LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia. Để thúc đẩy quá trình
phát triển kinh tế của đất nước,Việt Nam chúng ta cần phải có môi trường đầu tư thuận
lợi và cơ chế chính sách sao cho phù hợp, rõ ràng và ổn định. Đối với Việt Nam, thuế giá
trị gia tăng từ khi được áp dụng đã thể hiện nhiều ưu điểm và phát huy được những lợi
thế của nó. Tuy nhiên, với một nền kinh tế đang trong giai đoạn quá độ - kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa - việc áp dụng pháp luật nói chung và pháp luật về
thuế giá trị gia tăng nói riêng còn không ít những vấn đề cần quan tâm. Xem xét các yếu
tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng để tìm ra những nguyên
nhân của nó và đưa ra hướng hoàn thiện là một vấn đề cấp thiết vì loại thuế này có mức
độ ảnh hưởng rộng đối với người nộp thuế cũng như đối tượng chịu thuế, và là một trong
những nguồn thu cơ bản của ngân sách nhà nước. Nâng cao được hiệu lực thực thi pháp
luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam sẽ giúp cho nhà sản xuất, người tiêu dùng và các chủ
thể quản lý nhận thức rõ vai trò và vị trí của thuế, tự nguyện thực hiện và đảm bảo thực
hiện đúng đắn pháp luật về loại thuế này.
Qua bài tiểu luận ngắn này em xin tìm hiểu về đề tài: “ Phân tích những yếu tố ảnh
hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay và đề xuất ý kiến
pháp lý nhằm thực thi thuế GTGT”
I. Một số vấn đề cơ bản về pháp luật thuế giá trị gia tăng
1. Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận
thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hòa, nhận dịch vụ. Điều 2 Luật
thuế GTGT 2008 quy định: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của
hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Như
vậy, bản chất của thuế GTGT là loại thuế gián thu. Nghĩa là, các nhà sản xuất, kinh doanh
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV 351759
1
ngại sẽ làm giảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nhưng thuế GTGT mang lại tính
khoa học rất cao, có khả năng tạo được công bằng trong việc thu thuế, thúc đẩy xuất
khẩu, khuyến khích phát triển sản xuất, bảo đảm nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Khi
bàn về nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đã gặp phải khi áp dụng thuế GTGT thì
người ta thường đề cập tới hai nhóm nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Nói về yếu tố khách quan thì nguyên nhân lớn nhất là điều kiện, hoàn cảnh áp dụng
thuế GTGT, khi mà chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường chưa lâu, các thành phần
cũng như hoạt động kinh tế chưa phát triển một cách đồng đều…Trong những năm gần
đây, khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng thì sự xuất hiện của của các đối tượng kinh tế
mới cũng chưa được kịp thời đưa vào sự quản lý của luật thuế GTGT.
Còn về yếu tố chủ quan thì tư tưởng, cơ chế chính sách cũng đã hạn chế nhiều thành
công của Luật thuế GTGT. Khi mới bắt đầu triển khai sắc thuế này, quan điểm nóng vội
muốn chuyển ngay từ thuế doanh thu sang thuế GTGT trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm
của các nước đã áp dụng thành công mà không quan tâm đến giải pháp xử lý cần thiết
mang tính quá độ cho giai đoạn chuyển tiếp: như không quan tâm đến vấn đề hàng tồn
kho, tài sản cố định lớn trước ngày 31/12/1998. Điều này đã làm cho nhiều doanh nghiệp
rất lo lắng và họ đã tìm mọi cách để trốn thuế.
Tìm hiểu chi tiết về những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT ở
Việt Nam hiện nay sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ hơn về vấn đề này.
