1
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIỆM THU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Nghiên cứu thực trạng công tác y tế trường học ở Việt nam
hiện nay và đề xuất mô hình quản lý phù hợp
8992
Chủ nhiệm đề tài: TS. Chu Văn Thăng
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y Hà Nội
Mã số đề tài: 4113-QĐ/BYT
Năm 2009
2
Năm 2009
3 Báo cáo kết quả nghiệm thu đề tài cấp Bộ
1. Tên đề tài: Nghiên cứu thực trạng công tác y tế trường học ở Việt nam
hiện nay và đề xuất mô hình quản lý phù hợp
2. Chủ nhiệm đề tài:
TS. Chu Văn Thăng- Bộ môn Sức khỏe Môi trường- Trường ĐHYHN
1. Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y Hà Nội
2. Cơ quan quản lý đề
tài: Bộ Y tế
3. Thư ký đề tài:
ThS. Lê thị Thanh Xuân- Bộ môn Sức khỏe Môi trường- Trường ĐHYHN
4. Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có):
5. Danh sách những người thực hiện chính: là cán bộ của Bộ môn Sức
khỏe Môi trường, Trường Đại Học Y Hà Nội, bao gồm
• TS. Chu Văn Thăng
• TS. Vũ Diễn
• PGS. TS. Ngô Vă
n Toàn
• ThS. Lê thị Thanh Xuân
• CN. Đặng Ngọc Lan
• ThS. BSCKII. Lê thị Kim Thoa
• ThS. Trần Minh Hải
• ThS. Trần Quỳnh Anh
• CN. Hoàng thị Thu Hà
• ThS. Lê thị Hoàn
• ThS. Trần thị Thoa
VS Vệ sinh
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
VSMT Vệ sinh môi trường
WHO Tổ chức y tế thế giới
YTDP Y tế dự phòng
YTTH Y tế trường học
5
Mục lục
Những chữ viết tắt 4
Mục lục 5
Danh mục bảng 7
Danh mục hình 8
Đặt vấn đề 9
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12
1.1. Tổng quan về y tế trường học 12
1.1.1. Khái niệm về y tế trường học 12
1.1.2. Các cơ sở xây dựng trường học nâng cao sức khỏe ở Việt Nam [8,9,71] 15
1.1.3. Các văn bản pháp lý về y tế trường học tại Việt Nam 16
1.2 Lịch sử phát triển y tế trường học 19
1.3. Các nghiên cứu trên thế giới về y tế trường học 21
1.3.1. Các nghiên cứu về thực trạng y tế trường học 21
1.3.2. Các nghiên cứu về mô hình YTTH 22
1.3. Các nghiên cứu tại Việt Nam về y tế trường học 27
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1. Cách tiếp cận: 33
2.2. Thiết kế nghiên cứu: 33
2.3. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 33
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu: 33
3.3.3. Đề xuất mô hình quản lý công tác YTTH 68
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 71
4.1. Hoạt động y tế trường học 71
4.2. Những khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện công tác y tế trường học 80
4.2.1. Nguồn tài chính hạn hẹp: 80
4.2.2. Nguồn nhân lực thiếu và không chuyên: 80
4.2.3. Trang thiết bị, cơ sở vật chất: 82
4.2.4. Cơ chế chính sách: 82
4.2.5. Công tác BHYT học sinh: 83
4.3. Cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác YTTH: 85
4.5. Bàn luận về phương pháp nghiên cứu 89
KẾT LUẬN 90
1. Thực trạng về tổ chức quản lý và hoạt động y tế trường học trong các trường phổ
thông hiện nay 90
1.1. Điều kiện pháp lý: 90
1.2. Điều kiện thực hiện: 90
1.3. Người thực hiện: 90
1.4. Các hoạt động đã thực hiện: 90
2. Cơ chế phối hợp liên ngành trong việc triển khai các hoạt động y tế trường học hiện
nay 91
