P
5
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ VÀ
KINH
DOANH
QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH
KINH
TẾ
Đối
NGOẠI
ca
KHÓA LUÂN TÓT
NGHIỆP
Đề
tài:
HOẠT
ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
CỔ
PHẨN BẮC Á
GIAI
t Ũ(
A
sề
MỤC
LỤC
LỜI
MỞ
ĐẦU
Ì
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỂ cơ BẢN VỀ HOẠT
ĐỘNG
HUY
ĐỘNG
VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
3
ì.
Nguồn
vốn của ngân hàng thương mại
3
Ì.
Nguồn
vốn chủ sờ hữu
4
2.
Nguồn
tiền gửi
7
Theo
dối
tượng
huy
động
16
2.2.
Theo phương thức
huy
động
17
2.3.
Theo thời gian
huy
động
19
2.4.
Theo loại tiền
huy
động
20
IU.
Các
chỉ tiêu đánh
giá
hiệu
quả
hoạt
đảng
huy
giữa
nguồn
vốn huy
động
trên
Thị
trường
Ì
và dư nợ
cho vay
22
5. Chi phí huy
động
vốn
22
IV.
Các
nhãn
tố
ảnh
hưởng
tới
hoạt
đảng
huy
đảng
vốn
của ngân hàng
thương mại
23
Ngân hàng thương
mại cổ
phần
Bắc
Á 28
2.
Cơ
cấu
tổ
chức
hoạt
động
30
3.
Các
chỉ
tiêu
tài
chính
chủ yếu của
Ngân hàng Bắc
Á 34
li.
Hoạt động huy động vốn
tại
Ngân hàng Bác
Á 36
1.
Phân
theo
phản
ánh
sự
phát
triển
hoạt
động huy động vốn
tại
Ngân hàng Bắc
Á 50
5.1.
Tỉ
lệ
vốn huy
động
Thị
trường
Ì
trên
dư nợ
cho vay
so
5.2.
Tỉ
lệ
vốn
ngắn
hạn cho vay
trung,
dài hạn
chế.
57
2.2.
Nguyên nhãn
của hạn
chế
59
CHƯƠNG
3:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
HOẠT
ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI cổ PHẦN BẮC Á 63
ì.
Định hưng phát
triển
của Ngân hàng Thương mại
cổ
phần Bác Á 63
1.
Đnh
hướng
phát
triển
chung
63
1.1.
Mục
Ngân hàng
TMCP
Bác
Á 69
1.
Nhóm
giải
pháp
chung
69
1.1.
Thành
lập bộ
phận phát triển
sản
phẩm
69
1.2.
Phát triển
các
dịch
vụ
ngân hàng
69
Ì
.3. Tăng cường hoạt động Marketing ngân hàng
71
Ì
.4.
Mở
dựng
cơ
chế
lãi
suất
huy
động linh hoạt
79
2.3.
Đẩy mạnh
hoạt động Marketing trong hoạt động
huy
động vốn 81
2.4.
Phát triển
bộ
phận quan
hệ
khách hàng doanh nghiệp
lớn và
định
chế
tài
chính
81
2.5.
Đẩy mạnh
hoạt động
chăm
sóc
Ngân hàng Nhà
nước
86
KẾT
LUẬN
89
DANH MỤC
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 91
DANH
MỤC
BẢNG
Bảng Ì: Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu của Ngân hàng Bắc Á 34
Bảng
2:
Vốn
theo
loại
tiền
huy
dộng
38
Bảng 3: Vốn theo đối tượng huy động 42
Bảng 4: Các phương thức huy động vốn 47
Bảng 5: Vốn huy động theo kỳ hạn 49
Bảng 6: Vốn Thị trường Ì và dư nợ cho vay 51
Bảng 7: Tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn 53
Bảng 8: Một số chỉ tiêu tài chính kế hoạch năm 2009 65
DANH MỤC HÌNH
OMO :
Nghiệp vụ
thị
trường
mở
(Open
Market
Operation)
ATM
:
Máy
rút
tiền
tự
động
(Automated
Teller
Machine)
LỜI
MỞ ĐẦU
Nền
kinh tế
Việt
Nam đang ở
giai
đoạn
khó
khản.
