TỔNG QUAN ODA Ở VIỆT NAM 15 NĂM (1993-2008)
Hội nghị
bàn tròn v
ề
vi
ệ
n tr
ợ
dành cho Vi
ệ
t Nam di
ễ
n ra
tại
Pa-ri,
Thủ
đô nước Pháp cách đây 15 năm đã mở ra một trang sử mới trong quan
hệ
hợp tác phát tri
ể
n giữa Vi
ệ
t Nam và cộng đồng tài
tr
ợ
quốc
tế. M
ố
i
quan
hệ
được
đề cập
trong bài
viết
này.
Đổi mới
đã mang
lại cơ hội
cho
hợp
tác phát tri
ể
n
Thực hi
ệ
n công cuộc Đổi mới do Đ
ả
ng ta
đề
xướng và lãnh
đạo t
ừ
năm 1986, trong những năm
đầu của th
ậ
p kỷ 90, Vi
ệ
t Nam đã không nh
ữ
ng
kinh t
ế
trong nước
đạt
mức tăng trưởng cao, đời sống
của
nhân dân đ
ư
ợ
c
cải thi
ệ
n rõ
rệt.
Đây là bối c
ả
nh
dẫn đến
c
ơ
hội đ
ể
Vi
ệ
t Nam và c
ộ
ng
đồng tài trợ quốc t
ế
nối
ệ
t Nam đã
đạt
được những thành
tựu
phát tri
ể
n kinh t
ế
và
tiến
bộ xã hội vượt b
ậ
c, được dư lu
ậ
n trong nước và
quốc t
ế
thừa nh
ậ
n rộng rãi: N
ề
n kinh t
ế
tăng trưởng liên
tục
với tốc đ
ộ
bình quân 7,5%/năm, mức đói nghèo gi
ả
ư
ờ
ng
trực
của
Hội đồng B
ả
o an Liên Hợp Quốc, Vi
ệ
t Nam là thành viên tích c
ự
c
của
ASEAN, APEC, và nhi
ề
u Di
ễ
n đàn,
t
ổ
chức quốc t
ế
khác, Nh
ữ
ng
thành tựu mà Vi
ệ
t Nam
đạt
được trong thời gian qua có ph
quán tài trợ quốc
tế,
hàng năm các nhà tài trợ tổ chức H
ộ
i
nghị vi
ệ
n trợ quốc t
ế
để vận
động tài trợ cho các quốc gia đang phát tri
ể
n.
Đối với Vi
ệ
t Nam, sau Hội bàn tròn
về vi
ệ
n trợ phát tri
ể
n dành cho Vi
ệ
t
Nam di
ễ
n ra
lần đầu
tiên vào năm 1993, các hội nghị
vi
chức Hội nghị CG cũng thay đổi từ vi
ệ
c tổ chức
tại
nước tài trợ như t
ạ
i
Pháp, Nh
ậ
t B
ả
n, sang
về
tổ chức
tại Vi
ệ
t Nam.
Hội nghị
CG thường niên thực s
ự
là di
ễ
n đàn đối tho
ạ
i giữa Chính
phủ
và cộng đồng các nhà tài trợ quốc t
ế
về chi
ể
n kinh t
ế
- xã hội và xóa đói gi
ả
m nghèo là một nội dung
gắn kết ch
ặ
t
ch
ẽ
, không tách rời. Ngoài Hội nghị CG thường niên, còn tổ chức Hội nghị
CG giữa kỳ không chính thức
tại
các địa phương,
tạo đi
ề
u ki
ệ
n cho các
nhà tài trợ g
ầ
n với người dân và n
ắ
m
bắt
được nhu
cầu
phát tri
ể
của Vi
ệ
t Nam trong quá trình phát tri
ể
n.
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ
tại Vi
ệ
t Nam đã được mở r
ộ
ng
rất nhi
ề
u và hi
ệ
n có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương
và
23 nhà tài tr
ợ
đa
phương
1
đang ho
ạ
t động thường xuyên
tại Vi
ệ
t Nam.
