Nghiên cứu thực trạng một số loại hình giúp việc gia đình ở hà nội hiện nay và đề xuất giải pháp quản lý - Pdf 13


CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM
CẤP NHÀ NƯỚC “NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2006-2010”, MÃ SỐ KX.04

*****
XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI
CƠ CẤU XÃ HỘI VIỆT NAM

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC, MÃ SỐ KX.04.14/06-10 Chủ nhiệm đề tài: GS. TS. TẠ NGỌC TẤN NHỮNG NGƯỜI THAM GIA ĐỀ TÀI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI :
GS, TS. Tạ Ngọc Tấn
BAN CHỦ NHIỆM :
GS, TS. Trương Giang Long

PGS, TS. Mai Văn Hai

PGS, TS. Nguyễn Linh Khiếu

ThS. Hoàng Bích Yến

TS. Phạm Việt Dũng
CỘNG TÁC VIÊN CHÍNH :
TS. Trần Văn Chiến
GS, TS. Đặng Cảnh Khanh
TS. Hà Quang Ngọc
TS. Lưu Hồng Minh
PGS, TS. Khổng Diễn
PGS, TS. Hồng Dương
PGS, TS. Trần Quang Nhiếp

MỤC LỤC


65
2.5 Biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam thời kỳ
kế hoạch hóa tập
trung bao cấp
78
Chương III BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG 25 NĂM
ĐỔI MỚI
89
3.1 Những nhân tố tác động và quy định sự biến đổi cơ cấu xã
hội Việt Nam thời kỳ Đổi mới
89
3.2 Thực trạng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp 97
3.3 Thực trạng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội - nghề
nghiệp
114
3.4 Thực trạng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội - dân số 123
3.5 Thực trạng và xu hướ
ng biến đổi cơ cấu xã hội - dân tộc 133
3.6 Thực trạng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội - tôn giáo 149
Chương IV
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI ĐẾN SỰ
PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM TRONG 25 NĂM ĐỔI MỚI
160
4.1 Tác động đến phát triển kinh tế 160
4.2 Tác động đến hệ thống chính trị và cơ chế quản lý xã hội 174
4.3 Tác động đến hệ thống dịch vụ và chính sách xã hội 187
4.4 Tác động đến phát triển văn hóa - xã hội 204
4.5 Tác động đến an ninh - quốc phòng 226
Chương V DỰ BÁO XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020
1
MỞ ĐẦU

1- Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay, đã trải qua những giai đoạn
lịch sử quan trọng: giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại
xâm lược kéo dài 9 năm (1946-1954), giai đoạn cả hai miền Nam - Bắc
tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai nhằm
thống nhất nước nhà (1955-1975), giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội
(theo kiểu cũ) ở miền Bắc từ 1960 và trong cả nước (1975-1985) và sau
cùng là giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới (1986 đến nay). Trong quá
trình lịch sử đó, mỗi khi chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác,
không chỉ các yếu tố khác nhau của cơ cấu xã hội đều có sự biến đổi, mà
mỗi sự biến đổi này còn đặt ra không ít vấn đề có ảnh hưở
ng quan trọng
đến quá trình phát triển của xã hội Việt Nam.
Đặc biệt, khi đất nước ta chuyển từ giai đoạn xây dựng chủ nghĩa
xã hội (theo kiểu cũ) sang giai đoạn đổi mới - tức là chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên công
nghi
ệp hóa, hiện đại hóa; từ một lối sống, phong tục, tập quán làm chuẩn
mực sang một lối sống lấy luật pháp, pháp lý làm chuẩn mực; từ một xã
hội khép kín sang một xã hội mở, sẵn sàng “làm bạn” với tất cả các quốc
gia, dân tộc khắp thế giới trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi - thì xã hội
Việt Nam cũng có sự biến đổi sâu sắc trên tất cả các phương diệ
n: giai
cấp, nghề nghiệp, dân số, dân tộc, tôn giáo, v.v Sự biến đổi này đương