GDP năm
2008
Trong
bối
cảnh
khủng
hoảng
tài
chính -
kinh tế
toàn
cầu,
Chính phủ
Việt
Nam xác đựnh
tập trung tổ
chức
thực
hiện
ngay
các
giải
pháp
cấp
bách nhằm ngăn
chặn
dà suy
giảm
kinh
tế,
duy trì tăng trường
kinh tế,
trường,
là mối liên
kết giữa
nền tài
chính
quốc
gia
và
tài
chính
quốc
tế,
là
công cụ
điều
tiết
vĩ
mô nền
kinh
tế
của
Nhà
nước,
ngành ngân hàng dóng
vai
trò
hết
sức
quan
trọng trong việc
thời
cho quá trình sản
xuất.
Đê*
có
thể tồn
tại
và phát
triển,
các ngân hàng thương mại
phải lựa
chọn
cho
mình con
đường
đi phù hợp
nhất,
từng
bước
khẳng
đựnh uy tín và thương
hiệu,
nâng cao năng
lực
cạnh
tranh
của
mình.
Phương pháp
tốt
hoạt
động đẩu tư
và cho
vay,
nâng cao
hiệu
quả
hoạt
động
kinh
doanh
của
mình.
Ngân hàng thương mại cổ phẩn Bắc Á là một ngân hàng có
qui
mô
vốn nhỏ,
công
nghệ
ngân hàng còn
thấp
kém so
với
các ngân hàng
trong
khu
vực,
để
cạnh
tranh
được tầm
quan
trọng
của vốn huy động
trong
sự phát
triển
của
ngân hàng
và
tính cấp
thiết
của
hoạt
động huy
dộng
vốn
trong
thòi
điểm
hiện
nay,
tôi
đã
chọn
đề
tài nghiên cứu "Hoạt động
huy
động
vốn
theo
thời
gian
và không
gian
để có
thể
đưa
ra
được các đánh giá
sát
với thực
tế
của
ngân hàng.
Nội
đung
của
luận
văn được
chia
làm
3
chương:
Chương
ì: Những
vấn đê cữ bẩn vé
hoạt động
huy
động
Trong
quá trình hoàn
thiện
để
tài
nghiên
cứu,
tôi đã
nhận
được
sự
giúp
đỡ
về số
liệu
cũng
như sự
chỉ
bảo
tận
tình của các
anh/chị
Phòng Nguồn
vốn,
Ngân hàng thương mại cổ
phẩn
Bắc
Á.
Đạc
biệt
đề
tài
đã
chọn.
2
CHƯƠNG
1:
NHỮNG
VÂN ĐỂ
cơ
BẢN VỀ
HOẠT
ĐỘNG
HUY
ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
ì.
NGUỒN VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
Ngân hàng thương
mại (NHTM) là một
định chế tài chính
thực hiện
chức
năng
kinh
doanh
tiền tệ.
NHTM
chủ
yếu
phải
là vốn
bằng
tiền.
Để
có
thể
hoạt
động,
ngân hàng
phải
có
một
số
vốn
nhất
đinh
(gậi
là vốn pháp
định),
tuy
nhiên ngân hàng
kinh
doanh phần
lớn
dựa trên số
vốn
để
thực hiện
các
mục
đích khác
nhau.
Với
số
vốn huy động
được,
các
NHTM
tiến
hành
thực hiện
kế
hoạch
kinh
doanh
để
trang
trải
chi
phí huy động
và
tích
lũy,
phục
vụ sự phát
triển
Và
như
vậy,
ngán hàng
đã
thực hiện vai
trò
tập
trung
và
phân
phối
lại
vốn
dưới
hình
thức
tiền
tệ,
chuyển
vốn từ
tay người
tiết
kiệm
sang những
người
đầu tư đang cần vốn
để
sản
xuất, kinh
lãi
suất
túi
dụng
và
lãi
suất
huy
dộng
hay chính là chênh
lệch giữa
các
khoản
thu
và
chi
của
ngân hàng
trong
một
giai
đoan
nhất
định.
