Ôn thi Đại học môn Văn 2 - Pdf 13

.Đề: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.
Nêu cảm nhận về vẽ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng
này.
a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Xuân Quỳnh (1942-1988) là một nhà thơ nữ xuất sắc của văn học Việt
Nam hiện đại. Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành,
khao khát tình yêu, biết nâng niu hạnh phúc đời thường bình dị.
Sóng (in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào) được sáng tác năm 1967, tiêu
biểu nhiều mặt cho hồn thơ Xuân Quỳnh.
b. Phân tích hình tượng Sóng
Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ và là một hình tượng ẩn dụ.
Cùng với hình tượng em (hai hình tượng này song hành suốt tác phẩm), sóng thể
hiện những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu cùng vẽ đẹp tâm hồn người phụ
nữ rất truyền thống mà rất hiện đại.
Sóng có nhiều đối cực như tình yêu có nhiều cung bậc, trạng thái và như
tâm hồn người phụ nữ có những mặt mâu thuẩn mà thống nhất (phân tích hai câu
đầu với kết cấu đối lập – song hành và với việc đặt các từ dịu êm, lặng lẽ ở cuối câu
tạo điểm nhấn
Hành trình của sóng tìm tới biển khơi như hành trình của tình yêu hướng về
cái vô biên, tuyệt đích, như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật
hẹp, tù túng (phân tích 2 câu sau của khổ 1 với kiểu nhấn mạnh như không hiểu
nổi, tìm ra tận….)
1
Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng giống điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm, khó
nắm bắt của tình yêu (phân tích các khổ 3, 4 của bài thơ đối với điệp từ nghĩ và sự
xuất hiện của nhiều câu hỏi…)
Sóng luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao, trăn trở
không yên, như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào ước vọng về
một tình yêu vững bền, chung thủy (phân tích các khổ 5, 6,7,8 của bài thời với lối
sử dụng điệp từ, điệp nghữ, điệp cú pháp; với hiệu quả của hình thức đối lập trên -
dưới, thức - ngủ, bắc –nam, xuôi - ngược…; với kiểu giải bày tình cảm bộc trực

Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn, to lớn
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang đất nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẽ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời….
3
a. Mở bài:
Nguyễn Khoa Điềm (1949) thuộc thế hệ nhà thơ chống Mỹ cứu nước, Đất
nước, nhân dân, cách mạng luôn là nguồn cảm hứng phong phú của thơ ông. Đất
nước được trích trong trường ca Một chặng đường khát vọng (1974) – tác phẩm
tiêu biểu của nhà thơ.
Đoạn trích nằm trong phần đầu của bài thơ, thể hiện một cách cảm nhận
mới mẻ về Đất nước cũng như những lới nhắn nhủ tâm tình của tác giả đối với thế
hệ mai sau.
Thân bài:
a. Cảm nhận về đất nước (chín dòng đầu)
Trong anh và em hôm nay
………
Đến những tháng ngày mở mộng
Hai dòng thơ đầu: Đất nước có trong tình yêu đôi lứa
Trong anh và em hôm nay
Điều có một phần đất nước
Bằng giọng điệu tâm tình của đôi lứa, với cách nói nhẹ nhàng, chừng
mực, nhà thơ đưa ra một nhận thức mới mẽ về Đất Nước; Đất, nước thậ gần gủi,
thân thiết ngay trong mỗi con người chúng ta, trong anh và em, Đất nước như được
hóa thân trong mỗi con người.

- Công cuộc gìn giữ bồi đắp cho Đất nước bền vững muôn đời
- Biết gắn bó, san sẻ, hóa thân cho dáng hình xứ sở: hóa thân, xương máu,
gắn bó, san sẽ, muôn đời thể hiện sự sáng tạo của nhà thơ trong việc biểu hiện mối
quan hệ giữa đất nước với ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong cộng đồng,
đồng thời đây cũng chính là bức thông điệp gửi đến thế hệ sau.