trong tiến trình biến đổi c
ơ cấu xã hội ở các giai đoạn trước, nhất là giai
đoạn 1986 đến 2010, có giúp ích gì cho sự biến đổi ở giai đoạn mới này
không? Nếu giúp ích được, thì những kinh nghiệm và bài học đó cần phải
được quán triệt ra sao? Rõ ràng, thêm một lần nữa thực tiễn đời sống
đang đặt ra cho các nhà khoa học, nhất là khoa học xã hội, nhiều câu hỏi
cần phải giải đáp, nhằm góp phần vào sự phát triển của đất nước theo
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
như Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.
Cũng cần nói rằng, không phải cho đến bây giờ vấn đế biến đổi cơ
cấu xã hội Việt Nam mới được đặt ra. Trước đây, nhất là trong thời kỳ
đổi mới, nhiều người đã quan tâm đến mảng đề tài này và nhiều công
trình c
ũng đã được công bố. Tuy nhiên, do mỗi người đều xuất phát từ
góc nhìn của chuyên môn hẹp, các cách tiếp cận và phương pháp không
thống nhất, thời gian nghiên cứu lại không liên tục, nên mặc dù các
nghiên cứu về biến đổi cơ cấu xã hội ở từng khía cạnh thì nhiều, song
bức tranh tổng thể biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam đến nay vẫn còn bỏ
trống. Đề tài khoa học “Xu hướng bi
ến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam” mà
chúng tôi đang thực hiện sẽ là một cố gắng bước đầu để lấp dần đi
khoảng trống đó.
3
2- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1- Mục tiêu tổng quát: mô tả, phân tích biến đổi cơ cấu xã hội
Việt Nam, những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi, cũng như những tác
động của sự biến đổi ấy đến sự phát triển của đất nước từ Cách mạng

4
4- Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1- Cách tiếp cận
Như đã nói, đề tài “Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam” là
một đề tài lớn: Xét về mặt không gian, nó trải rộng trên phạm vi của toàn
bộ đất nước; về thời gian nó kéo dài suốt từ 1945 đến 2020 - tức là gần
trọn một thế kỷ. Đây là một đề tài mang tính liên ngành, người ta có thể
xuất phát từ nhiều góc nhìn khác nhau nh
ư triết học, sử học, xã hội học,
dân tộc học, nhân khẩu học, nhân học văn hóa, nhân học xã hội, v.v để
tiến hành nghiên cứu. Vì vậy, để triển khai đề tài này, các tác giả đã vận
dụng nhiều quan điểm lý thuyết khác nhau, trong đó đặc biệt chú trọng
đến quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng
như những chủ trương, đườ
ng lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta
đối với vấn đề cơ cấu xã hội và biến đổi cơ cấu xã hội (Các vấn đề này
đều được tường giải cặn kẽ trong phần bàn về cơ sở lý luận và thực tiễn
của đề tài).
4.2- Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã, hay nói rộng ra là biến đổi xã hội,
về thực chất, là một nghiên c
ứu lịch đại. Mà nghiên cứu lịch đại, cố
nhiên ngoài các thông tin mới được thu thập qua điều tra điền giã còn
phải dựa vào các nguồn số liệu, các dữ kiện được lưu giữ qua từng giai
đoạn lịch sử khác nhau. Để đáp ứng yêu cầu này, nhóm tác giả đã sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
4.2.1- Sử dụng các nguồn tài liệu đã công bố

người được phỏng vấn là 1680, thuộc 6 tỉnh, bao gồm: Hà Nội, Yên Bái,
Hà Tĩnh, Đà nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp.
Mục tiêu của cuộc điều tra xã hội học này một mặt nhằm bổ sung
các số liệu còn thiếu ở các cuộc điều tra mang tính quốc gia như Tổng
điều tra dân số, khảo sát mức sống dân cư, và m
ặt khác là nhằm kiểm
định và so sánh với các nguồn số liệu đã thu thập được từ trước.
5- Nội dung nghiên cứu của đề tài
Nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào những vấn đề cơ bản
sau đây:
5.1- Mô tả, phân tích thực trạng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước từ
1945 đến 2010 qua các giai đoạn khác nhau: 1945-1954, 1955-1975,
1976-1985 và 1986 đến nay trên các phương diện: giai cấp, nghề nghi
ệp,
dân số, dân tộc và tôn giáo, trong đó đặc biệt chú trọng giai đoạn 1986
đến nay, tức là giai đoạn đổi mới toàn diện của đất nước.
5.2- Nghiên cứu, phát hiện những nguyên nhân bên trong và bên
ngoài, khách quan và chủ quan (về môi trường, khí hậu, kinh tế, chính trị,
văn hóa) đã tác động và làm biến đổi cơ cấu xã hội ở từng giai đoạn cụ
thể. Nói cách khác, cần phải làm sáng tỏ xem các nhân tố xã hội nào đã
định hướng, nhào nặn hay ảnh hưởng đến sự biến đổi cơ cấu xã hội như
trên.
5.3- Đánh giá những tác động của biến đổi cơ cấu xã hội trong 25
năm đổi mới (1986-2010) cả trên hai mặt tích cực và tiêu cực đối với tiến