Như
vậy,
có
thể hiểu
nguồn
vốn của
vai
trò võ cùng
quan
trọng,
quyết
định
tới
sự
sống
còn của các
NHTM,
là
cơ sở dể ngân hàng
tổ
chức
mọi
hoạt
động
kinh
doanh,
quyết
định quy
mô
hoạt
động túi
dụng
và các
hoạt
động khác của ngán hàng,
quyết
1.
Nguồn
vốn chủ sở
hữu
Nguồn
vốn chủ sở hữu của
NHTM
là
những
giá
trị
tiền
tệ
do ngân hàng
tạo
lập
được,
thuộc
sở hữu của ngàn hàng. Vốn này
chiếm
tỷ
trọng
nhỏ
trong
tổng
vốn của ngân
hàng,
song
lại
là
Nó
còn là một căn cứ
quyết
định đến khả
năng và
khối
lượng huy động của ngân
hàng,
qua
đó
quyết
định đến năng
lực
và
thế
phát
triển
của
một NHÍM.
> Nguồn
vốn
hình thành ban đầu
Một
NHTM
muốn
bắt
đầu
hoạt
động thì ngân hàng
đó
là vốn do các cổ đông đóng góp và được
ghi
vào
điều
lệ
hoạt
động
của
ngân hàng và
theo
quy định
tối
thiểu
phải
bằng
vốn
pháp định.
Trong
nền
kinh
tế thị
trưững,
với
sự
gia
tăng các
loại
hình ngân hàng,
vốn
điểu
Ngược
lại,
các ngân hàng
quốc
doanh
được phép
hoạt
động trên
cơ
4
sở
vốn ban dầu
do Ngàn sách nhà
nước
cấp.
Vốn
diều
lệ
của
các ngân hàng cổ
phẩn
do các cổ đóng đóng góp
dưới
hình
thức
mua cổ
phiếu,
còn
dối với
các
nước,
đầu
tư
là
3.000
tỷ
đồng;
các
NHTM
cổ
phần,
liên
doanh,
họp
tác,
100% vốn
nước
ngoài
và Quỹ
tín dảng
nhân dán
TW
là
1.000
tỷ
đồng
(3.000
tỷ
đồng vào
2010).
không
phải
luôn
giũ
cố
định
mà
vẫn
được bổ
sung
và tăng dần
theo
các hình
thức:
ngân
sách nhà nước
cấp
thêm,
huy động thêm
từ
các
cổ
đông,
lợi
nhuận
tích
lũy,
tùy
thuộc
vào
thể
huy động thêm vốn
bằng
con
đường
phát hành
thêm cổ
phiếu
thường
hoặc
cổ
phiếu
ưu
đãi. Đối
với
các
NHTM
thuộc
sở
hữu
nhà nước có
thể
xin
cấp
thêm
vốn
ngân
sách,
các ngân hàng
tư
một
phần thu nhập
ròng
thành
vốn
đầu
tư.
Tỷ
lệ
tích
lũy
tùy
thuộc
vào
khả
năng
hoạt
động
cũng
như
chính sách
gia
tăng
vốn chủ sở hữu của mỗi
ngân
hàng.
Những ngân hàng lâu
năm,
thu
nhập
vốn chủ sở hữu của ngân hàng
và
hằng
năm
dược
bổ
sung
từ
lợi
nhuận
ròng của ngân hàng đó.
Tùy
theo
quy định của
từng
quốc
gia,
các ngân hàng
phải thực hiện
trích
lập
các quỹ khác
nhau.
Thòng thường
các
NHTM
phải lập
các quỹ:
•
Quỹ dự
năm
các
NHTM
được trích
lập
5%
lợi
nhuận
sau
khi
hoàn thành nộp
thuế thu
nhập
doanh
nghiệp
để hình thành quỹ dự
trữ
bổ
sung
vốn
điều
lệ.