3. Mô hình quản lý công tác y tế trường học phù hợp ở Việt nam: 91
KHUYẾN NGHỊ 92
Tài liệu tham khảo 93
7
Bảng 3.14. Văn bản hướng dẫn cơ chế phối hợp hoạt động YTTH cấp huyện năm học 2007
– 2008 63
Bảng 3.15:Đề xuất của cán bộ YTTH về các hoạt động YTTH 66
Bảng 3.16: Đề xuất mô hình quản lý công tác YTTH 69
Bảng 4.1: So sánh giữa 4 nội dung của trường học nâng cao sức khỏe và thực tế triển khai
72
8
Danh mục hình
Hình 3.1: Phân bố loại cán bộ YTTH nghiên cứu 47
Hình 3.2: Phân bố trình độ cán bộ y tế trường học 48
Hình 3.3: Tỷ lệ % cán bộ YTTH và giáo viên được tập huấn về YTTH trong 5
năm qua 51
Hình 3.4: Tỷ lệ % các hoạt động YTTH mà cán bộ YTTH thực hiện 53
Hình 3.5: Khả năng thực hiện các hoạt động YTTH của cán bộ YTTH 54
Hình 3.6: Kiến thức của học sinh về khái niệm và nguyên nhân gây cận thị. 55
Hình 3.7: Tỷ
lệ % học sinh thực hành cách phòng chống cận thị 56
Hình 3.8: Tỷ lệ % học sinh thực hành hoạt động YTTH 56
Hình 3.9: Tình hình ốm đau của học sinh trong 2 tuần qua 57
Hình 3.10: Tình hình ốm đau của học sinh trong 2 tuần qua 58
9
Đặt vấn đề
ng
cũng chỉ đạt khoảng 50% yêu cầu, công tác khám sức khoẻ định kỳ, quản lý
hồ sơ sức khoẻ hầu hết chưa thực hiện theo quy định. Toàn quốc chưa có số
liệu chính thức về các bệnh trường học như cận thị và cong vẹo cột sống ở
học sinh [11, 71,78]
Có nhiều khó khăn, tồn tại trong việc thực hiện hoạt động YTTH chư
a
được giải quyết như vấn đề đội ngũ cán bộ y tế trường học, kinh phí cho hoạt
động y tế trường học, trách nhiệm của mỗi ngành (Y tế và Giáo dục) chưa
được xác định rõ ràng, vấn đề bảo hiểm y tế học sinh chưa được cha mẹ học
sinh và các nhà trường quan tâm, cơ sở vật chất nhà trường nói chung và cơ
sở vật chất cho y tế trường học còn rất nghèo nàn. Nh
ững vấn đề này đã và
10
đang là trở ngại cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả y tế trường học của
từng địa phương và cả nước [7, 11, 42, 69, 71, 78, 79].
Theo tài liệu sổ tay thực hành Y tế trường học của Bộ Y tế năm 2002
[40], y tế trường học gồm 5 nội dung là vệ sinh học đường, phòng chống các
bệnh truyền nhiễm, phòng chống các bệnh thường gặp khác, nha học đường
(chăm sóc vệ sinh răng mi
ệng) và sơ cấp cứu ban đầu cho học sinh. Tuy nhiên
việc thực hiện các nội dung này ở các trường học hiện nay còn chưa đồng
nhất và nhiều bất cập [71]. Cho đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu về sức
khỏe trường học, vệ sinh trường học của các tác giả như Trần Văn Dần [21-
26], Nguyễn Võ Kỳ Anh [1-2] nhưng nghiên cứu về các hoạt động YTTH cụ
th
ể, những khó khăn trong quá trình triển khai thì còn chưa được đầy đủ.
Chính vì vậy, nghiên cứu một cách có hệ thống về hoạt động y tế trường học
tại nước ta là một nhiệm vụ cần thiết, nó giúp cho các nhà quản lý và hoạch
sinh chưa? Nếu có đáp ứng ở mức độ nào? Nếu chưa thì cần phải làm gì
thêm nữa để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại trường học?
5. Đơn vị/tổ chức nào thực sự tham gia vào các hoạt động y tế trường học?
Ai điều phối hoạt động y tế trường học? Bằng cách nào? Những khó khăn,
thuận lợi trong quá trình phối hợp giữa các đơn vị/tổ chức là gì?