1. Những yếu tố thúc đẩy việc triển khai thực hiện thuế GTGT
- Thuế GTGT là một sắc thuế mới tiến bộ và có tính khoa học rất cao, việc áp dụng
vào thực tế Việt Nam là hoàn toàn hợp lý, với yêu cầu của phát triển và hội nhập. Chính
phủ, Ban chỉ đạo triển khai các luật thuế mới của Chính phủ, các Bộ, các Ngành, các địa
phương đã bám sát sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Bộ chính trị, Quốc hội, của
UBTVQH để tổ chức triển khai thực hiện luật thuế GTGT. Trong quá trình triển khai Ban
chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, các địa phương đã bám sát cơ sở sản xuất kinh doanh,
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV 351759
3
4
2.1. Thuế suất thuế GTGT khá cao.
Việc áp dụng 2 thuế suất: 5% và 10 %, trong đó đã thu hẹp dần nhóm thuế suất 5%
nhưng vẫn chưa hợp lý đối với một số hàng hoá, dịch vụ và chưa được thể hiện thống
nhất mức thuế suất, gây thiếu bình đẳng trong nghĩa vụ nộp thuế. Bên cạnh đó một số
tiêu chí xác định để phân biệt sự khác biệt về thuế suất chưa rõ ràng đặc biệt là các tiêu
thức hàng nông sản thực phẩm, thủy hải sản qua sơ chế hay chế biến; con giống, cây
giống, trứng giống hay thực phẩm; thiết bị chuyên dùng trong một số ngành nghề với
trang thiết bị nói chung...gây khó khăn trong thực thi.
Mức thuế suất thuế GTGT 10% tính cho các hàng hóa, dịch vụ thông thường cho tiêu
dùng là khá cao, làm giảm sức mua, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá gặp nhiều khó khăn.Mức
thuế suất 10% được quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật thuế GTGT năm 2008. Mặc dù
theo lý luận, thuế GTGT do người tiêu dùng trả, không gây ảnh hưởng đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhưng nếu thuế suất cao, giá thanh toán của hàng
hoá, dịch vụ sẽ cao, người tiêu dùng khó chấp nhận, tiêu thụ sẽ gặp khó khăn, các doanh
nghiệp muốn bán được hàng buộc phải hạ giá bán và bị thua lỗ. Để tránh bị thua lỗ, các
doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất.
2.2. Thuế GTGT làm đảo lộn mức thuế phải nộp.
Thuế GTGT được thiết kế với mức thu tương đương thuế doanh thu với mục tiêu ổn
định quan hệ phân phối giữa Nhà nước với nền kinh tế xét trên tổng thể, nhưng thực tế có
làm đảo lộn mức thuế phải nộp của các ngành khác nhau. Có ngành thuế phải nộp tăng
gấp bội so với thuế doanh thu, có ngành lại thấp hơn nhiều. Tương quan phân phối giữa
các ngành bị đảo lộn vướng mắc phát sinh không chỉ liên quan đến lỗ lãi mà còn liên
quan đến vấn đề mới.
2.3. Thuế GTGT gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp về vốn
Quy định phải nộp thuế GTGT đối với những mặt hàng nhập kho nhưng chưa bán làm
cho một số doanh nghiệp khó khăn trong vấn đề vốn. Đặc biệt với những doanh nghiệp
người kinh doanh. Những điểm nói trên không chỉ mới đối với người nộp mà đối với cả
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV 351759
6
cơ quan thu thuế. Tất nhiên, cái gì mới thoạt đầu sẽ được hiểu một cách lệch lạc, thậm chí
bị một số cá nhân xấu lợi dụng để tư lợi.
- Cơ sở kế toán quốc dân chưa hình thành hoặc chưa được chuẩn bị: Các cơ sở kinh
doanh quy mô dưới doanh nghiệp tư nhân không quan tâm đến chế độ kế toán quốc dân
mà phản ánh hoạt động kinh doanh theo logic thô sơ. Nguy hiểm hơn, họ cho rằng sổ
sách kế toán là công cụ của cơ quan Nhà nước kiểm tra, kiểm soát họ mà không nghĩ rằng
sổ sách, tài khoản, chứng từ,... là những phương tiện căn bản giúp họ tiếp cận hoạt động
kinh doanh một cách hệ thống để đánh giá, đo lường và phân tích kết quả kinh doanh
cũng như dự báo tương lai. Thêm nữa, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế tiền mặt.