1
ệ
quốc
t
ế
(IMF), Ngân hàng Phát tri
ể
n châu Á (ADB), Ngân hàng Đ
ầ
u tư B
ắ
c Âu (NIB), Quỹ Phát tri
ể
n
B
ắ
c Âu (NDF), Quỹ Phát tri
ể
n quốc t
ế
của
các nước xu
ấ
t kh
ẩ
u
dầu
mỏ OPEC (OFID - trước đây là
Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait;
- Các t
Liên h
ợ
p quốc
về
HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội ph
ạ
m
của
Liên hợp quốc
(UNODC), Quỹ Đ
ầ
u tư Phát tri
ể
n
của
Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môi trường toàn
cầu
(GEF), Quỹ
Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ Quốc t
ế
và Phát tri
ể
n nông nghi
ệ
p (IFAD), Tổ chức Giáo
dục,
Khoa học và Văn hóa
của
Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc t
ế
n trợ hàng năm lên
đến
200 tri
ệ
u USD trong nhi
ề
u lĩnh vực khác nhau, liên quan trực
tiếp đ
ế
n
đời sống người dân
tại
các vùng nông thôn, mi
ề
n núi, vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân t
ộ
c.
Thông qua 15 Hội nghị CG thường niên, tổng vốn ODA đã được các
nhà tài trợ cam
kết đạt
42,438 tỷ USD với mức cam
kết
năm sau cao h
ơ
n
năm trước,
kể cả
những năm kinh t
ế
nay (tính
đến hết
tháng 10 năm 2008), Chính ph
ủ
Vi
ệ
t Nam và các nhà tài trợ đã ký các đi
ề
u ước quốc t
ế
cụ thể về
ODA v
ớ
i
tổng s
ố
vốn
đạt
35,217 t
ỷ
USD, chi
ế
m 82,98% tổng vốn ODA cam k
ế
t
trong thời kỳ này, trong đó vốn ODA vay ưu đãi chi
ế
m kho
ả
chính trị
của
cộng đồng tài trợ quốc
tế, vi
ệ
c
giải
ngân nguồn vốn này
nh
ằ
m
tạo
ra các công trình,
sản ph
ẩ
m kinh t
ế
- xã hội
cụ thể để
đóng góp
vào quá trình phát tri
ể
n
của đất
nước mới là quan tr
ọ
ng.
Trong thời kỳ 1993-2008 (tính
đến hết
tháng 10 năm 2008), tổng v
nhiên, mức
giải
ngân này
vẫn
chưa
đạt mục
tiêu
đề
ra trong các
kế
ho
ạ
ch phát tri
ể
n kinh t
ế
- xã hội 5 năm và tỷ l
ệ
giải
ngân
vẫn
còn th
ấ
p
hơn m
ứ
c trung bình
của thế
giới và khu vực đối với một số nhà tài trợ
cụ
4000
3000
2000
Cam
k
ế
t
Ký
k
ế
t
G
i
ả
i
ng
â
n
1000
0
N
ă
m
Phát tri
ể
n
cơ sở hạ tầng
kinh t
ế
t Nam đã đưa ra định hướng chi
ế
n l
ư
ợ
c,
chính sách và những lĩnh vực ưu tiên sử
dụng
vốn ODA cho từng thời kỳ.
G
ầ
n đây nh
ấ
t, trên cơ sở tham
vấn
rộng rãi các nhà tài trợ, ngày 29 tháng 12
năm 2006
Thủ
tướng Chính
phủ
ban hành Quy
ế
t định số 290/2006/QĐ-TTg
phê duy
ệ
t
Đề
án thu hút và sử
dụng
nguồn hỗ trợ phát tri
theo hướng hi
ệ
n đ
ạ
i.
- Xây dựng
kết cấu hạ t
ầ
ng xã hội (y
tế,
giáo
dục
và đào
tạo,
dân s
ố
và phát tri
ể
n và một số lĩnh vực khác).
- B
ả
o
vệ
môi truờng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Tăng cường năng lực
thể chế
và phát tri
ể
n nguồn nhân lực, chuy
ể
t hợp xóa đói
giảm
nghèo có các chương trình và d
ự
án ODA ký
kết
trong thời kỳ 1993-2008
đạt
tổng trị giá kho
ả
ng 5,5 tỷ USD,
trong đó có nhi
ề
u dự án quy mô lớn như Dự án gi
ả
m nghèo các tỉnh vùng
núi phía B
ắ
c, Dự án phát tri
ể
n cơ sở
hạ t
ầ
ng nông thôn dựa vào cộng đ
ồ
ng,
Dự án phát tri
ể
n sinh k
ế
ể
n nông
nghi
ệ
p và
cải thi
ệ
n một bước quan trọng đời sống người dân các vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thi
ể
u số, nh
ấ
t là trong vi
ệ
c
tiếp cận
tới các
dịch
vụ
công trong các lĩnh vực y
tế,
giáo d
ụ
c.