6
trình lịch sử, từ đó rút ra những bài học và kinh nghiệm giúp cho sự phát
triển của đất nước ở các giai đoạn tiếp theo.
5.4- Dự báo xu hướng, đồng thời xác định các mục tiêu, quan
điểm, định hướng và giải pháp cơ bản nhằm tạo ra sự biến đổi cơ cấu xã

thị trường, CNH, HĐH;
- Tiến bộ KH – KT – CN;
- Toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế;
- Chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước về cơ cấu
xã hội;
- Các giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc;
- Các lý do xã hội khác
Tác động của cơ cấu xã hội
ở thời điểm t2 đến hệ thống
xã hội
- Những tác động tích cực
- Những tác động tiêu cực
- Những vấn đề đặt ra

Cơ cấu
xã hội
có trạng
thái
x1
ở thời
điểm
t1

Cơ cấu
xã hội
có trạng
thái

Kết quả nghi
ến cứu của đề tài sẽ cung cấp các luận chứng khoa học
cho việc hoạch định chính sách xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô, cụ thể là
các chính sách về phát triển và nâng cao chất lượng của giai cấp công
nhân trong giai đoạn cách mạng mới; các chính sách hạn chế sự gia tăng
bất bình đẳng, phân tầng xã hội;
các chính sách về xóa đói giảm nghèo;
về bình đẳng giới; các chính sách về dân tộc và tôn giáo, v.v Kết quả
nghiên cứu của đề tài cũng còn là một nguồn tài liệu tham khảo cho việc
học tập và giảng dạy về cơ cấu xã hội, đồng thời nó cũng gợi mở cho các
nhà khoa học những vấn đề về cơ cấu xã hội cần được tiếp tục nghiên
cứu trong thời gian sắp tớ
i.
8- Sản phẩm nghiên cứu
- Báo cáo tổng hợp;
- Báo cáo tóm tắt;

9
- Báo cáo kiến nghị;
- Các tài liệu kèm theo, bao gồm: các báo cáo chuyên đề nhánh, bộ
phiếu điều tra định lượng và báo cáo kết quả điều tra, các kết quả hội
thảo khoa học, các báo cáo chuyên đề, 1 cuốn sách và 13 bài báo, 4 báo
cáo theo đặt hàng của Hội đồng Lý luận Trung ương, v.v
9- Bố cục của Báo cáo tổng hợp
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các
phụ lục, báo cáo này được tổ chức thành 6 ch
ương.
- Chương I trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên
cứu, bao gồm việc định nghĩa và thao tác hoá các khái niệm làm việc,
giới thiệu các hướng tiếp cận lý thuyết, các quan điểm của chủ nghĩa

cách tích cực đối với sự phát triển của đất nước trong một bối cảnh lịch
sử mới: đất nước công nghiệp, nền kinh tế thị trường và Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa.
11 CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1- CÁC KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT, CÁCH TIẾP CẬN
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI
1.1.1- Định nghĩa khái niệm
Trong nghiên cứu này có 2 khái niệm cần được định nghĩa để làm
cơ sở nghiên cứu là cơ cấu xã hội và biến đổi cơ cấu xã hội.
1.1.1.1- Cơ cấu xã hội
Trong các tài liệu về Triết học và Xã hội học, có nhiều định nghĩa
về c
ơ cấu xã hội. Một điều dễ nhận thấy là mặc dù xuất phát từ các góc
nhìn khác nhau, song các định nghĩa này đều có những điểm chung nhất
định. Dưới đây xin giới thiệu một số định nghĩa như thế.
Từ điển xã hội học của T.Houll (Mỹ), định nghĩa cơ cấu xã hội
như sau:
“Cơ cấu xã hội biểu thị: a) các m
ối quan hệ tương đối ổn định, tồn