- Toàn bài thơ tập trung thể hiện tư tưởng Đất nước của nhân dân, riêng ở
những dòng thơ này, chính nhân dân sẽ hóa thân thành Đất nước, thành những
Vọng Phu, hòan Trống Mái, núi Bút non Nghiên
Kết luận:
- Đoạn thơ tập trung được đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu của bàn trường ca
Mặt đường khát vọng: hài hòa với chất trữ tình, giọng thơ tha thiết dịu ngọ, ngôn từ
hình ảnh đẹp, sáng tạo.
- Viết về đề tại quen thuộc - đất nước – nhưng thơ Nguyễn Khoa Điềm và
đoạn trích vẫn có vị trí riêng. Những nhận thức mới mẻ về đất nước, tình cảm xúc
động thiêng liêng của đoạn thơ gợi lên lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với đất
nước ở thế hệ sau.
Đề: Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau của hai nhân vật
Việt và Chiến trong “những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi
Hy sinh với tư cách người chiến sỹ trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân
(1968), nhà văn Nguyễn Thi để lại một số lượng tác phẩm không nhiều. Tuy vậy,
6
đó là những tác phẩm có giá trị, đặc biệt ở chổ chúng đã góp phần khắc họa nên
bức chân dung lớn của người nông dân Nam bộ trong cuộc chiến đấu chống Mỹ
cứu nước vừa qua. Những nhân vật của Nguyễn Thi đều chân thật và gây nhiều ấn
tượng như trường hợp hai nhân vật chị em Chiến và Việt trong truyện ngắn “những
đứa con trong gia đình”
Việt và Chiến sinh ra trong một gia đình mang khá nhiều nét tiêu biểu
của một gia đình Nam bộ trong chiến tranh. Cuốn sổ gia đình do chú ghi lại mà
Chiến dùng để đánh vần tập đọc, thực ra là cuốn gia phả đặc biệt lại vắn tắt, ở đó
mỗi dòng, thậm chí mỗi chữ, đều có máu và nước mắt. Đó là một gia đình từ mấy

Xây dựng hình ảnh nhân vật Việt hồn nhiên và trẻ thơ như thế, phải chăng
Nguyễn Thi muốn nói với người đọc về một thế hệ trẻ Việt Nam đã bước vào cuộc
chiến đấu rất sớm., như thẳng từ tuổi thơ mà đến. Ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Thi
hình như còn ở chổ này nữa: Thế hệ ấy có thể rất hồn nhiên, trẻ con, rất vô tư, vô
tâm trong nhiều mối quan hệ gia đình và xã hội, nhưng lại cực kỳ nghiêm túc trong
suy nghĩ về kẻ thù, về cuộc chiến đấu chống xâm lược. Vì sao vậy? vì bản chất
chính nghĩa của cuộc chiến đấu ấy. Đó là một cuộc chiến đấu vì sự sống, cũng là
một cuộc chiến đấu đầy chất tươi trẻ và lạc quan.
Chiến thì khác hẳn với Việt. Có thể Chiến cũng như Việt nếu Chiến có
một người chị. Nhưng Chiến là chị cả của những đứa em không còn cha, mẹ. Là
con gái, Chiến có cái tính kiên nhẫn đến gan lỳ của người phụ nữ đã từng trải cực
khổ. Chính là Chiến, chứ không phải Việt, ngồi đánh vần từng chữ, đọc cho được,
đọc cho hết cuốn sổ ghi chép của gia đình đầy máu và nước mắt để nuôi dưỡng cho
mình khát vọng khôn nguôi chiến đấu và trả thu. Là chị, Chiến trở thành người phụ
8
nữ đảm đang, hy sinh, tận tụy, Chiếnkhông kịp nghĩ gì cho mình trước khi nghĩ đến
các em. Lúc nào Chiến cũng nhường nhịn em, từ việc lớn đến việc nhỏ. Trong cả
truyện ngắn, duy nhất chỉ có một lần Chiến không nhường em. Ấy là lần cả hai chị
em cùng xin đi bộ đội, Chiến đã nói với anh cán bộ tuyển quân: “Đến tết này nó
mới được mười tám anh à”
Người đọc dễ dàng chấp nhận hành động “tranh ơn” này cửa Chiến, không
thấy nó mâu thuẩn gì với bản tính của cô, bở vì, ngoài khát vọng chiến đấu, hành
động của Chiến còn thể hiện một ý muốn cảm động của cô: Chiến chưa muốn em
mình sớm phải bước vào cuộc chiến đấu gian khổ.