6. Các hoạt động y tế trường học hiện nay như thế đã phù hợp chưa? Cần
phải làm gì để đảm bảo công tác y tế trường học thật sự hiệu quả (cả về
quản lý và hoạt
động)?
Giả thuyết nghiên cứu
1. Hệ thống y tế trường học hiện nay chưa rõ ràng về cơ chế quản lý
2. Hiệu quả của công tác y tế trường học chưa được đo lường
3. Chưa có số liệu về nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho học sinh tại các trường
phổ thông
4. Khả năng phối hợp liên ngành trong công tác y tế trường họ
c chưa đồng
bộ, chưa rõ ràng
5. Chưa có mô hình quản lý công tác trường học ở Việt Nam có hiệu quả
12
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về y tế trường học
1.1.1. Khái niệm về y tế trường học
Theo Tổ chức y tế thế giới Y tế trường học hay trường học nâng cao sức
khỏe là “trường học trong đó cả lời nói và việc làm đều có những hoạt động hỗ
trợ và cam kết thúc đẩy sức khoẻ toàn diện cho tất cả mọi thành viên trong
cộng đồng nhà tr
ường từ tình cảm, xã hội, thể chất đến các vấn đề đạo đức”
[8,9, 10], [164]
Hiện nay trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều tên gọi khác nhau về y tế
• Triển khai hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ qua các hoạt
13
động ngoại khoá, sinh hoạt tập thể, pano, áp phích, khẩu hiệu, tranh,
ảnh… Biểu dương khen thưởng kịp thời người tốt, việc tốt.
• Tổ chức các hoạt động lồng ghép truyền thông giáo dục sức khoẻ giữa
nhà trường – gia đình và cộng đồng.
2. Tổ chức các dịch vụ sức khoẻ trường học
• Khám và sơ cứu những trường hợp ốm đau hoặ
c tai nạn.
• Khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện sớm các trường hợp bị bệnh, lập
hồ sơ theo dõi sức khoẻ học sinh. Đặc biệt cần quan tâm đến trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt (trẻ bị bỏ rơi, cô đơn, có vấn đề về tâm lý, hay bị
đánh đập…) để có biện pháp chăm sóc giúp đỡ.
• Triển khai các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban
đầu (như chương
trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống giun sán, phòng chống suy
dinh dưỡng)
• Thực hiện chương trình nha học đường và giáo dục nha khoa, mắt học
đường và giáo dục phòng chống tật cận thị.
• Có tủ thuốc, có thầy thuốc phục vụ thường xuyên tại phòng sức khoẻ
trường học (còn gọi là phòng y tế nhà trường).
• Tham gia bảo hiểm sức khoẻ học sinh.
3. Xây dựng c
ơ sở vật chất và môi trường học đường
• Lớp học có trang thiết bị đúng quy cách.
• Có sân chơi, bãi tập, dụng cụ phương tiện luyện tập thể dục thể thao đảm
bảo an toàn.
• Có công trình vệ sinh, nước sạch đảm bảo hợp vệ sinh.
• Đảm bảo có đủ nước uống sạch.
Trong nghiên cứu này sẽ bám sát 4 nội dung và 8 nhiệm vụ trên để mô tả
thực trạng YTTH tại các tỉnh nghiên cứu
1.1.1.3. Quyền lợi của cán bộ y tế trường học [5]
• Được hưởng chế độ đãi ngộ theo chính sách hiện hành quy định
cho cán bộ y tế cơ sở hoặc hưởng chế độ hợp đồng thỏa thuận giữa
nhà trường với bản thân
• Được tham dự các lớp huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn để nâng
cao trình độ nghiệp vụ
• Được tham gia các đề tài nghiên cứu khoa họ
c, phát huy sáng kiến
để cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
15
• Được tham gia các buổi sinh hoạt và các hoạt động khác như cán
bộ, giáo viên nhà trường
• Được mời giảng môn sức khỏe, tham gia tuyên truyền phòng dịch
bệnh cho học sinh, sinh viên và cán bộ giáo viên toàn trường về
các chủ đề chăm sóc, bảo vệ sức khỏe
• Được xét khen thưởng theo qui định hiện hành của ngành Giáo dục
và Đào tạo và ngành Y tế
1.1.2. Các cơ sở xây dựng trường học nâng cao sức khỏe ở Việt Nam
[8,9,71]
Tại Việt Nam có rất nhiều lý do để trường học cần phấn đấu trở thành
trường học nâng cao sức khỏe, đó là:
• Sức khoẻ của thế hệ trẻ là một nhân tố quyết định hết sức quan trọng có
ảnh hưởng đến khả năng học tập, sáng tạo và phát triển năng khiếu của
các em khi đang học ở trường cũng như t
ương lai sau này.