Mức
tối
đa của quỹ này không
vượt
quá
mức
vốn
điểu
quyết
định hình
thức
và
biện
pháp đầu
tư
theo
nguyên
tắc
có
hiệu quả,
an toàn phát
triển
vốn.
•
Quỹ
dự phòng
tài
chính
Quỹ dự phòng
tài
chính dược hình thành
từ
lợi
nhuận
hàng năm và được
dùng
để bù
đắp
của các
tổ
chức
bảo
hiểm
và sử
dụng
dự
phòng trích
lập từ
chi
phí.
•
Quỹ
khen
thường
phúc
lợi
Các
NHTM còn sử
dụng
lợi
nhuận
sau
thuế
để
trích
lập
quỹ
khen
chuyển
đổi
6
thành vốn cổ
phần
như trái
phiếu
có
khả năng
chuyển
đổi
có
thể
được
coi
là
một
bộ
phận
của vốn chủ sờ hữu của ngân hàng
(vốn
bổ
sung)
do một số đặc
điểm
như sử
dụng
lâu
dài,
có
soát
của
các cổ dõng
hiện
hữu.
- Theo
điều
4
Quyết
định 457/2002/QĐ -
NHNN
thì các
"Tổ
chức
tín
dụng,
trừ chi
nhánh ngân hàng nước
ngoài,
phải
duy
trì tỷ lệ
tối
thiểu
8%
giữa
vốn tự
có so
với
tổng
các
NHTM
trong
môi trường
cạnh
tranh
ngày càng
khốc
liệt.
Trong
xu
thế
cạnh
tranh đó, đối
vói
hoạt
động của ngân hàng, các
tỷ lệ
an toàn ngày càng
phải
được
chú
trọng
vì nó là cơ sở để xác định các tiêu
chuẩn
an toàn và
cạnh
tranh
trong
lĩnh
nghiệp
vụ
tiền
gửi,
thanh
toán,
các
nghiệp
vụ
kinh
doanh
khác và được dùng làm vốn
để
kinh
doanh.
Bản
chất
của
nguớn
vốn này là
tài
sản
thuộc
các chủ sở hữu khác
nhau.
Ngân hàng chỉ
có
quyền
sử
dụng
NHTM,
là
nguớn
vốn chủ yếu để ngân hàng
triển
khai
các
nghiệp
vụ
kinh
doanh
khác,
nhằm
tạo ra
lợi
nhuận
cho ngân hàng.
Điều
20
Luật
các
tổ
chức
tín
dụng
2004
-
sửa
đổi,
bổ
gửi
có
kì
hạn và
tiền
gửi
tiết
kiệm và các hình
thức
khác.
Tiền gửi được hưởng
lãi,
không hưởng
lãi
và phải được hoàn trả
cho
người
gửi
tiền."
Tiền
gửi
là
nguồn
tiền
quan
trọng,
chiếm
tỷ
trọng
lớn
hiện
nhiều
hình
thức
huy động khác
nhau.
>
Tiền gửi
không kì hạn
Đây là
khoản
tiền
của
doanh
nghiệp,
tổ chức
xã
hội,
cá nhân
gửi
vào
ngân hàng để nhót ngân hàng
giữ
và
thanh
toán
hộ.
Nhìn
chung,
lãi
(thấu
chi-
chi
trội
trên
số
dư có
của tài khoản
tiền
gửi thanh
toán).
>
Tiền gửi
có kì hạn
Nhiều
khoản
thu
bằng
tiền
của
doanh
nghiệp, tổ
chức
xã
hội,
cá nhân sẽ
được
chi
trả
sau một
gửi
có kì hạn.
Người
gửi
không được sử
dụng
các hình
thức thanh
toán
đối với
tiền
gửi thanh
toán để áp
dụng
đối
vói
loại tiền
gửi
này. Họ
chỉ
được rút
tiền
vào
thời
điểm
đáo hạn
hoặc
yêu cầu ngân hàng cho rút trước hạn (trường hợp rút trước hạn,
khách hàng có
thể
hạn.
