Nghiên cứu sản xuất artemisinin bằng kỹ thuật nuôi cấy tế bào thanh hao (artemisinin bằng kỹ thuật nuôi cấy tế bào thanh hao (artemisinin annua l ) và phát triển trên quy mô pilot (giai đoạn 2007 2008) - Pdf 13

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MALAYSIA – VIỆT NAM
ĐỀ TÀI THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH THƯ NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT ARTEMISININ
BẰNG KỸ THUẬT NUÔI CẤY TẾ BÀO THANH HAO
(ARTEMISIA ANNUA L.) VÀ PHÁT TRIỂN TRÊN QUY MÔ
PILOT (GIAI ĐỌAN 2007-2008)
Cơ quan chủ quản
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Cơ quan chủ trì
VIỆN SINH HỌC NHIỆT ĐỚI


1. Chọn dòng thanh hao trên vườn ươm và đồng ruộng 38
2. Chọn dòng thanh hao in vitro 41
II. Nuôi cấy tế bào thanh hao 48
3. Nuôi cấy phát sinh tế bào mô sẹo thanh hao trên môi
trường bán rắn (agar)
50
4. Nuôi cấy dịch huyền phù tế bào thanh hao trong môi
trường lỏng
58
5. Nuôi cấy dịch huyền phù tế bào thanh hao trong
bioreactor
63
III. Nuôi cấy rễ tơ thanh hao 74
6. Chọn mô thanh hao nuôi cấy phát sinh rễ tơ 77
7. Nuôi cấy chuyển nạp gen rễ tơ vào mô lá thanh hao 80
8. Nuôi cấy rễ tơ thanh hao trên môi trường bán rắn
(agar)
82
9. Nuôi cấy rễ tơ thanh hao trong môi trường lỏng 89
10. Nuôi cấy rễ tơ thanh hao trong bioreactor 96
IV. Phương pháp phân tích và tinh chế artemisinin 102
11. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TCL) và sắc ký l
ỏng
cao áp (HPLC)
103
12. Phương pháp chiết suất và tinh chế artemisinin 110
Kết luận và Đề nghị 118
Tài liệu tham khảo 119
Phụ lục


+ NAA (1mg/l) + kinetin (0,5mg/l). Môi trường dinh dưỡng khoáng LV

6
thích hợp cho tổ hợp BA+NAA: môi trường thích hợp cho tăng sinh mô
sẹo và tăng sinh dịch huyền phù tế bào là LV + BA (0,5mg/l) + NAA
(0,5mg/l) + pepton (1g/l). Thời gian cấy truyền thích hợp là sau 3 tuần nuôi
cấy có tốc độ tăng sinh tế bào cao nhất (17,2).
5. Nuôi cấy dịch huyền phù tế bào thanh hao trong bioreactor
Kết quả nghiên cứu cho thấy trên môi trường nuôi cấy phát sinh mô
sẹo phôi hóa, là dạng tế bào tiền phôi được nhân sinh khối, có khả năng
tổng hợp được artemisinin LV + NAA (0,5mg/l) + BA (0,5mg/l) cần phải
điều chỉnh hàm lượng các chất khoáng và bổ sung như: đường sucrose
(30g/l), đạm tổng số (40mM), tỷ lệ giữa NH
4
+
/NO
3
-
(15/60), nồng độ
KH
2
PO
4
(200mg/l), GA
3
(1mg/l), yeast extract (100mg/l) hay chitosan
(150mg/l) đã cải thiện khả năng tích tụ artemisinin trong tế bào 0,432%
6. Chọn mô thanh hao nuôi cấy phát sinh rễ tơ
Môi trường khoáng B5 thích hợp cho quá trình nuôi cấy phát sinh rễ.
Sự phát sinh rễ mạnh mẽ với mẫu nuôi cấy là lá và nồng độ NAA