3
.
Ở nước ta, trong tác phẩm Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, tác
giả Nguyễn Đình Tấn định nghĩa:
“Cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của một
hệ thống xã hội nhất định - biểu hiện như là sự thống nhất tương đối bền
vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất c
ấu
thành hệ thống xã hội. Những thành phần này tạo ra bộ khung cho tất cả
các xã hội loài người. Những thành tố cơ bản của cơ cấu xã hội là nhóm
với vị thế, vai trò xã hội, mạng lưới xã hội và các thiết chế
4
.
Như vậy, ngoài những điểm chung như là “hình thức tổ chức bên
trong”, là “các mối quan hệ tương đối ổn định”, “có trật tự”, các định
nghĩa còn cho thấy mạng lưới cơ cấu xã hội ở nhiều cấp độ: cấp độ vĩ mô
(của toàn quốc gia - dân tộc), cấp độ trung mô (vùng miền, cộng đồng,
đoàn thể), và cấp độ vi mô (các nhóm nhỏ như gia đình, nhóm bạn ).
Hơn thế, các định nghĩa như trên còn cho thấy các đặc trưng cơ bản của
cơ cấu xã hội.
Theo chúng tôi, dù xét dưới cấp độ nào, song nếu phân tích một
cách khái quát các định nghĩa cơ cấu xã hội nêu trên, có thể thống nhất
hai đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, về mặt tổ chức - hệ thống, cơ cấu xã hội là hệ thống
những quan hệ
tổ chức xã hội hợp thành một chỉnh thể thống nhất, là cái
giữ xã hội thành một khối, không cho phép nó phân chia ra thành những
yếu tố riêng biệt (như các nhóm, các tổ hợp, hay là các cá nhân tách biệt).
Thứ hai, về mặt phân tầng, cơ cấu xã hội - đó là tổng thể các địa vị,
các nhóm, các tầng lớp hay các giai cấp được tổ chức theo một trật tự có

nhóm chính và nhóm phụ, chủ yếu và thứ yếu, căn bản và không căn
bản…
Trong các lý thuyết xã hội học về nhóm, chúng ta còn bắt gặp sự
phận chia nhóm thành nhóm quy ước và nhóm tự nhiên. Nhóm quy ước
là loại nhóm do con người tạo lập vì những mục đích nh
ất định. Nhóm tự
nhiên là những nhóm tồn tại thực một cách không hề tuân theo một chủ ý
riêng trong đời sống xã hội. Nhóm quy ước mang tính ước lệ, tạm thời
không bền vững và phụ thuộc vào ý muốn của người tạo ra nó. Nhóm tự
nhiên tồn tại, vận động và phát triển theo những qui luật khách quan.
Nghiên cứu cơ cấu xã hội cần nhận thức đúng hai loại nhóm này bởi lẽ
cơ cấ
u xã hội được tạo nên chỉ bởi các nhóm tự nhiên.
Vị thế xã hội: Vị thế hay còn được gọi thông thường là vị trí trong
cơ cấu xã hội. Tuy nhiên, vị thế còn nói lên thế và lực của chủ thể. Vị thế
quyết định chỗ đứng và phương thức ứng xử của mỗi cá nhân hay nhóm
xã hội. Tùy theo các góc độ khác nhau mà mỗi cá nhân hay nhóm xã hội
có những vị thế khác nhau. Trong quan hệ xã hội, thường v
ị thế nghề
nghiệp mang ý nghĩa quan trọng hơn cả, nó qui định những đặc trưng của
cá nhân hay nhóm xã hội.
14
Vị thế xã hội có các đặc điểm: Không nhất thiết gắn với người có
uy tín và địa vị cao; không phụ thuộc vào ý kiến của mỗi người về bản
thân; vị thế của mỗi người cần đối chiếu hay gắn với những tiêu chuẩn
khách quan của xã hội; vị thế của mỗi người là vị trí xã hội của người đó
được xã hội thừa nhậ