• Học sinh là cầu nối hữu hiệu nhất giữa gia đình – nhà trường và cộng
đồng, nên nếu các em được chăm sóc, giáo dục sức khoẻ tốt sẽ ảnh
ứa tuổi học đường như
cận thị, cong vẹo cột sống, các bệnh về răng miệng, nhiễm giun sán, đặc biệt
có những bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời đã gây ảnh hưởng
lớn đến sự phát triển về thể chất và tinh thần của học sinh, sinh viên.
1.1.3. Các văn bản pháp lý về y tế trường học tại Việt Nam
Cho tới nay có nhi
ều văn bản pháp lý về YTTH đã được xây dựng. Tuy
nhiên các văn bản này chủ yếu do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, một số
ít các văn bản do các Bộ khác như Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính được
xây dựng qua thông tư liên tịch các Bộ (tên các văn bản trình bày ở dưới).
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2008, nhiều văn bản pháp
quy về YTTH đã không đáp
ứng được tình hình thực tế của sự phát triển
kinh tế thị trường và đòi hỏi thực tế của công tác giáo dục, chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe học sinh. Ngoài ra còn thiếu nhiều văn bản về tiêu chuẩn, quy
chuẩn để áp dụng cho việc khám phát hiện bệnh, tật lứa tuổi học đường,
phân loại thể lực; qui chuẩn về trường lớp, bàn ghế, ánh sáng cho từng cấ
p
học, bậc học theo các vùng miền khác nhau cũng như các tiêu chuẩn đánh
giá hoạt động của y tế trường học [11]. Nhìn chung từ khi chỉ thị
23/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, Bộ Y tế, Bộ
Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ ngành khác có liên quan đã ban hành nhiều
văn bản pháp quy về các lĩnh vực như định biên cán bộ YTTH, tài chính cho
công tác YTTH, tổ chức phòng y tế trong các cơ sở giáo dục, phòng chống
bệ
nh dịch, vệ sinh môi trường, tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm…. Các
văn bản trên đã thay thế những văn bản không đáp ứng được yêu cầu thực tế
về công tác này tại các trường học [11].
Các văn bản chính về YTTH đã được xây dựng cho đến nay bao gồm:
phương tiện học tập cuả trường học, vệ sinh các nhà ở, nhà ăn các
trường có học sinh nội trú, bán trú; quy định về kiểm tra, thanh tra xử
lí những trường hợp vi phạm.
11. Quy chế giáo dục thể
chất và y tế trường học ban hành theo quyết
định số 14/ 2001/ QĐ- GDĐT ngày 3/ 5/ 2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo trên cơ sở các văn bản pháp quy hướng dẫn về y tế
trường học được ban hành trong những năm đầu thế kỉ 21 này, hai
ngành Y tế – Giáo dục và Đào tạo từ trung ương đến địa phương đã
dẫn đến khôi phục và phát triển mạng lưới y t
ế trường học, triển khai
các hình thức nâng cao sức khỏe học sinh.