4
(1,5mM), GA
3
(5mg/l), NAA
(0,5mg/l) cải thiện khả năng tích tụ artemisinin (1,468%).
10. Nuôi cấy rễ tơ thanh hao trong bioreactor
Môi trường MS cải tiến, 26+2
o
C, 16 giờ chiếu sáng /ngày, pH=6 đã
cải thiện khả năng tích tụ artemisinin (1,982%) kết hợp với bioreactor bán
chìm nổi theo chế độ ngập/nổi (15/45) đã nâng cao hiệu quả tích tụ
artemisinin rõ rệt (2,088%). Yeast extract và chitosan kích thích tích tụ
artemisinin có hiệu quả.
11. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (TCL) và sắc ký lỏng cao
áp (HPLC)
Đã xây dựng được phương pháp phân tích và điều chế artemisinin từ
mẫu cây Thanh hao cấy mô, mô sẹo soma, mô sẹo phôi hóa, dịch huyền
phù tế bào (nuôi cấy trên máy lắc và bioreactor), rễ (nuôi cấy trên máy lắc
và bioreactor). 8
TỒNG QUAN TÀI LIỆU

1. Muỗi truyền bệnh sốt rét
Có khoảng 2.500 loài muỗi nhưng chỉ có các loài Anophele mới
truyền ký sinh trùng sốt rét Plasmodium cho loài hầu, khỉ, người (primate)
và các động vật có vú. Có hơn 60 loài, trong khoảng 400 loài Anophele đã
biết, là vector chính truyền Plasmodium ; các loài khác coi như vector phụ
tùy địa phương.

sàng: sốt cách nhật do P. vivax (hay P. ovale ở Châu Phi), có thể tái phát
sau khi rời khỏi vùng dịch; sốt cách nhật ác tính do P. falciparum, không
tái phát khi rời vùng dịch; sốt cách hai ngày do P. malariae, có thể tái phát
sau khi rời vùng dịch. Sốt rét do P. falciparum thường có nhiều biến chứng
nặng: sốt rét ác tính, sốt nôn ra mật, đái ra hemoglobin gây tử vong cao.
Cơ thể những người bị bệnh sốt rét nhiều lầ
n sẽ xuầt hiện hệ thống
miễn dịch lại vi khuẩn. Tuy nhiên, hệ thống này chỉ tồn tại trong một hay
hai năm sau khi nhiễm bệnh. Vì thế, người ta không thể miễn dịch được với
vi khuẩn sốt rét dù đã nhiều lần bị bệnh. Hiện chúng ta vẫn chưa có vaccin
phòng ngừa bệnh. (
)
Ở Việt Nam đã xác định có hơn 60 loài Anophele. Các loại muỗi
Anophele minimus, A. dirus, và A. sundaicus mang hai ký sinh trùng sốt rét,
P. falciparum và P. vivax. Các loại muỗi này cũng có nhiều ở Ðông Nam
Á. Ký sinh trùng P. vivax xuất hiện giới hạn trong khu vực đồng bằng sông
Cửu Long, trong khi P. falciparum thường có ở các vùng núi và cao
nguyên như Tây nguyên, Hoàng Liên Sơn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tĩnh
là các nơi đã xảy ra nhiều dịch sốt rét trong thập niên 1980 đến đầu những
n
ăm 1990. Một số loài muỗi khác được nghi ngờ truyền gây sốt rét ở Việt
Nam là A. campestris, A. culicifacies, A. lesteri.
2. Bệnh sốt rét và những nghiên cứu về bệnh sốt rét
Cách đây trên 10.000 năm, bệnh sốt rét đã có ở Châu Phi. Cách đây
khoảng 5.000 – 10.000 năm, bệnh có ở Mesopotamia, bán đảo Ấn Độ và
Đông Nam Á. Từ thế kỷ 19, bệnh sốt rét có mặt trên khắp thế giới. Đến đầu
thế kỷ 20, hàng tri
ệu người trên khắp thế giới đã chết vì loại bệnh này. Tuy
nhiên, vào những năm đầu thập niên 1950, bệnh sốt rét hầu như đã biến
mất khỏi Bắc Mỹ và Châu Âu, nạn nhân sốt rét hiện nay chủ yếu là ở Châu


Hình 1: Ký sinh trùng Plasmodium falciparum xâm nhập vào tế bào hồng cầu 11
Nhiệt độ tốt nhất để ký sinh trùng sốt rét phát triển trong cơ thể muỗi
là từ khoảng 28–30
o
C. Nếu nhiệt độ trung bình là 28
o
C thì P. falciparum
cần hơn 9 ngày, P.vivax chỉ cần hơn 7 ngày; nếu nhiệt độ trung bình là
30
o
C thì P. falciparum cần hơn 8 ngày, P. vivax cần hơn 6 ngày để hoàn
thành giai đoạn phát triển trong cơ thể muỗi từ thể giao bào (gametocytes)
ở dạ dày đến thể thoa trùng (sporozoites) ở tuyến nước bọt và có khả năng
truyền bệnh. Muỗi đốt máu người và truyền ký sinh trùng sốt rét sang cho
người lành để gây bệnh. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống:

