Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương chi nhánh Hoàng Mai - Pdf 88

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây hoạt động trên thị trường tài chính diễn ra
rất sôi động, vì vậy vai trò của Ngân Hàng Thương mại vô cùng quan trọng.
thời gian vừa qua tôi có thực tập tại Ngân Hàng thương mại cổ phần công
thương chi nhánh Hoàng Mai, thấy được những đòi hỏi cần thiết của một
doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tài chính tiền tệ, cụ thể là hoạt động dẫn
vốn từ những người có vốn nhàn rỗi đến người có nhu cầu vốn để sản xuất
kinh doanh. Việc cho người, doanh nghiệp nào vay vốn thì yêu cầu đầu tiên
của doanh nghiệp đó phải chứng minh được rằng họ có đủ khả năng trả đủ
gốc lẫn lãi cho ngân hàng cho họ vay vốn đúng thời hạn. Vì vậy hoạt động
thẩm định cho vay vốn đối với dự án hay cho vay vốn trung và dài hạn là hoạt
động không thể thiếu trong một loạt hoạt động phong phú đa dạng của ngân
hàng. Do tính cấp thiết như vậy tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nâng cao
hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần
Công Thương chi nhánh Hoàng Mai”.
Đề tài thực tập tốt nghiệp của tôi được chia làm 3 chương như sau:
Chương I : Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thương
mại cổ phần công thương việt nam.
Chương II: Thực trạng về hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng
thương mại cổ phần công thương chi nhánh hoàng mai.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại
ngân hàng thương mại cổ phần công thương chi nhánh hoàng mai.
1
CHƯƠNG I
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGAN HÀNG
THƯƠNG MẠI, MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân Hàng Thương mại
1.1.1 khái niệm về NHTM
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền

vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình. Công ty tài chính thì
hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn sở hữu của mình, nếu thiếu các công ty tài
chính có thể vay trên thị trường các công ty cổ phần, muốn tăng nguồn vốn
huy động của mình thì có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Không có
một định chế tài chính nào ngoài Ngân hàng thương mại có thể nhận tiền gửi
từ các tổ chức cá nhân và các tổ chức trong nền kinh tế.
Khách hàng của Ngân hàng thương mại là những người đóng vai trò hai
mặt đối với Ngân hàng. Thứ nhất, họ là những người cung cấp các điều kiện
để Ngân hàng hoạt động. Họ là những người tạo nguồn vốn cho Ngân hàng.
Thứ hai, họ là những khách hàng sử dụng các sản phẩm của Ngân hàng, như
cho đi vay, sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng. Phần lớn, những khách hàng
này, lại sử dụng chính những đồng tiền mà họ đã gửi vào. Vì vậy, khách hàng
chính là những người cung cấp đầu vào cho Ngân hàng và họ cũng chính là
người sử dụng sản phẩm đầu ra của Ngân hàng
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại
Ngay từ xa xưa người ta đã biết dùng tiền làm phương tiện thanh toán, làm
trung gian trao đổi hàng hoá. Thông qua tiền, việc trao đổi hàng hoá được tiến
3
hành một cách thuận lợi, dễ dàng hơn nhiều. Chính vì thế đã kích thích sản
xuất, đưa xã hội loài người ngày càng phát triển.
Xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của tiền tệ ngày càng đươc phát
huy.Thương mại phát triển, một tầng lớp thương nhân giàu có ra đời và họ
cần có những nơi an toàn để gửi tiền . Những người nhận tiền gửi chủ yếu là
chủ tiệm vàng, họ nhận thấy: luôn có một lượng lớn tiền và vàng nhàn rỗi do
tiền và vàng người ta gửi vào luôn nhiều hơn tiền rút ra. Mặt khác lại luôn tồn
tại nhu cầu vay mượn để chi tiêu, đầu tư kinh doanh. Và những người giữ hộ
tài sản nghĩ đến việc sử dụng số tiền nhàn rỗi đó để cho vay kiếm lời. Và thay
vì thu phí giữ hộ người ta trả một khoản lãi cho người có tài sản đem gửi. Bên
cạnh đó người giữ hộ tiền cũng cho vay để thanh toán cho một người nào đó
bằng cách ghi nợ cho người vay tiền và ghi tăng tài sản cho người được thanh

qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh
nghiệp với thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh
nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt
của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó
tạo cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
1.1.3.3 NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ để nhà
nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua hoạt dộng thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM
đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Thông qua
5
việc cấp tín dụng cho nền kinh tế NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn
tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách
hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ quan
khác, Ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước
điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế.
Khi nhà nước muốn phát triển một nghành hay một vùng kinh tế nào
đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các
NHTM luôn được sử dụng bằng cách NHNN yêu cầu các NHTM thực hiện
chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như : giảm lãi suất, kéo dài thời
hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống NHTM Nhà nước cấp vốn
ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định.Khi nền kinh tế tăng trưởng quá mức nhà
nước thông qua NHTƯ thực hiện chính sách tiền tệ như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc để giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền
kinh tế để nền kinh tế phát triển ổn định vững chắc.
Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM thườmg đạt
hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được nhà nước sử dụng.
1.1.4 Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.4.1 Hoạt động huy động vốn.
Ngân hàng kinh doanh ngoại tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư

nhất mà Ngân hàng phải thực hiện là sử dụng các khoản tiền gửi có thời hạn
rất khác nhau để cho vay những món có thời hạn xác định,vì thế mà Ngân
hàng phải quản lí tốt thời hạn của các nguồn vốn của mình thì mới duy trì
được hoạt động có hiệu quả, tránh được những rủi ro về khả năng thanh toán.
Việc tập hợp được những nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng để đưa vào
7
kinh doanh đã góp phần tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nền
kinh tế. Ngoài ra hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng cũng góp phần tiết
kiệm chi phí lưu thông tiền tệ. Đặc biệt trong nền kinh tế phát triển nếu dân
chúng có thói quen gửi tiền vào Ngân hàng để sử dụng các dịch vụ của Ngân
hàng thì điều này sẽ góp phần giúp chính phủ quản lí được thu nhập của
người dân.
Một trong những nguồn vốn không kém phần quan trọng, là nguồn vốn
phát hành kì phiếu, trái phiếu. Việc phát hành kì phiếu hay trái phiếu phụ
thuộc vào quy mô vốn cần huy động , thời gian huy động vốn, cơ cấu nợ và
tài sản của Ngân hàng.
Các hoạt động huy động nguồn vốn trên đây hình thành nên tài sản nợ
của Ngân hàng và Ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các
nguồn vốn huy động được theo yêu cầu của khách hàng. Quy mô và cơ cấu
nguồn vốn quyết định đến hoạt động của Ngân hàng. Do đó quản lí nguồn
vốn phù hợp và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề mang tính chiến lược
đối với mỗi Ngân hàng
1.1.4.2 Hoạt động sử dụng vốn
Khi đã huy động được vốn rồi, nắm trong tay một số tiền nhất định thì
các Ngân hàng thương mại phải làm như thế nào để hiệu quả hoá những
nguồn này, nghĩa là tìm cách để những khoản tiền đó được đầu tư đúng nơi,
đúng chỗ, có hiệu quả, an toàn, đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Và
hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng bằng những cách sau: Ngân hàng đã
tài trợ lại cho nền kinh tế dưới dạng các thành phần kinh tế vay, hoặc Ngân
hàng đầu tư trực tiếp, Ngân hàng tham gia góp vốn cùng kinh doanh hay cho

và tỷ trọng nhỏ hơn trong mục tài sản sinh lời của Ngân hàng thương mại.
9
Phải sang đến những năm đầu thế kỷ XIX các Ngân hàng thương mại mới
quan tâm mở rộng hoạt động của mình sang lĩnh vực đầu tư vào các ngành
công nghiệp. So với hoạt động cho vay hoạt động đầu tư đem lại thu nhập cao
hơn nhưng rủi ro cao hơn do thu nhập từ hoạt động đầu tư không được xác
định trước vì phải phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mà
Ngân hàng đầu tư vào. Ngoài ra thì trong hoạt động đầu tư , Ngân hàng được
lựa chọn doanh mục đầu tư có lợi nhất cho mình.
Bên cạnh hoạt động cho vay và đầu tư, Ngân hàng có thể tham gia vào
thị trường chứng khoán tuỳ quy định của từng quốc gia. Ngân hàng thương
mại có thể tham gia như một người cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng
khoán hay đóng vai trò là nhà đầu tư, mua bán chứng khoán vì mục tiêu kiếm
lời cho chính Ngân hàng. Hoặc thực hiện kinh doanh chứng khoán thông qua
uỷ thác của khách hàng.
1.1.4.3 Ngân hàng thực hiện các dịch vụ tài chính trung gian
Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn và hoạt động sử
dụng vốn thì Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các dịch vụ trung gian
cho khách hàng của mình. Các dịch vụ này được coi là hoạt động trung gian
bởi vì khi thực hiện các hoạt động này Ngân hàng không đứng vai trò là con
nợ hay chủ nợ mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn nhu cầu khách hàng về
dịch vụ mà khách hàng cần.
Ngày nay, các dịch vụ của Ngân hàng không ngừng phát triển cả về số
lượng và chất lượng, các dịch vụ ngày càng đa dạng. Hoạt động trung gian
gồm rất nhiều loại dịch vụ khác nhau: như dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách
hàng có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản
này từ tài khoản này đến tài khoản khác ở cùng một Ngân hàng hay ở hai
Ngân hàng khác nhau; dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính,
dich vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá dịch vụ chi lương cho các doanh
10