>
Tiền gửi
tiết
kiệm
Xét về bản
chất,
tiền
gửi
tiết
kiệm
là
tiền
gửi
có kỳ
hạn,
người
gửi
được
cấp
sổ
tiết
kiệm
để
chứng nhận
cho
việc
gửi
tiền,
đối
triển
thành
hai
loại
hình
tiết
kiệm:
tiền
gửi
tiết
kiệm không
kì
hạn
và
tiền
gửi
tiết
kiệm
có
kì
hạn. Khoản
tiền
gửi
tiết
kiệm
không kì hạn là
khoản
tiền
gửi
tiết
và
rút
tiền,
có mức
lãi
suất
cao hơn so
với
tiền
gửi
tiết
kiệm
không kì
hạn.
Hình
thức
tiền
gửi
này được ngân hàng
đa
dạng
hóa thành các
kì hạn
với
các
mức
lãi
suất
tương ứng khác
nhau,
doanh
cùa ngân hàng.
Mặc dù phạm
vi
sử
dịng nguồn
tiền
gửi
của các NHÍM bị hạn
chế
so
với
vốn
chủ
sở
hữu, song
nếu các ngân hàng sử
dịng
tốt
số vốn này thì
có
thể
không
ngừng
mở
rộng
quy
mô
hoạt
động và
vay trên
thị
trường
tiền tệ.
Nguồn đi vay
mặc dù
chỉ
chiếm
tỷ
trọng
nhỏ
trong
tổng
nguồn
vốn nhưng
nó đảm
bảo cho ngân hàng
hoạt
động liên
tịc,
thông
suốt.
Theo
đối
tượng
vay,
tiền
vay được
chia
thành ba
trả
khi
NHTM
thiếu
hụt
dự
trữ,
thiếu
khả năng
thanh
toán.
Đây
là
nguồn
vốn sau cùng cho các
NHTM để
tránh bị mất khả năng
thanh
toán,
dẫn
tới
bị
phá
sản.
Tuy
nhiên,
việc
vay Ngân hàng
nhà
nước phụ
có
nguồn
vốn
dồi
dào
với chi
phí
thấp.
Ngược
lại,
khi
Ngân hàng
Nhà
nước
muốn
thợt
chặt
cung
ứng
tiền
để
chống
lạm
phát thì
việc
vay mượn
từ
Ngân hàng Nhà nưóc là
rất
khó khăn và
ngợn
hạn
bổ
sung,
vay
để
thanh
toán và
vay tái
cấp
vốn.
'ĩ'
Vốn
vay ngắn hạn bổ
sung
Vốn
vay
ngợn
hạn bổ
sung
là hình
thức
các
NHTM
xin
vay Ngân hàng
Nhà nước
để bổ
sung
vốn
giữa
các ngân hàng
để bù
đợp
thiếu
hụt
tạm
thời
trong thanh
toán
(thời
hạn vay
loại
này thường
rất
ngợn).
•í*
Vay
tái
cấp vốn
Ngân hàng Nhà
nưốc
cho
NHTM
vay trên
cơ
sở
chứng
từ
có giá là các
gian
đáo hạn
ngợn,
khả năng
trả
nợ
cao
và phù hợp
với
mục
tiêu của
ngân hàng. Thường các
giấy tót
có giá của Chính phủ được
chấp
nhận
làm tài
sản thế
chấp
trong
vay
tái
cấp
vốn.
Tái
cấp vốn
bao
gồm
hai
hình
các
NHTM
được giói hạn
trong
hạn
mức
tái chiết
khấu
cấp cho mỗi
NHTM.
-
Cho
vay
có đảm
bảo:
là hình
thức
các
NHTM đem
các
giấy tờ
có giá
đến
Ngàn hàng Nhà nước để làm
đảm
bảo
xin
vay
vốn.