). Hình 2: Chu trình của bệnh sốt rét ()

Hình 3: Ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum phá vỡ hồng cầu 12
Bệnh sốt rét đã trở thành vấn đề toàn cầu, là căn bệnh thường thấy ở

thuốc diệt côn trùng của muỗi đang gia tăng. Mặc dù vậy, chỉ có 4 trong số
khoảng 1.400 loạ
i thuốc mới, được phát triển trong giai đoạn từ 1975 đến
1999 là để chống sốt rét. Vì thế, hiện nay sốt rét vẫn là một căn bệnh khó
tiêu diệt. Các nhà khoa học vẫn không ngừng nghiên cứu nhằm tìm ra một
loại thuốc mới điều trị sốt rét hiệu quả hơn.
Theo báo cáo của Viện Y học (IOM), bệnh sốt rét đang tái phát ở
mức độ cao, từ đó nhấn mạ
nh đến việc cần thiết phải bổ sung nguồn thuốc
cấp bách với giá thành rẻ hơn nhưng có thể thay thế các thuốc trị sốt rét cũ
đã bị đề kháng. Hình 5: Bệnh nhân bệnh sốt rét ở Ethiopia

3. Tình hình nghiên cứu chống bệnh sốt rét
Trong hai thập niên 1950 – 1960, chiến dịch tiêu diệt muỗi và bệnh
sốt rét, chủ yếu dùng thuốc DDT diệt muỗi (dichloro diphenyl trichloro
ethane) và thuốc chống sốt rét chloroquinine, đã được thực hiện ở nhiều nơi
trên thế giới với sự trợ giúp của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Hơn 100 năm từ khi muỗi Anophele và ký sinh trùng Plasmodium
falciparum được biết đến, con người v
ẫn chưa tận diệt được các loại

14
Anophele hay trị được ký sinh trùng trong mọi trạng thái của chu kỳ sống
của nó trên người bệnh và trên vector muỗi.
Năm 1998, với sự hợp tác của Ngân hàng Thế Giới (WB), Quĩ Liên
hiệp quốc vì trẻ em (UNICEF) và Chương trình Vì sự phát triển của Liên
hiệp quốc (UNDP), WHO đã ra chương trình "Ðẩy lùi sốt sét" (RBM-Roll

15

Hình 6: Bảng giải mã chromosome 3 của Plasmodium falciparum

Hiện nay, thuốc xịt muỗi DDT vẫn được dùng ở một số nơi, hạn chế
trong xó nhà chỗ muỗi hay trú ngụ. DDT tuy không còn hiệu quả như xưa,
nhưng nó vẫn giảm được tuổi thọ của muỗi kháng thuốc. Lý do chính mà
DDT không còn được dùng rộng rãi nơi công cộng và đã bị cấm ở nhiều
nước vì DDT là một chất ô nhiễm hữu cơ bền (POP-Persistent Organic
Pollutant), không dễ dàng bị huỷ.
Để
diệt ký sinh trùng sốt rét, thuốc phổ thông được dùng từ nhiều
năm nay là các thuốc có chất hoá học dựa vào hợp chất thiên nhiên như
chloroquinine, ta vẫn gọi là ký ninh, chế tạo từ vỏ cây quina-quina gốc ở
Nam Mỹ.
Thuốc trị ký sinh trùng sốt rét: tốt và hiệu nghiệm nhất hiện nay là
artemisinin lấy từ cây Thanh hao (quinghao) mà Trung Quốc đã tìm ra đầu
thập niên 1970, áp dụng thành công trong các thử nghiệm lâm sàng và hiện
được dùng rộng rãi. Artemisinin có tác dụng diệt nhanh chóng các ký sinh
trùng l
ưu thông trong máu và khi dùng chung với các thuốc chống sốt rét
khác cho kết quả rất tốt, làm giảm nhiều xác suất tái xuất hiện của các ký
sinh trùng kháng thuốc.
Tại Việt Nam, hai danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông cũng đã
dùng Thanh hao hoa vàng trị được bệnh sốt rét, đổ mồ hôi trộm. Từ năm
1984, Việt Nam cũng đã dùng Thanh hao để trích ra các hợp chất