động và tạo lập để đầu tư cho vay và đá ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Thực chất nguồn vốn của các NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân
tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng mà khách hàng
gửi vào Ngân hàng với các mục đích khác nhau. Nói cách khác khách hàng
chuyển quyền sử dụng tiền tệ cho ngân hàng và Ngân hàng trả cho khách hàng
một khoản lãi và Ngân hàng đã thưc hiện vai trò tập trung và phân phối vốn làm
tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế, phục vụ và kích thích
mọi hoạt động kinh tế phát triển đồng thời chính các hoạt động đó lại quyết định
đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
b) Vai trò của vốn:
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ doanh nghiệp nào muốn sản xuất
kinh doanh cũng cần có vốn, vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của
doanh nghiệp. Đối với NHTM vốn là đói tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ
sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu vốn NHTM
không thể thực hiện các hoạt động kinh doanh. Vì thế những ngân hàng có
vốn lớn sẽ có thế mạnh trong kinh doanh. Vốn là điểm xuất phát đầu tiên
trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Ngoài vai trò là cơ sở để ngân hàng tổ chức các hoạt động kinh doanh,
vốn còn quyết định đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng và các
hoạt động khác của NHTM. Vốn tự có của ngân hàng ngoài viẹc sử dùng để
mua sắm TSCĐ, trang thiết bị, góp vốn liên doanh...Vốn tự có của ngân hàng
12
là căn cứ để giới hạn các hoạt động kinh doanh tiền tệ bao gồm cả hoạt động
tín dụng. Việc quy định tỷ lệ cho vay, tỷ lệ huy động vốn trên vốn tự có của
NHTƯ thể hiện vai trò quản lý, điều tiết thị trường của nhà nước, để đảm bảo
an toàn hệ thống ngân hàng và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người
gửi tiền.
Qua những quy định của NHTƯ đối với NHTM ta thấy vốn tự có quyết
định đến khả năng cấp tín dụng, huy động vốn của NHTM vì thế những

cho đầu tư phát triển , đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn, bởi đây là
nguồn vốn sử dụng cho đầu tư lâu dài và khả năng luân chuyển vốn lớn.
Với mục tiêu từ nay đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp, vì vậy tập trung mọi nguồn lực, phát huy nội lực, thực hiện tích
lũy cho đầu tư là vấn đề cấp thiết được đặt ra. Đây không chỉ là vấn đề của
riêng nước ta mà theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới khi bước vào
giai đoạn đầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì không nước nào lại
không ở tình trạng thiếu vốn đầu tư. Thực tế, tốc độ công nghiệp hoá- hiện đại
hoá của mỗi nước phụ thuộc vào mức độ, cách thức tạo vốn khả dụng của
chính nước đó. Vì thế, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể, mỗi quốc gia tự tìm cho
mình biện pháp phù hợp để có thể huy động vốn và sử dụng vốn một cách
hiệu quả nhất, phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế và xây dựng cơ sở vật chất
hạ tầng cơ sở. Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta có lợi thế
của một nước đi sau trong việc tạo vốn để giải quyết có hiệu quả các vấn đề
kinh tế xã hội, công nghệ kỹ thuật, môi trường sinh thái kế thừa từ các nước
công nghiệp đã phát triển… Chính vì vậy chúng ta phải tranh thủ thời cơ và
tiến hành công cuộc đó một cách nhanh chóng và vững chắc.
14
Nhận định, phân tích một cách chính xác tình tình trong và ngoài nước,
lựa chọn khéo léo cách thức tạo vốn tối ưu cho nền kinh tế "mở" đang tăng
trưởng tích cực ở nước ta. Vì thế cần xác định rõ ràng nguyên nhân của các
hạn chế và thành công trong quá trình tạo vốn cho công nghiệp hoá- hiện đại
hoá ở một số nước không nằm trong việc sử dụng nguồn vốn nào mà chính
việc chọn mô hình tăng trưởng kinh tế và hoạch định thực thi các chính sách
kinh tế vĩ mô trong đó có chiến lược huy động vốn và sử dụng vốn mà nước
đó theo đuổi.
Hơn bao giờ hết, nhiệm vụ tạo vốn phục vụ cho công nghiệp hoá- hiện đại
hoá đất nước đang là thách thức rất lớn đối với tất cả các ngành, các cấp trong
đó có ngành ngân hàng. Khó khăn đối với nền kinh tế nước ta hiện nay là
ngân sách Nhà nước vẫn còn bị thâm hụt, thị trường tiền tệ phát triển chậm

Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để
mở rộng qui mô hoạt động , hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng
nhu cầu tăng vốn của chủ ngân hàng theo nhà nước quy định… đặc điểm của
hình thức huy động này là không thường xuyên, song giúp cho ngân hàng có
được vốn sở hữu lớn hơn vào lúc cần thiêt.
1.2.2.2 Huy động vốn nợ.
Tỷ trọng của loại nguồn này trong tổng nguồn thường thấp hơn nguồn
tiền gửi, trừ một số ngân hàng chuyên hoạt động bán buôn. Các khoản đi vay
thường là với thời hạn và quy mô xác định trước, do vậy tạo thành nguồn ổn
định cho ngân hàng. Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải
đi vay thường xuyên: ngân hàng chi đi vay lúc cần thiết; ngân hàng hoàn toàn
16
chủ động quyết định khối lượng vay cho phù hợp với nhu cầu sử dụng. Nguồn
vay có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên,
do rủi ro lớn hơn nên lãi suất phải trả cho tiền vay lớn thường lớn hơn lãi suất
phải trả cho tiền gửi cùng kỳ hạn. Các khoản vay ngân hàng nhà nước và vay
ngân hàng khác tuy lãi suất thấp song thường có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm
bảo thanh toán tức thời cho ngân hàng. Việc cho vay của ngân hàng nhà nước
phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ mà ngân hàng nhà nước theo đuổi
trong từng thời kỳ.
Vay thông qua phát hành các giấy nợ trung và dài hạn đóng vai trò
quan trọng trong việc tạo và gia tăng các nguồn trung và dài hạn ổn định cao
cho ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng nguồn này để cho vay các dự án,
tài trợ cho trang thiết bị và bất động sản của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất là thu nhập của dân cư và ổn định vĩ
mô, sau đến là các kỹ thuật nghiệp vụ của ngân hàng nhằm tạo tính thanh
khoản của các giấy nợ và thuận tiện đối với người cho vay. Mặc dù lãi suât
thường cao hơn các nguồn khác, song ngân hàng vẫn phải sử dụng phát hành
giấy nợ trung và dài hạn khi tiền gửi không đáp ứng được những yêu cầu như
ổn định, quy mô đủ lớn trong thời gian xác định.

Đây là nguồn vốn mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích sinh
lời là chủ yếu và ngân hàng phải trả lãi cao hơn hơn tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là nguồn vốn có tính ổn định rất cao nhưng thường có thời hạn ngắn vì
đây là những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và nguồn vốn này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng.
18
1.2.2.5 Huy động qua tiền gửi của các hộ gia đình
a)Tiền gửi không kỳ hạn: Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục
đích an toàn là chủ yếu và hưởng các dịch vụ của ngân hàng. Đối với nguồn
vốn này chi phí trả lãi ngân hàng bỏ ra không đáng kể nhưng chi phí trả lãi rất
cao. ở các nước phát triển thì tỷ trọng nguồn vốn này rất cao nhưng các nước
đang phát triển thì tỷ trọng này lại rất thấp do người dân chưa có thói quen sử
dụng các dịch vụ của ngân hàng. Nguồn vốn từ tiền gửi không kỳ hạn của cá
nhân, hộ gia đình có tính ổn thấp do nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia
đình không ổn định, khi cần khách hàng có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào do đó
ngân hàng phải chuẩn bị sẵn một khoản tiền để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng.
b)tiền gửi có kỳ hạn: Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích
sinh lời là chủ yếu. Tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân và hộ gia đình chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động và là nguồn vốn chủ yếu để ngân
hàng cho vay. Nguồn vốn này có tính ổn định cao nhất và ngân hàng phải trả
lãi rất cao cho nguồn vốn này.
1.2.2.6 Các Quỹ
Ngân hàng có nhiều các quỹ khác nhau, mỗi quỹ được sử dụng vào những
mục đích nhất định tùy thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng. Các
quỹ của ngân hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng. Nguồn hình thành các
quỹ này là từ thu nhập của ngân hàng. Các quỹ của ngân hàng bao gồm:
- Quỹ bổ sung vốn điều lệ: có mục đích tăng cường số vốn tự có ban
đầu.