Ngân hàng Nhà nước
> Vay các
tổ
chức
túi
dụng
khác
Là
nguỷn
các ngân hàng vay các
tổ
chức
tín
dụng
khác trên
thị
trường
liên ngân hàng
do
trong
quá
trình
hoạt
động, xảy ra
nhiều
tình
huống
các
NHTM
thiếu
hụt
vay mượn
này
diễn
ra
khá
thường
xuyên nhưng thường
chỉ trong
một
thời
gian
ngắn,
thường là tính
theo
tuấn
hoặc
chỉ
trong
vài ngày
do
tính
chất
của các
khoản
vay
này
là đáp ứng
nhu
cầu
tức
gửi
có kỳ
hạn,
nên thường được
thể hiện
trên
bảng
cân
đối
kế toán là
tài
khoản
tiền
gửi của
các
tổ
chức
tín
dụng
khác.
Nguỷn
vốn đi vay
tuy chỉ
chiếm
tỷ trong nhỏ,
không
phải
là kênh
cung
cấp
> Vay khác
Bên
cạnh
các phương
thức
vay
trên,
các
NHTM
còn
có
thể
vay trên
thị
li
trường
tiền
tệ
và
thị
trường vốn
bằng
cách phát hành
chứng
chỉ
tiền
gửi,
kỳ
phiếu
và
trung
và dài
hạn.
Các
loại
giấy
nợ
trên được ngân hàng phát hành
theo đạt,
tùy
theo
nhu cớu
và có sự
chấp
thuận
của
Ngân hàng Nhà
nước.
4.
Các
nguồn
khác
Do quá trình
hoạt
động
cung
cấp các
sản
phẩm
dịch
tư,
ủy thác
giải
ngân,
thu
hộ
các
NHTM
cũng thu
hút
được
một lượng vốn đáng kể
trong
quá trình
thu
hoặc
chi
hộ khách
hàng,
làm
đại
lý cho các
tổ chức
tín
dụng
khác,
nhận
và
chuyển
vốn cho khách hàng hay
thực
hiện
các
dịch
vụ
này,
mạng
lưới
các NHTM
được sử
dụng
như là
kênh dẫn vốn
tới
các mục
tiêu.
Do
vậy,
vốn hình thành từ
nguồn
ủy
thác
thường
không
tốn nhiều
chi
phí
cho
ngân hàng.
> Nguồn
séc định
mức
và các
khoản
tiền
phong
tỏa
do ngân
hàng
chấp nhận
các
hối phiếu
thương
mại
Các
khoản
tiền
tạm
thời
được
coi
là
tiền
nhàn
rỗi
và được ngân hàng sử
dụng.
>
Tiền
khác
có ưu
điểm
là
chi
phí
gần
như
bằng
không.
Do
đó,
nếu
tận
dụng
tốt,
ngân hàng
có
thể tạo ra
đưởc
những
kết
quả
kinh
doanh
tích
cực.
n. HOẠT
ĐỘNG
HUY
ĐỘNG
động chính
và có
vai
trò
vô
cùng
to
lớn,
tạo
nền
tảng
đối với sự
phát
triển
của
các
hoạt
dộng
kinh
doanh
khác.
Ì,
Sự
cần
thiết
của
hoạt
động
huy
động vốn
-
xã
hội,
quốc
phòng
an
ninh,
đối ngoại, trong
đó
chủ yếu là
bỏ vào
sản
xuất
kinh
doanh
hàng
hóa,
dịch
vụ
nhằm
tạo ra
lởi
nhuận.
Với
đặc
thù
là
kinh
doanh
chủ yếu dựa trên đồng vốn
động
kinh
doanh
Ngân hàng không
có
vốn thì không
thể thực
hiện
đưởc
các
nghiệp
vụ
kinh
doanh.
Vốn
là điều
kiện
bắt
buộc
đối vối
các
NHTM để
đưởc phép
hoạt
động.
Ngay
từ
khi
bước vào
hoạt
tiện
kinh
doanh
chính
mà
còn là
đối
tưởng
kinh
doanh
chủ yếu của
NHTM.