16
artemether, artemisinin và artesunate, nghiên cứu trị sốt rét thành công
trong thử nghiệm và thực tiễn trên bệnh nhân sốt rét. Trong chiến tranh, dù


Hình 7: Muỗi được biến đổi gen có mắt màu xanh lục sáng
Năm 1979, Trung Quốc đã tiến hành một cuộc thử nghiệm lâm sàng
dùng artemisinin trên 2.099 bệnh nhân sốt rét. Một kết quả không tưởng là
tất cả đều hết bệnh. Ngoài ra, artemisinin dùng trên 143 bệnh nhân sốt rét
với ký sinh trùng đã nhờn thuốc chloroquine và 141 bệnh sốt rét màng não
cũng cho kết quả khả quan. Nhiều thử nghiệm lâm sàng tiếp theo ở Trung
Quốc, Đông Nam Á đều cho các kết quả tương tự.
Ở Việt Nam, trong một thử nghiệ
m năm 1993 trên 638 bệnh nhân,
dùng thuốc uống artemisinin cho thấy: trong vòng 24 tiếng, 98% ký sinh
trùng sốt rét biến mất. Nhóm bệnh nhân dùng thuốc trong 5 ngày chỉ có
10% là ký sinh trùng xuất hiện lại. Artemisinin chống được cả P.
falciparum và P.vivax. Trong một thử nghiệm khác năm 1999, kết quả tốt
nhất là dùng artemisinin và sau đó dùng quinine trong 3-5 ngày sau.
Artemisinin là hoạt chất chính của cây Thanh hao hoa vàng. Khi cây
ra nụ, lá Thanh hao được thu hoạch có màu vàng nâu hoặc nâu sẫm, giòn
dễ vụn nát, mùi thơm hắc đặc biệt, vị đắng. Đây là lúc lá có hàm l
ượng
artemisinin cao nhất, 1,6% trong lá khô (lá xanh chỉ có 0,6% artemisinin).
Lá Thanh hao được tán nhuyễn, xay thành bột để chiết xuất hoạt chất
artemisinin.
Ngày nay, artemisinin được coi là phòng tuyến hữu hiệu cuối cùng
trong kho vũ khí chống ký sinh trùng sốt rét
4. Thanh hao hoa vàng và artemisinin
Thanh hao hoa vàng ở Việt nam được thu hoạch để sản xuất thuốc
chống sốt rét và có khả năng kháng khuẩn, kháng sâu tự nhiên. Từ trước

18
đến nay, Thanh hao được sử dụng như loài dược thảo và hiện đang được

t giống
nhau về ngoại hình là A. apiaceae, A. capillaris, A. campetris và A. annua.

19
Trong đó chỉ có A. annua có artemisinin và tinh dầu. Bộ phận dùng là lá
Thanh hao. Thu hoạch vào thời kỳ có nụ là lúc hàm lượng artemisinin cao
nhất (1.6% trong lá khô). Trong khi nếu thu hoạch khi lá còn xanh thì hàm
lượng artemisinin chí có 0.6%. Cây nở hoa cho hàm lượng artemisinin còn
1%.
Hiện nay các nhà nghiên cứu đã chọn được giống Thanh hao hoa
vàng có hàm lượng artemisinin cao, có thể thu được 3,5-5kg artemisinin
trên một tấn lá khô nguyên liệu. Việt Nam cũng đã sản xuất được các mặt
hàng dược phẩm có chứa artemisinin trong điều trị bệnh sốt rét ác tính. Để