Năng lượng và Công nghi
ệ
p là lĩnh vực sử
dụng
nguồn vốn ODA
lớn với các dự án đã ký trong thời gian qua
ể
n m
ạ
ng truy
ề
n
tải
và phân phối
đi
ệ
n quốc gia đáp ứng nhu
cầu đi
ệ
n gia tăng hàng năm cho
sản xu
ấ
t và đời
s
ố
ng ở các thành phố, thị tr
ấ
n, thị xã, khu công nghi
ệ
p và khu vực nông
thôn trên
cả
nước. Đây là nguồn vốn lớn và có ý nghĩa trong bối c
ả
nh nguồn v
ố
ậ
m.
Giao thông
Vận tải
và Bưu chính vi
ễ
n thông
là ngành
tiếp nh
ậ
n
vốn ODA lớn nh
ấ
t với tổng giá trị
hi
ệ
p định ký
kết đạt kho
ả
ng 9,88
t
ỷ
USD thời kỳ 1993-2008. Nh
ờ
nguồn vốn này, Vi
ệ
t Nam đã khôi
phục
và
bước
ể
n các ngành, lĩnh vực và địa
phương,
kể cả
thu hút nguồn vốn
đầu
tư trực
tiếp
nước ngoài
3
.
2
Nhà máy nhi
ệ
t đi
ệ
n Phú Mỹ 2.1 công su
ấ
t 288 MW; nhà máy nhi
ệ
t đi
ệ
n
Phả Lại
II
công su
ấ
t 600 MW; nhà máy thuỷ đi
ệ
n Hàm Thu
ầ
m đường bộ đèo
Hải
Vân, c
ả
ng bi
ể
n nước sâu
Cái Lân, c
ả
ng Tiên Sa (Đà N
ẵ
ng), c
ả
ng Sài Gòn, nhà ga quốc t
ế
sân bay Tân Sơn Nh
ấ
t,
các
cầu
lớn như
cầu
Mỹ Thu
ậ
n,
cầu C
ầ
n Thơ,
cầu
cấp
nước sinh ho
ạ
t được tài tr
ợ
b
ằ
ng nguồn vốn ODA. Các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh,
Hải
Phòng, Đà N
ẵ
ng, hi
ệ
n đang tri
ể
n khai thực hi
ệ
n nhi
ề
u dự án
ODA phát tri
ể
n cơ sở
hạ t
ầ
ng đô thị quan trọng, quy mô lớn như đường s
ắ
t
nội đô, thoát nước và xử lý nước th
ng 4,3 tỷ USD.
Trong lĩnh vực giáo
dục
đào
tạo,
ODA hỗ trợ cho vi
ệ
c thực hi
ệ
n c
ả
i
cách giáo
dục ở
tất c
ả
các
cấp
học (giáo
dục tiểu
học, trung học c
ơ
s
ở
,
trung học phổ thông, giáo
dục đại
học, cao đ
ẳ
ng và
n lý.
Trong lĩnh vực y
tế,
vốn ODA không hoàn
lại chi
ế
m
t
ỷ
trọng cao,
kho
ả
ng 58% trong tổng vốn ODA (kho
ả
ng 0,9 tỷ USD) đã được sử d
ụ
ng
để
tăng cường cơ sở
vật ch
ấ
t và kỹ thu
ậ
t cho công tác khám và chữa b
ệ
nh
(xây dựng b
ệ
nh vi
ệ
t kháng sinh, trung tâm truy
ề
n máu quốc gia, , tăng
cường công tác k
ế
ho
ạ
ch hóa gia đình, phòng chống HIV/AIDS và b
ệ
nh
truy
ề
n nhi
ễ
m như lao, sốt rét; đào
tạo
cán bộ y
tế,
hỗ trợ xây dựng chính
sách và nâng cao năng lực qu
ả
n lý ngành.