chối; Vai trò l
ựa chọn là vai trò có được do nỗ lực của chủ thể, chủ thể
dành được nó trong đời sống xã hội; Vai trò then chốt là vai trò quan
trọng nhất trong nhóm các vai trò của chủ thể tại một thời điểm cụ thể
nào đó; Vai trò tổng quát đó là sự phối hợp các vai trò khác nhau của chủ
15
thể tạo nên một vai trò chung bao hàm trong đó ý nghĩa của nhiều vai trò
khác.
Mạng lưới xã hội: Xã hội là tổng hợp của các mối quan hệ. Mạng
lưới là phức hợp các mối quan hệ của cá nhân, nhóm, cộng đồng, các tổ
chức. Tất cả các mối quan hệ của xã hội tạo nên mạng lưới xã hội.
Không cá nhân, nhóm, cộng đồng, tổ chức hay đoàn thể nào có thể đứng
ngoài mạng lướ
i xã hội. Trong đời sống xã hội, con người phải xử lý một
phức hợp quan hệ xã hội tồn tại một cách chằng chịt với tư cách là mạng
lưới xã hội. Trong các mối quan hệ đó có những quan hệ đóng vai trò đặc
biệt quan trọng đối với vị thế và vài trò của chủ thể buộc họ phải thực
hiện. Tuy nhiên, trong đó cũng có rất nhiều mối quan h
ệ không mang
tính bắt buộc và đòi hỏi con người phải thực hiện.
Mạng lưới xã hội là một thành tố cơ bản cấu tạo nên cơ cấu xã hội.
Chính thông qua các mối quan hệ phức hợp của mạng lưới xã hội mà cơ
thể xã hội vận hành và biến đổi. Đặc biệt, qua mạng lưới xã hội, các
thành viên xã hội có thể chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức, nguồn lực
để tăng cường thêm sức mạnh cho bản thân, tổ chức và cả xã hội. Chính
tính hài hòa hay rối loạn của mạng lưới xã hội quyết định sự phát triển
hay đình trệ của xã hội.

- Các thiết ch
ế có xu hướng phụ thuộc lẫn nhau;
- Những thiết chế có xu hướng trở thành tiêu điểm của những vấn
đề xã hội chủ yếu. Có nhiều loại thiết chế xã hội khác nhau cùng tồn tại
nhưng trong đó các thiết chế cơ bản là: gia đình, giáo dục, kinh tế, chính
trị, y tế, giải trí, truyền thống, tôn giáo
1.1.1.2- Biến đổi cơ cấu xã hội
Thuật ngữ biến
đổi cơ cấu xã hội mà chúng tôi sử dụng trong
nghiên cứu này được hiểu theo các nghĩa sau đây:
- Được dùng để xem xét sự thay đổi của các vị thế, các vai trò, các
mạng lưới, các thiết chế xã hội, tóm lại là các phương diện của đời sống
xã hội dọc theo trục thời gian. Đó là một quá trình xã hội, trong đó ở thời
điểm t
1
một phương diện xã hội nào đó có trạng thái X
1
, trong khi ở thời
điểm t
2
nó có trạng thái X
2
, và cứ như thế đến thời điểm t
n
, nó sẽ có trạng
thái X
n
. Trong nghiên cứu này, sự biến đổi của cơ cấu xã hội Việt Nam
cũng được đặt trên một trục thời gian là các thời điểm trước Đổi mới và
thời kỳ Đổi mới, trong mỗi thời kỳ đó, tùy theo các vấn đề, các khía cạnh

…. … …

Khái niệm cần được thao tác hóa để làm việc (gọi là khái niệm cơ
sở) trong nghiên cứu này là Cơ cấu xã hội Việt Nam trong thời kỳ Đổi
mới. Như đ
ã biết, không có xã hội nào không có cơ cấu bên trong của nó.
Xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới cũng không là ngoại lệ. Các chỉ báo
khái niệm ở mức độ đầu tiên được lựa chọn ở đây là cơ cấu xã hội - giai
cấp, cơ cấu xã hội - nghề nghiệp, cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội -
dân tộc và cơ cấu xã hội - tôn giáo - tức là những khía cạnh quan tr
ọng
nhất trong hệ thống cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay. Tiếp theo các chỉ
báo khái niệm ở mức độ đầu tiên này là các chỉ báo khái niệm ở mức độ
thứ hai, thứ ba, thứ n cho tới các chỉ báo thực nghiệm (xem sơ đồ).
Cơ cấu xã hội
Việt Nam
Cơ cấu xã
hội giai cấp