được sản lượng lá khô cao nhất là thu lá làm nhiều lần. Bắt đầu từ lúc lá
chuyển sang màu vàng là thu lá ngay, cho đến khi ngọn chớm có nụ là cắt
toàn bộ cây, rồi tuốt lá phơi và sấy khô.
Artemisinin là đối tượng nghiên cứu nhiều ở Việt Nam tại Viện
Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam, Bộ Y Tế, Bộ Công Nghiệp, Bộ Quốc
Phòng và đã nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh (2004). Artemisinin cũng
đã được nghiên cứu nhiều v
ề kỹ thuật tách chiết va trồng trọt và chọn dòng
Thanh hao hoa vàng có hàm lượng artemisinin cao ở Viện Nghiên Cứu
Dược Liệu Trung Ương. Ngoài ra quy trình tách chiết sản xuất artemisinin
từ cây Thanh hao hoa vàng cũng đã được hoàn thiện tại Viện Sinh Học
Nhiệt Đới và Viện Nghiên Cứu Dược Liệu Trung Ương. Chọn dòng Thanh
hao giàu hoạt chất artemisinin đã được Trung tâm Nghiên cứu Dược liệu
Cam Ly (Công ty Dược liệu TW TPHCM) đang được thực hiện tại Đ
à Lạt
nhiều năm nay. Cây Thanh hao là đối tượng được nhiều cơ quan nghiên

(artennuin B), quinghaosu III (desoxyartemisinin), quinghaosu IV,
quinghaosu V (artennuin E), artemisininlacton (artennuin F), artemisiten
(dehydroartemisinin), artemisinic acid methyl ester, artennuin C,
artemisinin G, artemisino, 11 R – (-) – dihydroartenuin epoxyartemisinic,
dihydroepideoxyartennuin B, epideoxyartennuin B. Ngoài ra, còn có 1,1%
tinh dầu gồm 47 thành phần, trong đó artemisiaceton (52,5%), 1 – 8 cineol
(11,66%) và camphor (10,9%).
Cây còn chứa lipid, flavonoid, coumarin, polyacetylen, tinh dầu
serol.
- Các lipid gồm : nonacosanol, 2 – methyltricosan – 8 – on – 23 – ol,
hentriacontanyl – tricontanoat và 2, 29 – dimethyltriacontan.
- Các hợp chất flavonoid gồm quercetagetin – 3 – methylether;

21
quercetagetin –6,7 – tetramethylether; quercetagetin –6,7 – 4’ – trimethyl
ether; 3,5 – dihydroxy –3’,4’ – 6,7 – tetramethoxyflavon; 3,3’,5’ –
dioxyflavon; kaempferol; quercetin; 6 - methoxy kaempferol, artemetin;
casticin; chrysopletin.
- Các dẫn chất polyacetylen là anuadiepoxyd và ponticaepoxyd.
- Tinh dầu cây Thanh hao hoa vàng Việt Nam chứa α - pinen, camphen,
sabinen, β - pinen, β - myrcen 4,38%, p. cymen, 1 – 8 cineol 15,44%,
artemisiaceton, linalol, limonen oxyd, camphor 23,75%, artemisialcol, 4 –
terpineol, 2 – methylen – 5 – isopropenylcyclohexanol, geranyl acetat, β -
cubeben, α - cubebon - β - caryophylen 6,29%, β - farnesen, ∆ - cadinen.
(Nguyễn Xuân Dũng và cs, 1990).
Theo Woerdenbag và cs (1994), lá Thanh hao hoa vàng cho các hàm
lượng cao nhất về artemisinin (0,86%), acid artemisinic (0,16%) và
artennuin B (0,08%) vào thời điểm cây được 5 tháng tuổi. Sau đó, hàm
lượng các chất này đều giảm đi. Tinh dầu đạt hàm lượng tối đa (1%) trước
khi cây ra hoa. Lúc này, tinh dầu chứa monoterpen 55% và sesquiterpen

artemisinin. Lý do có thể là sự phá huỷ rất nhanh chóng và triệt để ký sinh

23
trùng sốt rét của artemisinin khi tiếp xúc với phân tử sắt (Fe) trong ký sinh
trùng đã không cho chúng nhiều cơ hội đột biến.
Hình 9: Cơ chế hoạt động của artemisinin

Wang và cs (2004) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của gen fpf1
(flowering promoting factor 1) ở thời điểm Thanh hao ra hoa, mối liên hệ
giữa việc nở hoa và quá trình tổng hợp artemisinin nhận thấy sự ra hoa
không là yếu tố cần thiết cho sự gia tăng hàm lượng artemisinin; thời điểm
thu hoạch tốt nhất là lúc cây ở cuối giai đoạn sinh trưởng và có sự tạo chồi.
Artemisinin là một endoperoxide sesquiterpene lactone thuộc nhóm
isoprenoid. Một trong những con đườ
ng sinh tổng hợp quan trọng nhất ở
thực vật là con đường isoprenoid. Terpenoid được tạo nên bởi isopentenyl
diphosphate (IPP) và dimethylallyl diphosphate (DMAPP). Ở thực vật cấp
cao hơn có hai con đường sinh tổng hợp độc lập nhau dẫn đến việc hình