mại nhằm vào các đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng
các cá nhân tổ chức tài chính khác trong lĩnh vực công thương.
Trong năm 2008, Vietinbank hoàn thiện dự án nâng cấp hạ tầng, dữ
liệu thông tin phục vụ cho kinh doanh, quản trị điều hành theo tiêu chuẩn
quốc tê. Cũng đầu trong năm này Vietinbank mở thêm nữa các chi nhánh
khắp 3 miền, mở rộng kết nối hệ thống thẻ của ngân hàng.
Qua 5 lần tăng vốn điều lệ, hiện nay ngân hàng thương mại cổ phần
công thương đã có số vốn điều lệ hơn 63000 tỷ VND, tới nay qua hơn 20 năm
21
hoạt động, Vietinbank đã có mạng lưới ngày càng mở rộng, và là ngân hàng 8
năm liên tục được NHNN xếp loại A, và được công nhận là ngân hàng phát
triển toàn diện với hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả. Vietinbank luôn
giữ vững niềm tin khách hàng bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ và phong
cách nhiệt tình, chuyên nghiệp của nhân viên.
2.1.2 chức năng, nhiệm vụ
- phương châm hoạt động.
Vietinbank cung cấp một cách toàn diện các gói sản phẩm và dịch vụ
của NH có chất lượng cao, sáng tạo và đáp ứng nhu cầu và mong muốn của
từng đối tượng khách hàng với tính chuyên nghiệp cao.
- chức năng.
Để tạo ra niềm tin và giá trị cho khách hàng, Vietinbank đặt mục tiêu
cung ứng một cách toàn diện các sản phẩm và dịch vụ NH chất lượng cao,
sáng tạo và hữu ích nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu và mong muốn của từng đối
tượng khách hàng mục tiêu theo những phân khúc mà Vietinbank hướng tới
tại từng thời điểm qua các kênh cung ứng ngày càng hoàn thiện.
- nhiệm vụ:
NH được thành lập để tiến hành các hoạt động NH bao gồm: nhận tiền
gửi ngắn hạn, trung hạn, dài hạn từ các tổ chức và cá nhân, cho vay ngắn hạn,
trung hạn, dài hạn các tổ chức và cá nhân tùy theo tính chất và khả năng
nhiệm vụ của NH; thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, chiết khấu

Tổng Giám đốc điều hành chịu sự kiểm tra giám sát của Hội đồng quản
trị có chức năng nhiệm vụ là điều hành mọi hoạt động của NH và quản lý rủi
ro thị trường và thanh khoản, nguồn vốn và chiến lược-hợp tác -marketting.
Dưới Tổng giám đốc điều hành có 4 Phó tổng giám đốc: Phó tổng giám
đốc phụ trách mảng kiểm tra xét duyệt tín dụng, Phó tổng giám đốc phụ trách
mảng dịch vụ NHDN và phát triển kinh doanh, Phó tổng giám đốc phụ trách
dịch vụ NH cá nhân, Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính và cung ứng dịch
vụ. Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính và cung ứng dịch vụ còn quản lý
rủi ro hoạt động. Ba Phó tổng giám đốc còn lại thì quản lý rủi ro tín dụng.
Dưới Ban điều hành còn một loạt các phòng ban chức năng hỗ trợ quản
lý và kiểm toán nội bộ:
+ Văn phòng: hỗ trợ Ban điều hành trong quản lý.
+ Phòng thanh tra kiểm toán nội bộ: kiểm soát nội bộ
+ Phòng tài chính kế toán: quản lý, ghi chép tình hình tài chính của NH
+ Phòng đầu tư: phụ trách mảng đầu tư của NH.
+ Phòng phát triển kinh doanh: quản lý cả quá trình trước, trong và sau
khi cho khách hàng vay vốn
24
+ Phòng thanh toán quôc tế: mở L/C, bảo lãnh...
+ Phòng nghiệp vụ, ngoại hối, ngân hàng: kinh doanh ngoại tệ, đầu tư
vào thị trường liên ngân hàng và nghiệp vụ thị trường mở.
- Nguồn nhân lực:
Với tốc độ phát triển hoạt động ngành NH và sự cạnh tranh ngày càng
cao trên thị trường lao động khi Việt Nam gia nhập WTO, công tác phát triển
nguồn nhân lực giữ một vai trò quan trọng trong định hướng chiến lược của
bất kỳ NH nào. Năm 2008 đánh dấu một mốc son trong quá trình phát triển
của Vietinbank với những thành công rực rỡ không chỉ ở việc mở rộng quy
mô nguồn nhân lực cả về chất và về lượng.
Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành luôn coi trọng đội ngũ cán bộ nhân
viên và coi họ là tài sản quý giá nhất mà Vietinbank luôn quan tâm hàng đầu,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status