12. Chỉ thị số 36/GD-DT ngày 10/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc phòng, chống hút thuốc lá
13. Chỉ thị số 53/2003/CT-BGD&ĐT ngày 13/31/2003 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục và
đào tạo
14. Chỉ thị số 54/2003/CT-BGD&ĐT ngày 24/31/2003 c
ủa Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc phòng chống tai nạn thương tích trong
các cơ sở giáo dục
15. Quyết định số 6728/QĐ-BGD&ĐT ngày 25/31/2005 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Kế hoạch khẩn cấp của
18
ngành Giáo dục về phòng chống dịch cúm gia cầm (H5N1) và đại
dịch cúm A (H5N1) ở người
16. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02 năm 2005 của Bộ Chính trị về
việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình
mới đã chỉ rõ “cần củng cố, phát triển cơ sở y tế trong các trường học
24. Thông tư số 14/2007/TT-BTC ngày 8/3/2007 hướng dẫn sử dụng kinh
phí thực hiện công tác y tế trong các trường học
25. Chỉ thị số 56/2007/CT BGDĐT ngày 02/10/2007 về tăng cường công
tác phòng, chống tác hại của thuốc lá trong ngành giáo dục
19
26. Thông tư liên tịch số 93/2007/TTLT/BNN-BYT-BGDĐT ngày
22/11/2007 hướng dẫn phối hợp giữa ba ngành Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, Y tế, Giáo dục và Đào tạo trong việc thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn giai đoạn 2006-2010
27. Quyết định số 4458/QĐ-BGDĐT ngày 22/8/2007 của Bộ trưởng Bộ
giáo dục Đào tạo ban hành quy định về xây dựng trường học an toàn,
phòng chố
ng tai nạn thương tích trong trường phổ thông
28. Quyết định số 50/2007/QĐ-BGDĐT ngày 23/8/2007 của Bộ trưởng
Bộ giáo dục Đào tạo ban hành quy định về công tác giáo dục chính trị,
đạo đức, lối sống cho học sinh sinh viên
29. Quyết định số 17/2007/QĐ-BGDĐT ngày 4/12/2007 của Bộ trưởng
Bộ giáo dục Đào tạo ban hành Quy định về hoạt động y tế trong các
trường tiểu học, trung họ
c cơ sở và trung học phổ thông
30. Quyết định số 73/2007/QĐ-BGDĐT ngày 4/12/2007 của Bộ trưởng
Bộ giáo dục Đào tạo ban hành Quy định về hoạt động y tế trong các
trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
31. Thông tư số 13/2008/TT-BYT ngày 21/11/2007 của Bộ Y tế hướng
dẫn khám sức khỏe
32. Thông tư liên tịch của Bộ Y tế, Bộ Giáo d
ục và Đào tạo số
08/2008/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 8/7/2008 hướng dẫn công tác bảo
nâng cao sức khỏe trong tuyên ngôn Ottawa (Tổ chức Y tế thế giới năm
1984 và 1986).
Khái niệm về nâng cao sức khỏe dựa vào trường học được phát triển khác
nhau tại các châu lục trên thế giới. Tại Châu Âu, y tế trường học được gọi là
trường học nâng cao sức khỏe (Young & Williams, 1989). Với sự hỗ trợ của
Ủy ban và Hội đồng Châu Âu, Mạng lưới châu Âu về trường học nâng cao
sức khỏe (viết tắt là ENHPS) được thành lập và hiện nay thực hiện ở trên 43
quốc gia tại châu lục này. Tại Bắc Mỹ, khái niệm Giáo dục Sức khỏe trường
học toàn diện (Comprehensive School Health Education) được sử dụng rộng
rãi từ những năm 1980 khi áp dụng cách tiếp cận dựa vào khung chương
trình (curriculum-focused approach). Sau đó, khái niệm này được mở rộng
vào những năm 1990 với cách tiếp cận toàn diện hơn (giải quyết nhiều vấn
đề sức khỏe bởi nhiều tổ chức, đơn vị ở nhiều cấp độ khác nhau) qua thực
hiện chương trình Y tế trường học phối hợp (coordinated school health
programs) [Kolbe 1993, TCYTTG 1991]. Khu vực Tây Thái Bình Dương
của Tổ chức Y tế thế giới phát triển “Hướng dẫn trường học nâng cao sức
khỏe” cho 32 đơn vị thành viên từ năm 1995 [TCYTTG 1996]. Các mô hình
tương tự cũng được phát triển như trường học nâng cao sức khỏe (Health
Promoting Schools HPS), Sức khỏe trường học phối hợp (Coordinated
School Health CSH) tại châu Mỹ Latin, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Đông,
Châu Á và châu Phi.