Chiến như lớn hơn tuổi của mình,chín chắn, sâu sắc hơn. Trong cái đêm
hôm trước ngày lên đường nhập ngũ. Chiến đã lo lắng, lo liệu đến từng chi tiết
công việc gia đình, từ việc gửi đứa em Út ở với chú, việc giao nhà, giao đất cho ai
quản lý, đến việc gửi bàn thờ má, việc cúng giổ ba, má….Việc nào Chiến cũng tính
toán cẩn thận chu đáo. Chiến thật đúng là hình ảnh một cô gái Việt Nam mà truyền
thống và thời đại sản sinh ra.


“Những đứa con trong gia đình” là một trong những thiên truyện ngắn xuất sắc
nhất của Nguyễn Thi
Chổ đặc sắc nhất của thiên truyện là ở đâu? Trước hết phải nói tới nghệ
thuật kể chuyện (hay trần thuật) độc đáo, linh hoạt của nhà văn Nguyễn Thi.
10
Tác phẩm kể chuyện một gia đình cách mạng, mọi thành viên đều là
chiến sỹ diệt Mỹ kiên cường. Thù nhà nợ nước thống nhất làm một. Tình gia đình
và tình cách mạng hòa lẫn với nhau: ba má Việt gặp nhau và lấy nhau vì cùng cầm
súng giết giặc. Họ đều ngã xuống trong chiến đấu. Những đứa con của họ (Việt và
Chiến) gắn bó với nhau trong tình ruột thịt và trong niềm tự hào về truyền thống
cách mạng của gia đình. Người mẹ nuôi con lớn lên để rửa thù cho cha. Những đứa
con giành nhau nhập ngũ để trả thù cho ba má….Một câu chuyện như thế tuy cảm
động nhưng khá nặng nề, dễ đơn điệu và trung lắp, nếu không sáng tạo ra một cách
trần thuật độc đáo, linh hoạt.
Tác giả đã chọn lối trần thuật theo quan điểm của nhân vật, một chú lính
trẻ tên là Việt. Chú giải phóng quân này bị trọng thương và lạc đồng đội, một mình
nằm lại giữa chiến trường sau một trận ác chiến còn để lại khói lửa mịt mù và xác
giặc ngổn ngang. Chú nhớ đồng đội, nhớ chị, nhớ Chú Năm, nhớ những ngày ba
má còn sống, nhớ những buổi bắn chim, câu cá, bắt ếch, nhớ ngày chị nhập ngũ và
lên đường….Câu chuyện được thuật kể qua dòng hồi ức của chú khi đứt khi nối bởi
vì chú nhiều lần ngất đi rồi lại tỉnh lại. Câu chuyện vì thế không diễn ra theo trật tự
thời gian, không gian tự nhiên mà theo logic chủ quan của tâm trí nhân vật nên hết
sức biến hóa. Các sự việc, các nhân vật của gia đình hiện lên với một màu sắc đậm
đà và hấp dẫn. Chuyện kể đến đâu thì tính cách nhân vật cũng hiện ra đến đấy một
cách sinh động và đậm nét.
Đây là một thủ pháp nghệ thuật nhưng không phải ai cũng sử dụng được
thành công.Phải am hiểu sâu sắc tâm lý nhân vật… , phải nhập vai nhân vật và nói
được đúng giọng nói của nhân vật….Đây là sở trường của Nguyễn Thi, nhà văn của
nông dân vùng đồng bằng Nam bộ.

vậy”. Còn Chú Năm thì thật sự thán phục “Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì
việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non….