trị, chuẩn mực, xu hướng, tính cơ động xã hội, tính tích cực, sở hữu…
của các giai cấp, tầng lớp, qua đó thấy được khuôn mẫu văn hóa, lối
sống, xu hướng và mục tiêu của các giai cấp, tầng lớp, tập đoàn khác
nhau.
Bên cạnh đó, cũng có những cách tiếp cận nghiên cứu cơ cấu xã
hội - giai cấp chỉ tập trung nghiên cứu những tập đoàn người tạo nên
những giai cấp cơ bản, có ý nghĩa quyết định sự vận động và biến đổi xã
hội. Trong nghiên cứu này, các tác giả tập trung phân tích thực trạng cơ
cấu các giai cấp, qui mô giai cấp, vai trò, sứ mạng và tương lai của các
giai cấp và qua đ
ó chỉ ra giai cấp cơ bản quyết định sự biến đổi cơ cấu xã
hội và phát triển xã hội.
Cơ cấu xã hội - nghề nghiệp: Nó là hệ quả của sự phát triển sản
xuất, sự phát triển ngành nghề và phân công lao động xã hội. Nghiên cứu
cơ cấu xã hội - nghề nghiệp cần tập trung nhận diện thực trạng, tỷ trọng
các ngành nghề, những
đặc trưng, xu hướng và sự tác động qua lại lẫn
nhau của các ngành nghề cũng như sự biến đổi, thay đổi ngành nghề của
một xã hội nhất định.
Trong xã hội hiện đại, người ta thường tập trung xem xét lực lượng
lao động cũng như các ngành nghề cụ thể của lao động công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ và một số ngành nghề đặc thù khác. Đồng thời,
ngườ
i ta cũng nghiên cứu cơ cấu lao động theo giới tính, lứa tuổi, trình
độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ…
Ngoài ra, tiếp cận nghiên cứu cơ cấu xã hội - nghề nghiệp cũng cần
quan tâm tới góc độ lao động theo lãnh thổ, vùng, miền, khu vực kinh tế
xã hội; lao động trong các khu vực, thành phần kinh tế khác nhau; lao
động trong khu vực kinh tế chính thức hay phi chính thức, theo độ tuổi
người lao động cũng như mức độ có vi

dân tộc của một quốc gia, chính sự biến đổi cơ cấu - dân tộ
c của các dân
tộc cụ thể quyết định sự biến đổi cơ cấu - dân tộc của quốc gia. Nghiên
cứu cơ cấu xã hội - dân tộc chúng tôi luôn đặt nó trong mối quan hệ
khăng khít với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: chính trị,
văn hóa, kinh tế, xã hội, dân số, tôn giáo…
Nghiên cứu cơ cấu xã hội - dân tộc không chỉ nhằm nhận diện đúng
sự bi
ến đổi của nó trong một xã hội nhất định mà còn tạo cơ sở khoa học
cho việc hoạch định chính sách, chiến lược, chủ trương để quy hoạch và
phân bổ lại cơ cấu dân cư, lực lượng lao động, ngành nghề, việc làm, các
nguồn tài nguyên phù hợp với chiến lược phát triển chung; đồng thời
cũng phù hợp với những điều kiện tự nhiên - xã hội từng vùng miề
n,
từng dân tộc cụ thể. Cũng từ đó có chiến lược bảo tồn văn hóa và bản sắc
dân tộc, xây dựng tình đoàn kết anh em giữa các dân tộc, tích cực góp
20
phần giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ biên giới quốc gia và sự toàn
vẹn lãnh thổ.
Cơ cấu xã hội - tôn giáo: Đó là cơ cấu một cộng đồng người với
các địa vị giai cấp, xã hội khác nhau theo cùng một tôn giáo hay tổ chức
tôn giáo dựa trên nền tảng tín lý, giáo lý và thực hành nghi thức thờ cúng.
Cộng đồng này ở một số tôn giáo còn là sự tập hợp các cộng đồng như
được t
ổ chức thành hội, đoàn hoặc các tổ chức tương tự nhưng không
bền vững. Trong cộng đồng do vị trí công việc tôn giáo mà một số thành
viên có địa vị khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status