Tuy nhiên, cho tới nay, y tế trường học hay nâng cao sức khỏe trường học là
gì vẫn chưa được hiểu rõ ràng và điều này có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả và
tính bền vững của các mô hình y tế trường học. Năm 1997, nhóm chuyên gia
TCYTTG đã tổng kết một số điều hiểu chưa rõ về khái niệm này. Đó là:
YTTH là một kết quả (một trường học khỏe mạnh), một cách tiếp cận toàn
21
diện (nhấn mạnh vào sự tham gia của các đơn vị khác nhau nhằm giải quyết
các vấn đề sức khỏe khác nhau ở các cấp độ), mang lại nhiều giá trị (dựa
nguy cơ dẫn tới những tai nạn thương tích có chủ đích và không có chủ đích
cho học sinh và các tỷ lệ này đều cao hơn ở các học sinh THCS. Kết quả
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thiếu các chính sách y tế ở trường học và các
dịch vụ
y tế không sẵn sàng tiếp cận cho học sinh và giáo viên, và thiếu các
nhân viên được đào tạo về nâng cao sức khỏe [Lee A, 2007]. Tác giả cũng
22
nhấn mạnh sự thành công của mô hình YTTH phù thuộc rất nhiều vào hiểu
biết của giáo viên về mô hình này [114].
Năm 2001, Tổ chức PAHO tiến hành một nghiên cứu trên 19 nước Mỹ Latin
đánh giá thực trạng và xu hướng mô hình trường học nâng cao sức khỏe
trong khu vực nhằm xây dựng các chương trình hoạt động giáo dục và nâng
cao sức khỏe ở các cấp độ khác nhau (cấp vùng, cụm và quốc gia). Kết quả
nghiên cứu này đã cung cấp các thông tin về
lập kế hoạch quốc gia và xây
dựng chính sách, cơ chế điều phối liên ngành để hỗ trợ nâng cao sức khỏe tại
trường học, cách thành lập và sự tham gia của các mạng lưới quốc gia và
quốc tế về YTTH và mức độ chia sẻ thông tin chiến lược này [100]. Để mô
hình y tế trường học thành công thì nhất thiết phải có sự tham gia của toàn
xã hội, nhằm huy động các nguồn lực và vật lự
c cần thiết để thực hiện nâng
cao sức khỏe trong các trường học [97-100, 110].
Một số nghiên cứu trên thế giới cho kết luận là công tác y tế trường học có
sự khác biệt theo vùng (nông thôn và thành thị). Nghiên cứu của Noriko
Yoshimura và cộng sự gần đây ở Lào [128] tại 138 trường phổ thông vùng
thành thị, ngoại ô và nông thôn thông qua tiến hành phỏng vấn học sinh lớp
5, hiệu trưởng, người bán hàng rong, cộng đồng và quan sát môi trường
trường họ
c cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về y tế trường học giữa các khu
Nha và sự thống nhất tổ chức y tế học đường và vệ sinh học đường cũng
được đề cập tới. Những công trình nghiên cứu về xây dựng trường sở, chiếu
sáng và trang thiết bị đồ dùng học tập giảng dạy đặc biệt là những nghiên
cứu về bàn ghế học sinh đ
ã được chú trọng tới.
Năm 1981 Vermer Kneist, viện vệ sinh xã hội Cộng Hòa Dân Chủ Đức đã
công bố mô hình xây dựng y tế trường học với nhiệm vụ của thầy thuốc học
đường và mối liên quan của các tổ chức xã hội [71].
Edith Ockel (1973) nghiên cứu về gánh nặng của trẻ em trong học tập và chỉ
rõ những em có hiệu suất học tập thấp có sự diễn biến về huyết áp và t
ần số
mạnh khác với trẻ em trung bình và với trẻ em có hiệu suất học tập cao trong
giờ học và đã đề xuất cải thiện chế độ học tập nhằm nâng cao hiệu suất trong
học tập [59].