Ngoài ra, ở nhân vật này có một chất trẻ trung và duyên dáng của một
thiếu nữ, thể hiện ở cái cử chỉ bịt miệng cười khi Chú Năm cất tiếng hò, ở nét lông
mày cau lại, chéo khăn hờ ngang miệng, cặm cụi ngồi đánh vần cuốn sổ của Chú
Năm, ở cái tiếng “hứ một cái cóc” khi cậu em bảo mình nói năng giống hệt như má
vậy….
Việt thì tỏ ra là một cậu con trai của đồng quê, tính hiếu động (suốt ngày
lang thang bắn chim, câu cá, bắt ếch, đánh tàu giặc, ghi tên nhập ngũ bao giờ cũng
tranh phần hơn). Là con trai, là em (quen được chiều chuộng) nên mọi việc đều ỷ
lại chị. Chỉ kém chị một tuổi, Việt “trẻ con” hơn nhiều và vô tâm vô tính chẳng biết
lo nghỉ gì, kể cả ngày nhập ngũ… Là con trai, Việt thường che giấu tình cảm ủy
mị, nhưng bản chất rất giàu tình cảm. Nằm ở chiến trường, chú nhớ má, nhớ Chú
Năm, chị Chiến, nhớ thương em út, nhớ anh em đồng đội. Chú “ước gì bây giờ lại
được gặp má, Phải, vì như lúc má đang bơi xuồng, mà sẽ ghé lại, xoa đầu Việt,
đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuồng lên cho Việt
ăn….” Chú nhớ chị và thương chị vô cùng, tuy vẫn tranh phần hơn với chị. Ở đơn
vị, chú giấu biệt chị đi vì chỉ sợ lộ ra họ sẽ lấy mất chị….Cách thể hiện tình cảm
đích đáng nhất ở Việt là đánh giặc. Đấy là cách thương má, thương ba, thương chị,
thương Chú Năm của Việt. Cho nên khi đồng đội tìm thấy Việt nằm ngất đi ở chiến
trường, ngón tay chú vẫn đặt trên cò súng và một viên đạn đã lên nòng sẳn sàng
bắn vào quân giặc…
Ngoài nghệ thuật kể chuyện, ngoài thành công trong việc xây dựng nhân
vật “những đứa con trong gia đình” còn có những đoạn tuyệt hay. Ấy là đoạn Việt
nhớ lại sau lúc chị em Việt ghi tên tòng quân chuẩn bị lên đường.
13
Đêm ấy hai chị em trò chuyện với nhau, thu xếp chuyện nhà chuyện cửa
chuyện gửi lại Chú Năm bàn thờ má và thằng em út, chuyện hứa hẹn, khuyên nhủ
nhau…Chị Chiến bổng ăn nói nghiêm trang, xưng chị em (chứ không mày tao như
mọi khi), bàn bạc, dặn dò em y hệt như giọng của mẹ xưa. Còn Việt thì vẫn rất trẻ

nhìn bằng đôi mắt hời hợt được, dẫu cho đó chỉ là một người đàn bà bình thường ở
một làng chài.
Chiếc thuyền ngoài xa” được viết năm 1987, cũng được xem là dấu ân của
Nguyễn Minh Châu, trong công cuộc tiên phong đổi mới nền văn học nước nhà
thời kỳ này. Với lối viết in đậm cách tự sự - triết lý và ngôn ngữ dung dị đời
thường, Nguyễn Minh Châu đưa ta đến với câu chuyện về một nghệ sỹ nhiếp ảnh
trong chuyến đi thực tế và những chiêm nghiệm sâu sắc của anh về nghệ thuật và
cuộc đời.
Lướt qua tất cả câu chuyện, người đọc không thể dừng lại ở hình ảnh
“người đàn bà làng chài” mà tác giả chỉ gọi là “người đàn ba” một cách phiếm
định. Tuy không có tên tuổi cụ thể, chỉ là một người vô danh như biết bao người
đàn bà vùng biển khác trên đất nước này nhưng tác giả tập trung thể hiện và để lại
nhiều ấn tượng với người đọc. Trạc ngoài bốn mươi, thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng
xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi”, người đàn bà ấy gợi ấn tượng về một cuộc đời
nhọc nhằn, lam lũ. Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ thật khốn khổ “ba
15
ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, bà vẫn thầm lặng chịu đựng mọi đớn
đau, “không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”. Bà coi
đó là lẽ đương nhiên, bởi đơn giản trong cuộc mưu sinh đầy cam go này, trên chiếc
thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người đàn ông khỏe mạnh và biết nghề,
chỉ cần những đứa con bà được sống và lớn lên.