Nhi
ề
u chương trình và d
ự
án ODA h
ỗ
trợ
Vi
n tr
ợ
không hoàn
lại gắn v
ớ
i
chính sách
của
WB, ADB, IMF và một số nhà tài trợ song phương như h
ỗ
trợ thực hi
ệ
n các chính sách kinh t
ế
trong lĩnh vực tài chính,
tiền tệ,
ngân
hàng, phát tri
ể
n khu vực tư nhân, cổ ph
ầ
n hóa doanh nghi
ệ
p Nhà n
ư
ớ
c,
BIỂU ĐỒ CƠ CẤU ODA THEO NGÀNH VÀ LĨNH V
Ự
C
p xóa đó
i
g
i
ả
m
ngh
è
o
Năng l
ư
ợ
ng và công
ngh
i
ệ
p
G
i
a
o
thông
v
ậ
n
h
ị
Y
t
ế
,
g
i
á
o
dục đào
t
ạ
o
Môi
tr
ư
ờ
ng, khoa học kỹ
t
hu
ậ
t
Các ngành
k
h
ả
m nghèo, bao
gồm phát tri
ể
n c
ơ
sở h
ạ
t
ầ
ng quy mô nhỏ (c
ấ
p nước, đường giao thông,
trường học, tr
ạ
m y
tế,
lưới đi
ệ
n phân phối, đi
ệ
n tho
ạ
i nông thôn, ) và
phát tri
ể
n nông nghi
ệ
p, lâm nghi
ệ
ợ
c
qu
ả
n lý ch
ặ
t
chẽ
và hi
ệ
u qu
ả
, trong 15 năm qua Chính
phủ
không ng
ừ
ng
hoàn thi
ệ
n
hệ
thống tổ chức và qu
ả
n lý nguồn vốn này. Theo tinh th
ầ
n đó,
Chính ph
ủ
thống nh
ấ
ả
n lý và sử
dụng
nguồn vốn ODA; Bộ Tài Chính
thực hi
ệ
n chức năng qu
ả
n lý tài chính đối với nguồn vốn này; B
ộ
Ngo
ạ
i
Giao, Bộ Tư Pháp, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Chính
phủ,
tham gia
qu
ả
n lý nhà nước
về
ODA theo chức năng và nhi
ệ
m
vụ cụ thể của
mình
trong chu trình ODA; các Bộ, ngành và địa phương với vai trò cơ quan ch
ủ
qu
ả
n chịu trách nhi
sở các Nghị định c
ủ
a
Chính
phủ.
Trong 15 năm qua Chính
phủ
đã ban hành 4 Nghị định
về qu
ả
n
lý và sử
dụng
ODA (Nghị định 20/CP (1994), Nghị định 87/CP (1997), Nghị
định 17/2001/NĐ-CP (2001) và Nghị định 131/2006/NĐ-CP (2006)) đáp
ứ
ng
đòi hỏi từ thực
tiễn
cung
cấp
và
tiếp nh
ậ
n nguồn vốn ODA ở từng thời kỳ.
Sử
dụng
ODA
của Vi
ệ
t Nam là gì?
Th
ứ
nh
ấ
t,
tại
15 Hội nghị Nhóm t
ư
vấn
các nhà tài tr
ợ
dành cho
Vi
ệ
t Nam (Hội nghị CG), các nhà tài trợ đã liên
tục
cam
kết
dành vốn ODA
cho Vi
ệ
t Nam năm sau cao hơn năm trước,
đạt
tổng giá trị trên 42 tỷ USD
kể cả
những lúc
nền
kinh t
ế
ế
- xã hội đúng đ
ắ
n, h
ợ
p
lòng dân
của Đ
ả
ng và Nhà nước ta. Thực
tiễn vi
ệ
n trợ phát tri
ể
n cho th
ấ
y
nguồn vốn ODA thường
đến
với những quốc gia đang phát tri
ể
n có tình
hình chính trị ổn định,
nền
kinh t
ế
tăng trưởng và phát tri
ể
n, đời sống xã
hội
tự
chủ
trong vi
ệ
c ho
ạ
ch định và thực thi các chính sách
cải
cách
theo lộ trình
của
mình, k
ể
cả
khi nhà tài tr
ợ
đòi hỏi Vi
ệ
t Nam ph
ả
i th
ự
c
hi
ệ
n các cam
kết cải
cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cổ ph
ầ
n hóa,
ngoài hi
ệ
n ở trong ranh giới an toàn.