Mọi thanh toán và giao dịch đều có thể dùng tiền mặt: tiền Việt, vàng và ngoại tệ (chủ
yếu là đô la Mỹ). Điều này được các doanh nghiệp khai thác lập bộ hồ sơ thanh toán
khống; đồng thời cơ quan thuế cũng khó phát hiện để ngăn chặn kịp thời.
- Sự lúng túng của những cơ quan chức năng: Thể hiện rõ nét nhất là quá nhiều văn
bản được ban hành. Chỉ trong một thời gian ngắn, năm 1999, Chính phủ và Bộ Tài chính
cho ra đời hàng trăm văn bản liên quan đến thuế GTGT. Điều này gây ra vấn đề “mâu
thuẫn nhau” trong điều hành và thực hiện. Tiếp đến, cơ chế “xin – cho” xuất hiện: xin
được hưởng thuế suất thấp hơn, xin được nộp thuế 0%, xin mở rộng diện khấu trừ theo tỷ
lệ tính trên giá mua không có hoá đơn GTGT, v.v.... Ngoài ra, việc áp dụng đồng thời hai
phương pháp tính cho hai loại đối tượng nộp thuế gây nhiều tốn kém và cản trở sự vận
hành của thuế GTGT trên phạm vi toàn nền kinh tế - xã hội.
- Yếu kém trong dự báo và thiếu đánh giá tác động của chính sách: Vì vậy làm nảy
sinh hiện tượng lập chứng từ không trung thực để chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT và
gây ra những hậu quả nặng nề: Chính phủ mất tiền, dân chúng mất niềm tin chính sách
thuế mới, và doanh nghiệp lương thiện nghi ngờ cách thức và năng lực điều hành nền
Việc áp dụng đồng thời hai cách tính thuế GTGT và hai loại hoá đơn trong điều kiện
nền kinh tế nước ta hiện nay là cần thiết, song trên thực tế lại nảy sinh những bất cập gây
trở ngại cho các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh. Các doanh nghiệp thực hiện theo
phương pháp khấu trừ thuế không được khấu trừ đầu vào khi mua hàng hoá, dịch vụ của
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV 351759
8
các đơn vị tính thuế theo phương pháp trực tiếp, gây mất công bằng trong các thành phần
kinh tế, hoặc nảy ra tình trạng chống thuế. Ngoài ra, những bất cập trong kế toán thuế
GTGT, trong chế độ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường... cũng
gây nhiều khó khăn cho công tác thu của ngành thuế và cho các hộ kinh doanh nhỏ.
Trong bối cảnh đó, luật thuế GTGT lại quy định quá nhiều loại hóa đơn. Các hóa đơn
đều có tính pháp lý như nhau do Luật thuế quy định. Nhưng điểm đáng chú ý ở đây là
việc khấu trừ thuế lại khác nhau, chỉ có hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn đặc thù tại các đơn
vị nộp thuế theo phương pháp khấu trừ mới được khấu trừ thuế theo quy định. Chính phủ
đã ban hành rất nhiều quy định về hóa đơn chứng từ như Nghị định số 89/2002/NĐ-CP
quy định về việc in, phát hành, quản lý hóa đơn,… nhưng vẫn nảy sinh hiện tượng lợi
dụng trong mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để khai man thuế GTGT đầu vào để
khấu trừ hoặc gian lận trong hoàn thuế.
2.8. Xử lý thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu
Việc áp mã thuế thiếu chính xác, thời gian nộp thuế quá ngắn. chẳng hạn “ Xe tải tự
đổ có trọng tải từ 24 tấn đến 45 tấn nhập khẩu đang là “nạn nhân” của việc áp thuế
không thống nhất ”. Vấn đề hoàn thuế còn chậm và phức tạp trong kiểm tra hoá đơn. Do
vậy nhiều doanh nghiệp phải chịu thêm lãi suất ngân hàng từ số tiền vay nộp thuế trước
nhưng chậm được trả lại. Song mặt khác, chính nhiều doanh nghiệp cũng chưa nghiêm
túc kê khai và hoàn thành các thủ tục cần thiết, dẫn đến tình trạng châm trễ trong việc
hoàn thuế.