Qua những giải bày của người mẹ, người vợ, người đàn bà đáng thương
ấy ở tòa án huyện, ta thấy rõ nguồn gốc của mọi sự chịu đựng, hy sinh vô bờ bến vì
tình thương đối với những đứa con “phải sống cho con chứ không phải cho
mình”.Sự chịu đựng, cam chịu ấy thật đáng để chia sẻ, cảm thông. Và, thấp thoáng
trong cái bóng dáng người đàn bà ấy lại hiện lên bóng dáng của biết bao người phụ
nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hy sinh. Cũng phải nói
thêm rằng, đời sống kinh tế còn lắm những khó khăn của thời “mở cửa” và cái
nghèo bao trùm của bóng ma chiến tranh kéo dài mấy mươi năm trước đó đã “góp
phần” phủ bóng đen lên cuộc đời họ. Ở phương diện người cầm bút, Nguyễn Minh

Để có tấm lịch về thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng,
Phùng đã tới một vùng biển đã từng là chiến trường củ của anh, đã dự tính bố cục,
đã “phục kích” mấy buổi sáng để “ chọp” được một ảnh thật ưng ý. Giây phút ấy đã
tới, đôi mắt nhà nghề của người nghệ sĩ đã phát hiện ra một vẽ đẹp “trời cho” trên
17
mặt biển mơ sương , vẽ đẹp cả đời bấm máy có lẽ anh chỉ có diểm phúc bắt gặp
được một lần “ trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ.
Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù màu trắng như sữa có
pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ
con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt
vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những mắt lưới toàn bộ khung cảnh từ
đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp tôi tưởng chính mình vừa khám phá và
thấy cái chân lý của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoản khắc trong ngần tâm
hồn” niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và
sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp, cái tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc
thuyền ngoài xa giữa trời biển mơ sương, anh đã bắt gặp cái tận thiện, tận mỹ thấy
tận tâm hồn mình như được gột rửa , trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp
hài hòa, lãng mạn của cuộc đời.
Phát hiện thứ hai:
Nếu phát hiện thứ nhất của nhân vật nghê sĩ nhiếp ảnh đầy thơ mộng
thì phát hiện thứ hai lại đầy nghịch lý, nó bất ngờ và trớ trêu như trò đùa quái ác
của cuộc sống. Phùng đã từng có “cái khoẳnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn
mình do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”, anh đã từng chiêm
nghiệm “bản thân cái đẹp chính là do đạo đức”, vậy mà hóa ra đằng sau cái đẹp
“toàn bích toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo
đức”, là “ chân lý của sự hoàn thiện”. Anh đã chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ
đẹp như trong mơ ấy bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu ; một
lão đàn ông thô kệt dữ dằn, độc ác coi việc đánh vợ như phương cách để giải tỏa
uất ức, khổ đau. Phùng đã từng là người lính cầm súng chiến đấu để có vẽ đẹp
thanh bình của thuyền, biển mênh mông, anh không thể chịu được khi chứng kiến

Tuy không có tên tuổi cụ thể, một người vô danh như biết bao người
đàn bà vùng biển khác, nhưng số phận con người ấy được tác giả tập trung thể hiện
và được người đọc quan tâm nhất trong truyện ngắn này . Trạc ngoài 40 tuồi thô
kệt, rỗ mặt, lúc nào cũng xấu xí “khuôn mặt mệt mỏi”, người đàn bà ấy gợi ấn
tượng về cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ . Bà thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau, khi bị
chồng đánh “ không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách trốn chạy”,
bà coi đó là lẽ đương nhiên , chỉ đơn giản bởi trong cuộc mưu sinh đầy cam go, trên
chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một người đàn ông khỏe mạnh và biết
nghề , chỉ vì những đứa con của bà được sống và lớn lên: “ tình thương con cũng
như nổi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời như mụ
chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài” – một sự cam chịu nhẫn nhục như thế thật
đáng để chia xẻ cảm thông. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy . Là bóng dáng của
biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung giàu lòng vị tha đức hy sinh.