Thứ hai, m
ặ
c dù chi
ế
m tỷ trọng không lớn, kho
ả
ng 3-4% trong GDP
của Vi
ệ
t Nam, song ODA là nguồn vốn bổ sung cho nguồn vốn
đầu
tư phát
tri
ể
n cơ sở
hạ t
ầ
ng kinh t
ế
- xã hội
của
Chính
phủ
và là ch
ấ
t xúc tác cho
các nguồn vốn
n năng lực
sản xu
ấ
t, nâng cao ch
ấ
t lượng dịch
vụ c
ủ
a
các ngành và địa phương. Các công trình giao thông như Quốc lộ 5, Quốc l
ộ
10, Quốc l
ộ
18, Đường xuyên Á Tp. H
ồ
Chí Minh - Mộc Bài,
cầu
Bính,
C
ầ
u Bãi Cháy, C
ầ
u Mỹ Thu
ậ
n, C
ả
ng hàng không Tân Sơn Nh
ấ
t, được tài
trợ từ nguồn vốn ODA đã minh chứng rõ
m y t
ế
xã và các b
ệ
nh vi
ệ
n tỉnh và huy
ệ
n, các công trình
thủy
lợi, các
ch
ợ
nông thôn,
Th
ứ
ba, ODA có vai trò quan trọng h
ỗ
tr
ợ
Vi
ệ
t Nam xây dựng và
hoàn thi
ệ
n khung
thể ch
ế
, pháp lý (xây dựng và hoàn thi
ệ
t
ế
trường và hội nh
ậ
p quốc t
ế
.
thị
Thứ t
ư
,
nguồn vốn ODA có vai trò tích cực hỗ trợ phát tri
ể
n năng
lực con người trong vi
ệ
c đào
tạo
và đào
tạo lại
hàng
vạn
cán bộ Vi
ệ
t Nam
trong thời gian qua trên
rất nhi
ề
u lĩnh vực như nghiên cứu cơ
bản
ế
n, cung
cấp
trang thi
ế
t
bị
tri
ể
n khai,
nghiên cứu và
Bên c
ạ
nh những
mặt
được nói trên, chúng ta nh
ậ
n th
ấ
y trong
thời
gian qua, công tác qu
ả
n lý và sử
dụng
nguồn vốn ODA còn có những
b
ấ
t c
ậ
t lượng; và (iii) Công tác theo dõi và đánh giá các chương
trình và dự án ODA trong bối c
ả
nh phân
cấp
chưa được các Bộ, ngành
và địa ph
ư
ơ
ng
quan tâm đúng mức. Đây cũng là những nguyên nhân
chủ yếu
làm cho m
ộ
t
số chương trình và dự án ODA chưa
đạt
được hi
ệ
u
quả
như mong mu
ố
n.
Thành công và chưa thành công đ
ề
u là những bài
học
có giá tr
ị
ệ
n, theo dõi và
- Vai trò
của
ODA là nguồn lực bổ trợ và xúc tác cho quá trình phát
tri
ể
n. Nh
ậ
n thức đúng
đắn
này
sẽ kh
ắ
c
phục
tư tưởng
thụ
động, trông
ch
ờ
vào vi
ệ
n trợ và giúp phát huy vai trò
chủ
động, sáng
tạo
trong phát tri
ể
n.
sẻ
chia trách nhi
ệ
m
giữa Vi
ệ
t Nam và nhà tài trợ
sẽ
góp ph
ầ
n đ
ả
m
bảo
sự thành công
của
các
chương trình, dự án ODA.
ODA s
ẽ
vẫn ti
ế
p
tục
là ngu
ồ
n
vốn bổ
sung quan tr
ọ
ho
ạ
ch phát tri
ể
n kinh
t
ế
- xã hội 5 năm
2006-2010 Vi
ệ
t Nam s
ẽ
tr
ở
thành nước đang phát tri
ể
n có mức thu nh
ậ
p
trung bình (MIC) và theo
tập
quán tài trợ quốc t
ế
Vi
ệ
t Nam
sẽ nh
ậ
n được
ít hơn các nguồn vốn vay ODA ưu đãi như hi
nợ ch
ắ
c ch
ắ
n như xây dựng các nhà máy đi
ệ
n,
kể cả
các nhà máy đi
ệ
n
nguyên tử; phát tri
ể
n các tuy
ế
n đường cao tốc thu phí,
kể
c
ả
trong các
thành phố lớn; phát tri
ể
n
hệ
thống
vận tải
bánh
sắt
quy mô
vận tải
đẩy
phát tri
ể
n một ngành, một địa bàn lãnh th
ổ
,
Trong thời gian tới vi
ệ
c thu hút và sử
dụng
ODA
cần tập
trung vào
một số nhi
ệ
m
vụ cụ thể nh
ư
:
- Các Bộ, ngành và địa phương
cần
nỗ lực chu
ẩ
n bị các chương trình
và dự án đã được cam
kết
vốn
để
ký
kết hi
n sau năm 2010.