2.9. Chưa nhất quán trong thực hiện nguyên tắc
2.11 Thực hiện công tác quản lý của các cơ quan thuế
Quản lý thuế hầu hết dựa trên kinh nghiệm, chưa khoa học, hợp lý. Bộ máy tổ chức
ngành thuế cũng chưa hoàn thiện: Hiện nay bộ máy quản lý thuế của nước ta được tổ
chức theo ngành dọc từ Trung ương tới cấp huyện. Hệ thống này được phân chia vừa
theo sắc thuế vừa theo đối tượng nộp thuế. Một cán bộ thuế phải đảm nhiệm nhiều chức
năng từ thông báo thuế, thu thuế, kiểm tra thuế do đó không có điều kiện chuyên sâu vào
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV 351759
10
một nghiệp vụ nhất định. Khi chuyển sang áp dụng thuế GTGT, quy trình quản lý thuế
phải thay đổi, cơ quan thuế phải tổ chức thu thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế,… trình độ
của một số cán bộ còn thấp do đó không đáp ứng yêu cầu của công việc.
III. Một số đề xuất ý kiến pháp lý nhằm hoàn thiện việc thực thi pháp luật thuế
GTGT ở Việt Nam
1. Về phương pháp tính thuế GTGT
Để hạn chế bớt những bất cập không hợp lý trong phương pháp tính thuế như hiện nay
thì chúng ta nên thực hiện phương pháp tính thuế thống nhất là khấu trừ, còn đối với các
trường hợp không đủ khả năng hạch toán độc lập có thể nghiên cứu đến việc thu thuế
khoán ( Đây là biện pháp thu thuế dựa trên cơ sở các yếu tố khách quan do người sản
xuất kinh doanh cung cấp và trên cơ sở các biện pháp kiểm tra của cán bộ thuế, cơ quan
thuế ấn định một mức doanh thu cụ thể và trong một thời gian nhất định, trong khoảng
thời gian đó, số thuế mà cơ sở phải nộp được tính dựa trên doanh thu ấn định này ) hoặc
chuyển các đối tượng này sang áp dụng hình thức thu thuế đơn giản theo tỷ lệ % doanh
thu, cụ thể là gộp cả thuế gián thu và thuế trực thu thành một tỷ lệ trên doanh thu…Với
thực tế hiện nay các hộ kinh doanh cá thể còn chiếm một tỷ lệ rất lớn trong các thành
phần kinh tế, thì việc chuyển đổi phương pháp tính thuế cho nhóm đối tượng này phải
được tiến hành đồng bộ với các biện pháp khác để tránh thất thu thuế cho ngân sách nhà
nước.
là đa dạng hóa các công cụ kiểm soát hoạt động giao dịch kinh doanh trên thị trường
thông qua việc mở rộng thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng, thanh toán qua ngân
hàng…
4. Về khấu trừ thuế
Việc cho khấu trừ thuế đầu vào lại phát sinh những vướng mắc như: Có nhiều tỷ lệ
khấu trừ khác nhau nên rất phức tạp trong quá trình thực hiện và không khuyến khích sử
dụng hoá đơn chứng từ. Đối với hàng hoá nông, lâm, hải sản không cần hoá đơn, chỉ cần
bản kê dẫn tới có trường hợp cơ sở sản xuất mua của người kinh doanh buôn chuyến,
người thu gom trốn thuế, các doanh nghiệp không lấy hoá đơn bán hàng, tạo kẽ hở để cơ
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV 351759
12
sở kinh doanh buôn chuyến, người thu gom trốn thuế. Các doanh nghiệp mua nông, lâm,
hải sản sau đó sơ chế bán hàng trong nước thì được khấu trừ thuế nhưng nếu xuất khẩu
lại không được trừ thuế đầu vào. Do đó, giải pháp cho vấn đề này là: Cho phép khấu trừ
hoặc hoàn lại thuế GTGT trong trường hợp giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ bị huỷ bỏ,
sau khi đã chấp nhận trả tiền của người mua hoặc trường hợp giảm giá, các khoản thu
không đòi, được xử lý có đầy đủ chứng từ hợp lệ.