Lão đàn ông ác độc:
Có lẽ cuộc đời sống đói nghèo, vất vã quẩn quanh bao nhiêu lo toan ,
cực nhọc đã biến “anh con trai cục tính nhưng hiền lành” xưa kia thành một người
chồng vũ phu, một lão đàn ông độc ác. Cứ khi nào thấy khổ qu1a là lão đánh vợ,
đánh như là để giải tỏa uất ức,để trút cho sạch nổi tức tối, nỗi buồn phiền : “ lão trút
cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người
đàn bà”. Trong đời vẫn có những kẻ như thế, nói như Nam Cao trước kia để thỏa
mãn lòng ích kỷ, chúng tự cho mình cái quyền được hành hạ mọi người. Lão đàn
ông “ mái tóc tổ quạ” , “ chân chữ bát”, “ hai con mắt đầy vẽ độc dữ” vừa là nạn
nhân của cuộc sống khốn nhổ, vừa là thủ phạm gây nên biết bao đau khổ cho chính
những người thân của mình . Phải làm sao để nâng cái phần thiện, cái phần người
trong những kẻ thô bạo ấy .
20
Chị em thằng Phác:
Trong một gia đình mà bố mẹ có chuyện lục đục, đáng thương nhất là
những đứa trẻ. Chúng bị đẩy vào tình thế thật khó xử biết đứng về phía ai , biết làm
thế nào để trọn đạo làm con? Chị thằng Phác, một cô bé yếu ớt mà can đảm đã phải

Có mặt tại chiến trường miền nam đầu những năm 60 với tư cách chiến sĩ –
nghệ sĩ, Nguyễn Thi cũng như nhiều nhà văn khác luôn luôn trăn trở để giải đáp
câu hỏi lớn đối với nhiều người khi ấy : động lực nào đã thúc đẩy nhân dân miền
nam đứng lên đánh giặc. Truyện ngắn những đứa con trong gia đình ra đời năm
1966 là một lời giải đáp của nguyễn Thi đối với những câu hỏi đó, một lời giải đáp
và văn chương giàu sức thuyết phục.
Những đưa con trong gia đình là câu chuyện của một gia đình, một dòng họ
nhưng củng là câu chuyện của bao nhiêu gia đình khác trong chiến tranh chống Mĩ
cứu nước. Vẫn là chuyện bi thương, sống chết những chuyện gắn liền với mưaa
bom bảo đạn. Vậy mà Nguyễn Thi vẫn có cách riêng để xử lý rằng, để dựng thành
một truyện ngắn đặc sắc, đậm nét nam bộ, chịu được thử thách của thời gian , một
truyện ngắn tiêu biểu – nếu không nói là đỉnh cao – của phong cách nghệ thuật của
Nguyễn Thi.
Cốt truyện của những đứa con trong gia đình không có gì phức tạp. Đó là
câu chuyện của chị em Việt, Chiến - những đứa con trong gia đình có quá nhiều
mất mát đau thương : cha bị tây chặt đầu, má bị đại bác Mĩ bắn chết. Mới bước vào
ngưỡng cửa của tuổi trưởng thành. Họ tranh nhau tòng quân để rồi cả 2 người cùng
22
nhập ngủ, cũng được ra mặt trận. Trong 1 trận đánh , Việt diệt được 1 xe tăng và 6
tên mĩ. Bị thương nặng, Việt phải nằm lại chiến trường còn ngỗng ngang dầu vết
bom đạn, nhưng anh vẫn cố gắn nhoài từng tấc để dò đường về đơn vị. 3 ngày lạc
đồng đội, trơ trọi một mình nơi trận địa, có bao nhiêu hồi tưởng về gia đình, về
những người thân đến với Việt. Cuối cùng đồng đội đã tìm thấy anh, Việt lại về
sống trong tình yêu thương đùm bọc của anh em. Chuyện thì đơn giản như vậy
nhưng Nguyễn Thi lại biết dẫn dắt câu chuyện một cách sinh động. Theo sự hồi
tưởng của nhân vật chính hiện tại vá quá khứ, mặt trận và làng quê cứ đan xen vào
nhau, cắt nghĩa cho nhau để làm nỗi rõ chủ đề của truyện.