DXS: 1-deoxy-D-xylulose 5-phosphate synthase
FPPS: farnesyl diphosphate synthetase
GPPS: geranyl diphosphate synthase
HMGR: 3-hydroxy-3-methylglutaryl coenzyme A(HMGCoA) reductase
HMGS: HMG-CoA synthase; IDS isopentenyl diphosphate synthase
MVÀ CS: 2-C-methyl-D-erythritol 2,4-cyclodiphosphate synthase
MDD: mevalonate diphosphate decarboxylase
MK: mevalonate kinase
MPK: mevalonate-5-phosphate kinase
SES: sesquiterpene synthase

25

Hình 10: Con đường sinh tổng hợp artemisinin (Liu và cs. 2005; Bertea và cs. 2005).

5. Artemisinin và công nghệ sinh học
Ở nhiều nước đang phát triển như Châu Phi, các nước Châu Á như
Malaysia, Việt Nam… bệnh sốt rét đã lấy đi nhiều sinh mạng con người,
rất tốn kém về chi phí y tế và lao động. Bệnh sốt rét đã đánh mất khoảng 1
triệu người hàng năm (Schellenberg và cs, 2001). Bệnh sốt rét gây ra tính
suy giảm đề kháng, gây ra trạng thái nóng lạnh ở người bệnh và là nhân tố
chính ở các nước có bệnh sốt rét cao. Sự
giao lưu giữa các dân tộc ngày
càng cao sẽ dẫn đến sự lây lan nhất là trong khu vực các nước đang phát
triển. 26
Tổng hợp thuốc chống bệnh sốt rét pamaquine được đầu tiên sử dụng
để điều trị bệnh sốt rét và từ đó dẫn đến nhiều dẫn xuất 8-aminoquinoline,
27
Tại Trường Đại học Berkeley, các nhà khoa học (Dae-Kyu Ro và cs,
2006) đã tiến hành tách được 2 gen từ cây này liên quan đến việc tổng hợp
ra artemisinic acid. Acid này chỉ qua vài phản ứng hóa học sẽ chuyển thành
artemisinin. Sau đó các nhà khoa học đã chuyển thành công 2 gen này vào
tế bào men rượu (Saccharomyces cereviseae). Việc đưa chủng nấm men
mang gen tái tổ hợp sinh artemisinin vào sản xuất trong các nồi lên men
(bioreactor) với hy vọng làm giảm giá thành so với phương pháp tách chiết
từ Thanh hao trồng trọt.
Hi
ện nay công trình này đang được đưa vào sản xuất thử nghiệm tại
Institute for One World Health hợp tác với Amyris Biotechnologies dưới sự
tài trợ của quỹ Bill and Melinda Gates Foundation với kinh phí 42,6 triệu
USD (Hale, 2006). Nhóm tác giả hy vọng khi đi vào sản xuất trên quy mô
công nghiệp thì nhiều bệnh nhân ở các nước nghèo có cơ hội chữa bệnh.
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp: giai đoạn đầu là thay đổi một
số gen của nấm men bằng phươ
ng pháp gây đột biến để gia tăng việc sản
xuất farnesyl pyrophosphate (FPP); giai đoạn hai là đưa gen amorphadiene
synthase (ADS) của cây Thanh hao hoa vàng vào tế bào nấm men để tổng
hợp FPP thành amorphadiene; và giai đoạn cuối là đưa gen P450 của cây
Thanh hao hoa vàng vào nấm men để oxy hóa 3 bậc chuyển amorphadien
thành artemisinic acid. Công cuộc nghiên cứu đang diễn ra phía trước, và
vấn đề đặt ra là sản phẩm artemisinin chuyển gen có ảnh hưởng đến người
bệnh và vấn đề phòng chống bệnh sốt rét trên ngườ
i bệnh.
Đi theo hướng này Parshikov và cs (2004) đã nuôi cấy dòng
Cunningham elegans tái tổ hợp sản xuất artemisinin bằng con đường biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status