Do
đó, khi
tiến
hành
hoạt
động
kinh
doanh,
ngân hàng không
thể chỉ
dựa
vào
nguồn
vốn ban
đầu,
mà
phải
thực
thế
mạnh
trong
cạnh
tranh,
đáp ứng yêu cầu
của
khách hàng
tốt
hơn,
và dễ dàng xâm
nhập
thị
trường hơn.
Vốn
nhỏ sẽ
khiến
ngân hàng dè
dỳt,
không dấm
mạnh
dạn đầu tư vào
những
lĩnh
vực mới hay
lĩnh
vực
tiềm
ẩn
nhiều
trong
suốt
quá trình
tồn
tại
và
phát
triển
của
mình.
> Vốn
quyết
định quy mô của ngân hàng
trong
hoạt
động tín
dụng
và
các
hoạt
động khác
Vốn
của ngân hàng có tính
chất quyết
định đến
việc
mở
rộng
hay
thu
cũng
nhỏ
hơn.
Trong
khi
đó,
các
ngân hàng
lớn
dễ dàng mở
rộng
phạm
vi
cho
vay,
không
chỉ
trên
địa
bàn nhỏ
hẹp
mà còn
hướng
ra
khu vực và
quốc
tế.
Thêm vào
đó,
do khả năng vốn hạn
nguồn
vốn
lớn,
các ngân hàng dễ dàng
hơn
trong
việc
chủ động
quyết
định kỳ
hạn,
lãi
suất,
thòi hạn của các
khoản
mục cho vay và đầu
tư,
phạm
vi
và
khối
lượng
cũng
được nâng cao hơn.
> Vốn
quyết
định năng
lực
thanh
toán và đảm bảo uy tín của ngân
nhu cầu rút
14
tiền
của khách hàng. Vì
thế
năng
lực
thanh
toán cao là yếu
tố
các ngân hàng
cần phải
đảm bảo và luôn được chú
trọng.
Vốn khả
dụng
của ngân hàng càng
cao thì khả
năng
thanh
toán
chi trả
của
ngân hàng càng
lớn.
Do
đó,
loại
trừ
các
đòi
hỏi
các ngân hàng
phải
có uy tín
lớn
trên
thị
trường.
Độ được
coi
là có uy tín trên
thị
trường,
các ngân hàng
phải
đáp ứng
tốt
nhất
và
tức
thời
các yêu câu của khách
hàng,
trong
đó
quan
trọng
nhất
là nhu cầu
và có
thộ
gây
ra
khủng hoảng
trên
thị
trường
tài
chính.
> Vốn
quyết
đinh năng
lực
cạnh
tranh
của
ngân hàng
Trong
nền
kinh
tế
thị
trường
hiện đại, kinh
doanh
ngân hàng đang là
một
lĩnh
vực có
Do
đó,
độ có
thộ thu
hút khách
hàng,
ngân hàng
phải
có
một
tiềm lực
tài
chính
mạnh
và ổn
định.
Khả năng vốn
lớn
là
điều
kiện
độ các
ngân hàng mở
rộng
quan
hệ tín
dụng
với tất
cả các
tổ
giúp các ngân hàng đa
dạng
hóa
danh
mục dầu
tư,
mở
rộng
dịch
vụ,
thành
lập
các công
ty
thành
viên,
liên
kết
Một
danh
mục đa
dạng
như
vậy
sẽ làm tăng
thu
cho ngân hàng, phân tán
rủi ro,
nâng cao
hiệu
các ngân hàng
phải
nâng cao
hoạt
động
huy động
vốn của
mình kể cả về
số
lượng
lẫn chất
lượng.
2.
Các hình
thức
huy
động
vốn
Trong
nền
kinh
tế
mở
cửa
hội
nhập
hiện
nay,
để
thu
thức
huy động vốn thành các
loại
khác
nhau.
2.1.
Theo
đối
tượng
huy
động
> Huy động
vốn
từ
dân cư
Trong
nền
kinh
tế phất
triển,
đời sống
dân cư được nâng cao thì ngoài
khoản
tiền
tiêu
dùng,
các
tầng lớp
dân cư đều có các
khoản thu nhập
lợi
nhuận
cao nhưng
lại
tiềm
ần
nhiều
rủi
ro
lớn.