- Sau năm 2010 ưu tiên sử
dụng
ODA, nh
ấ
t là ODA vốn vay kém
ư
u
đãi cho các chương trình, dự án có
khả
năng hoàn vốn cao,
tạo
được ngu
ồ
n
thu.
- Mở rộng thành ph
ầ
n được
tiếp cận
và sử
dụng
nguồn vốn ODA,
kể cả
khu vực tư nhân trong nước trên cơ sở quan
hệ
đối tác công –tư k
ế
t
hợp trong
quả
sử
dụng
và thực hi
ệ
n
trả
nợ vốn vay cho các nhà tài tr
ợ
.
Nâng cao hi
ệ
u
quả vi
ệ
n
trợ
là
mối
quan tâm chung
Trong những năm
gần
đây, trên bình di
ệ
n quốc
tế,
khu vực và ở t
ừ
ng
quốc gia đang phát tri
c
nâng cao hi
ệ
u
quả vi
ệ
n trợ. Đó là Di
ễ
n đàn
cấp
cao
lần th
ứ
nh
ấ
t
về
hài
hòa hóa quy trình và
thủ tục
ODA tổ chức
tại
Rome, I-ta-lia năm 2003 v
ớ
i
Tuyên bố Rome
về
Hài hòa
thủ tục, Di
ễ
cao
lần
thứ
ba
về hi
ệ
u
quả vi
ệ
n trợ di
ễ
n ra
tại
Accra, Ghana vào tháng 9 năm 2008
v
ớ
i vi
ệ
c thống nh
ấ
t Chương trình Hành động Accra (AAA). Ngoài ra,
rất
nhi
ề
u các cuộc hội th
ả
o quốc t
ế
và khu vực khác đã được tổ chức
tập
dụng
nguồn vốn này
của
Chính
phủ Vi
ệ
t
Nam. Thực hi
ệ
n chính sách này, trong thời gian qua, Vi
ệ
t Nam đã
đ
ư
ợ
c cộng đồng tài trợ quốc t
ế
đánh giá là quốc gia đi tiên phong trong
vi
ệ
c nâng cao hi
ệ
u
quả vi
ệ
n tr
ợ
.
Chính
phủ Vi
i hoàn c
ả
nh và các đi
ề
u ki
ệ
n phát tri
ể
n
cụ thể của Vi
ệ
t Nam.
Ngay sau khi Chương trình hành động Accra (AAA) được quốc t
ế
thông qua, Phó Th
ủ
tướng Chính ph
ủ
Vi
ệ
t Nam Ph
ạ
m Gia Khiêm đã phê
duy
ệ
t văn ki
ệ
n này và giao cho Bộ
Kế ho
ạ
của
Văn phòng Chính ph
ủ
).
Thực hi
ệ
n quy
ế
t định nêu trên
của
Phó
Thủ
tướng Chính
phủ, m
ộ
t
loạt
các ho
ạ
t động thực hi
ệ
n Chương trình hành động Accra đã được trù
liệu
bao gồm các ho
ạ
t động truy
ề
n thông nâng cao nh
ậ
n thức, xây dựng các
Hà Nội
về hi
ệ
u
quả vi
ệ
n trợ vào năm 2010.
Các ho
ạ
t động nâng cao hi
ệ
u qu
ả
vi
ệ
n trợ ở Vi
ệ
t Nam được tri
ể
n
khai trong khung khổ Nhóm Quan
hệ
đối tác
về Hi
ệ
u
quả vi
ệ
n trợ (PGAE),
22 Nhóm quan h
ạ
t động nâng
cao hi
ệ
u qu
ả
vi
ệ
n tr
ợ
của
EC, Nhóm các nhà tài tr
ợ
đồng chính ki
ế
n
(LMDG) và
của
một số nhà tài trợ song phương và đa phương khác.
Các ho
ạ
t động nâng cao hi
ệ
u
quả vi
ệ
n trợ đang giúp Vi
ệ
t Nam c
ả
i.