giải vì không ít các doanh nghiệp không có hoặc không còn sổ sách kế
toán, đặc biệt là các doanh nghiệp t nhân. Thêm nữa là chi phí kiểm toán rất
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status