5. Vấn đề hoàn thuế GTGT
Trong thời gian đầu áp dụng thuế GTGT, thủ tục hoàn thuế rất phức tạp nên tiến độ
hoàn thuế chậm, gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp
đầu tư, mua sắm tài sản cố định với khối lượng lớn. Nguyên nhân của tình hình trên một
phần do doanh nghiệp chưa làm đúng thủ tục, một phần do cơ quan thuế chưa quen, văn
bản hướng dẫn lại chưa rõ ràng. Trước tình hình đó, Bộ tài chính đã có các văn bản bổ
xung là hoàn thuế trước kiểm tra sau và phải xử lý nghiêm những trường hợp vi pham.
Các văn bản này đề cao trách nhiệm và quyền lợi của các doanh nghiệp, của người nộp
thuế trong việc hoàn thuế GTGT. Tuy nhiên vấn đề hoàn thuế vẫn còn nhiều bấp cập về
thủ tục cũng như thời gian hoàn thuế. Cần đề cao hơn nữa trách nhiệm của cơ sở trước
đề sau: Rà soát lại toàn bộ những văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế, nghiên cứu, xem
xét làm rõ cách giải thích, từ ngữ và nội dung, tính thống nhất và kế thừa của các văn
bản. Mẫu kê khai thuế, nộp thuế cần thống nhất với chế độ kế toán, thống kê, đơn giản
hoá các mẫu biểu qui định trong thu, nộp, hoàn thuế.
9. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế
Do thực hiện quy trình quản lý thu thuế mới, đối tượng nộp thuế tự tính thuế, kê khai
và nộp thuế nên công tác tuyên truyền hướng dẫn, giải thích thật cụ thể về nội dung chính
sách thuế, quy trình quản lý thuế, cách ghi chép hoá đơn chứng từ, cách kê khai thuế,
công khai quy trình miễn thuế, hoàn thuế, giảm thuế tới từng cơ sở tính, nộp thuế. Phối
hợp ngành thuế với các cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức đoàn thể, xã hội trong
tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế.
Sinh viên: Hoàng Thị Vân MSSV 351759
14
10. Đào tạo đội ngũ cán bộ thuế, cán bộ hải quan có đạo đức, trình độ nghiệp vụ.
Đội ngũ cán bộ thuế là nhân tố rất quan trọng trong ngành thuế, bởi vậy cần có sự sắp
xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý thu theo hướng tập trung vào các khâu công việc chính,
đào tạo lại và tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về quản lý thuế theo phương
pháp hiện đại, trình độ ứng dụng thành thạo công nghệ tin học…Đặc biệt đối với công tác
cán bộ phải xem trọng việc tuyển chọn đội ngũ làm công tác tổ chức nhân sự, bởi quyết
định của đội ngũ này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ thuế. Đó phải là những người
thực sự chí công, vô tư và có năng lực đánh giá nhân sự. Sự phát triển của hệ thống thuế
không thể tách rời quá trình hiện đại hóa, áp dụng công nghệ thông tin vào các quy trình
quản lý. Đầu tư hệ thống máy tính sẽ giúp cho tốc độ sử lý công việc của ngành thuế
nhanh hơn, chi phí quản lý cũng sẽ giảm đi rất nhiều.
KẾT LUẬN
Trong tất cả các sắc thuế gián thu, thuế giá trị gia tăng (GTGT) được xem là phương
pháp thu tiến bộ hiện nay, được đánh giá cao vì luật thuế GTGT đã đạt được cơ bản các