Việt là Chiến là 2 chị em ruột. Con đường đến với mật trận của họ xuất phát
từ đâu? Nguyễn Thi không miêu tả dài dòng, Ông chỉ lọc lấy 1 vài chi tiết đặc
quánh hiện thực, tự nó làm sống lại cái quá khứ bi thương của gia đình Việt, để lý

cùng chị vào du kích đánh giặc, bao giờ Việt cũng tranh công lớn về mình. Chưa
một lần xa nhà xa chị, đến lúc đi bộ đội, Việt gặp những cảnh vật của vùng quê
khác: “những ngọn đồi, những con đất đỏ như gạch non, những vỏ trái cao su nổ
lách tách dưới trời mưa mở ra hình dáng những chiếc sừng trâu nhọn và sắc; những
con đường sắt có hai ngoe thôi, coi thật ngộ, chân người bước lên còn té, vậy mà
xe chạy được”, “cái gì cũng lạ đối với anh”. Dấu vết trẻ thơ còn đậm nét trong con
người của Việt. Chả thế mà có lúc cách nghĩ của anh cũng rất đơn giản. Mổi lần
nghe đồng đội gọi mình là “cậu tư” nghe vui, chan hòa yêu thương đồng đội nhưng
Việt cố giấu tình anh em là mình có chị gái vì “sợ mất chị”. Đúng là cách ngĩ trẻ
thơ, vừa buồn cười vừa thật đáng yêu! Nhưng kỳ diệu thay, chính con người mà
tâm hồn còn non trẻ ấy lại vượt qua được cái khốc liệt của chiến tranh với một lực
lượng phi thường . Giáp trận với kẻ thù, Việt lăn xã vào những thành Mỹ cao to
24
như cây cao su cụt. Quên hết mọi đau đớn , quên cả tính mạng chông chênh, việt
rược đuổi chiếc xe bộc thép , “chỉ nhớ mình đang mát nhẹ như bay, giờ đây mình
có một cánh tay phải ràng bám chặt vào thành xe và một tay mở cho được trái thủ
pháo”. “giặc còn thì còn chết”. Câu nói như một lời hứa thân thuộc từ một nơi nào
đó rất xa dội lại . Cái xe vẫn chạy thục mạng . giặc ném lựu đạn nổ ùng oàn đằng
sau. Việt cũng không biết.
“ Chiếc xe bộc thép cháy bừng lên một ngọn lửa xanh liếm ngang
ngọn cao su. Trái thủ pháo của Việt đã nổ gọn trong lòng nó”.
Chỉ bằng một vài chi tiết tiêu biểu cùng với nhiệp điệu dồn dập, khẩn
trương của những câu văn ngắn gọn trên đây, Nguyễn Thi đã diễn tả sinh động cái
sức mạnh ngoan cường của người lính trẻ. Phải chăng lòng căm thù giặc vốn dồn
nén trong lòng Việt, theo má đi đòi đầu ba, cùng với tình yêu thương và cả sức lực
của tuổi trẻ nữa đã tạo nên sức mạnh giúp Việt “ vụt lớn khôn hơn, can đảm hơn”
để vượt qua ranh giới của tuổi thơ và tạo nên những chuyện bất ngờ của tuổi trưởng
thành”.
Viết về chiến tranh nhất là con người trong chiến tranh, Nguyễn Thi
không dể dãi hời hợt, không né tránh mất mác đau thương; trái lại ông luôn cố gắng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status