Những nghiên cứu về sức chịu đựng về sinh lí của trẻ em trong luyện tập thể
dục thể thao đã đưa ra những quy định chế độ luyên tập riêng cho nh
ững học
sinh bị bệnh mãn tính như tim mạch, hô hấp và giờ đây vệ sinh đã được
đưa vào thành môn học chính khóa ở các trường phổ thông trên thế giới.
Nhằm đẩy mạnh công tác y tế trường học, năm 1995, Tổ chức Y tế thế giới
đã xây dựng sáng kiến y tế trường học toàn cầu (Global School Health
Initiatives) [157] nhằm tăng số lượng các “trường học nâng cao sức khỏe”
(Health-Promoting Schools) [163]. Sáng kiến này nhằm mụ
c đích nâng cao
sức khỏe cho học sinh, cán bộ trường học, gia đình và thành viên của cộng
đồng thông qua trường học. Mục tiêu của sáng kiến này là phối hợp sự nỗ
lực của hai ngành y tế và giáo dục trong việc nâng cao sức khỏe cho học
sinh dựa vào trường học [100, 108, 110-113, 163]. Mặc dù có nhiều định
nghĩa khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu và hoàn cảnh của mỗi nước, một
trường học nâng cao sức khỏe được hiể
nâng cao sức khỏe, từ các hoạt động thể chất đến thói quen
ăn uống và sức
khỏe tinh thần. Bên cạnh đó, các trường học tham gia mô hình này đã có
những thay đổi đáng kể về văn hóa, tổ chức có lợi cho việc nâng cao sức
khỏe. Các trường học tham gia mô hình YTTH đều báo cáo là có các chính
sách YTTH tốt hơn, có sự tham gia của cộng đồng nhiều hơn và có môi
trường vệ sinh tốt hơn các trường học không tham gia mô hình này. Hơn
nữa, học sinh của các trường có mô hình YTTH có các hành vi sức khỏe tốt
h
ơn học sinh các trường khác. Mô hình nâng cao sức khỏe trường học có
khả năng lồng ghép với hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, giúp cho các
dịch vụ y tế dành cho trẻ em thực hiện trong trường học nhiều hơn và tập
trung cho các em hơn. Một mô hình mới liên kết giữa mô hình YTTH và
một số thành tốt của chăm sóc sức khỏe ban đầu có thể được xây dựng nhằm
cung cấp các dịch vụ v
ề nâng cao sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật thân
thiện với học sinh hơn [110].
Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Lee A và cộng sự so sánh tác động của mô
hình trường học nâng cao sức khỏe cho thấy học sinh ở các trường có áp
dụng mô hình này có kiến thức, thái độ và thực hành tốt hơn học sinh ở các
trường không áp dụng mô hình này về vệ sinh cá nhân, kiến thức về sức
khỏe và vệ sinh cũng như tiế
p cận thông tin y tế. Các trường học nâng cao
sức khỏe có chính sách y tế trường học tốt hơn, có sự tham gia của cộng
25
đồng cao hơn và có môi trường trường học vệ sinh hơn các trường không áp
dụng mô hình này. Nhìn chung, học sinh ở các trường học nâng cao sức
khỏe có các hành vi sức khỏe tốt hơn, có kết quả học tập tốt hơn các trường
khác [111, 117].
Quốc trên 1408 học sinh, 891 bố mẹ và 91 cô giáo cho thấy các học sinh ở
trường có tham gia mô hình YTTH có điểm số cao hơn các học sinh các
trường không tham gia [123]. Không có sự khác biệ
t về điểm số giữa cha mẹ
ở hai loại trường này. Các giáo viên ở trường có mô hình YTTH có điểm số
cao hơn có ý nghĩa thống kê các giáo viên ở trường khác khi báo cáo về các
chính sách y tế (p=0,023), Môi trường xã hội (p=0,049), Quan hệ Trường
học-Cộng đồng (p=0,048), Xây dựng kỹ năng cá nhân (p=0,008) và Đối tác
và các dịch vụ y tế (p=0,047). Các học sinh và giáo viên trường THCS có