Do đó,
trong
đại
bộ
phận
dân chúng thì đều
chọn
hình
thức
gửi
tiền
tiết
kiệm
vào ngân hàng vừa được đảm bảo an toàn, vừa có
thể
thu
được một
khoản
lợi
tức nhất
toán,
sử
dụng
các
dịch
vụ của ngân hàng. Bên
cạnh đó,
còn nhằm
mục đích
sinh
lời
đối với
khoản
tiền
nhàn
rỗi
chưa
cần
sử
dụng.
Đối
với
mục đích
gửi
tiền
dể hưởng các
dịch
vụ
thanh
toán,
nghiệp
là
rất
lớn
nên hình
thức
huy động
vốn
này
chiếm
một
tỉ
trọng
khá
lớn
trong
nguồn vốn của
ngân hàng.
16
> Huy động
vốn từ
các
tổ
chức
tín
dụng
Trên
thị
trường liên ngân
hàng,
các ngân hàng khác
rất
ngắn,
tính
theo
ngày,
điểu
này
làm
cho
nguồn
vốn không ổn
định,
chỉ
nhằm
mục
đích sử
dụng
vào
các
tình
huống
cấp bách.
Do
vậy, khi
không
thực
sự gặp vấn
đề
về
mà
người
gửi
có
thể
rút
ra
sử
dụng
bất
cứ lúc nào
và
ngân hàng
phải thỏa
mãn yêu cẩu
đó
cửa khách hàng.
Tiền gửi
không kỳ hạn
có lãi
suất thấp
hoặc
không được
trả
lãi. Tiền gửi
không kỳ hạn còn được
gọi
là
tiền
gửi thanh
hàng,
tiền
gửi
không kì hạn là một
khoản
nợ
mà
ngân hàng luôn
phải
sần sàng
trả
cho khách hàng
vào
bất
cứ
lúc nào.
Tuy
nhiên vì đây là một
nguồn
vốn
lớn
và có
chi
phí
thấp,
NHTM
có
ưu
thế
trong
hạn rút
tiền.
Loại
tiền
gửi
này
cửa
các
doanh
nghiệp, tổ
chức
kinh
tế,
cá
nhân,
có
nguồn
gốc
từ
tích
lũy
và
xét về bản
chất
chúng được
ký
thác
với
mục
đích
tiền
gửi
không kỳ
hạn.
Đối
tượng
gửi
tiền
có kì hạn thường là các
doanh
nghiệp, tổ
chức
có các
khoản
tiền
nhàn
rỗi
trong
một
thời
hạn
nhất
định.
Việc gửi
tiền
vào ngân hàng
và
hưởng
lãi
suất
khoản
tiền
gửi
tiết kiệm,
được xác nhận
trên
thẻ
tiết kiệm,
được hưởng
lãi
theo
quy định của
tổ
chức nhận
tiền
gửi
tiết
kiệm và được bảo hiểm
theo
quy
định
của pháp
luật
về bảo hiểm
tiền
gửi".
Đây là một
phần
thu
nhập
trừ
người
gửi
tiền
đề
nghị
trích
tài khoản
tiền
gửi
tiết
kiệm
để
trả
nợ vay hay
chuyển
sang
một
tài khoản
khác của chính chủ tài
khoản.
Đặc
điểm
của
tiền
gửi
tiết
kiệm
là khách hàng sẽ được cấp một sổ
tiết
gửi
tiết
kiệm
được phát
triển
thành
hai
loại
là
tiền
gửi
tiết
kiệm
không kỳ hạn và
tiền
gửi
tiết
kiệm
có kỳ hạn.
-
Tiền
gửi
tiết
kiệm
không kỳ hạn là
tiền
gửi
tiết
kiệm
mà
kiệm
mà
người
gửi
tiền
được
rút
tiền
sau một kỳ hạn
nhất
định
theo thỏa thuận với
tổ chức
nhận
tiền
18