LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống cơ sở hạ tầng có tác động to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước bởi vì nó là nền tảng, là tiền đề khi thực hiện bất cứ một hoạt động
đầu tư nào đồng thời cơ sở hạ tầng phát triển sẽ góp phần thu hút vào đầu tư nước
ngoài Vì vậy, ngành Xây dựng giao thông có vai trò vô cùng quan trọng trong công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng giao thông được tiêu thụ trước khi tiến hành
sản xuất thông qua việc kí kết hợp đồng xây dựng. Chính vì vậy, việc “Lập dự toán
xây dựng công trình” để xác định giá của sản phẩm xây dựng giao thông là điều hết
sức quan trọng đối với chủ đầu tư.
Tính cấp thiết: Việc “Lập dự toán xây dựng công trình” là căn cứ để nhà đầu tư
xác định nguồn vốn của mình, khả năng huy động vốn và vay vốn để đầu tư, tính chính
xác của công tác lập dự toán càng cao thì nhà đầu tư càng chủ động trong công tác
chuẩn bị nguồn vốn. Chính vì nhận thấy tầm quan trọng của công tác lập dự toán nên
em đã lựa chọn đề tài tốt nghiệp “Lập dự toán xây dựng công trình”.
Kết cấu đề tài bao gồm:
Phần 1: Cơ sở lý luận
Chương 1: Những vấn đề chung về dự toán xây dựng công trình
Chương 2: Phương pháp lập dự toán xây dựng công trình
Phần 2: Lập dự toán xây dựng công trình
Chương 1: Giới thiệu chung về công trình
Chương 2: Lập dự toán xây dựng công trình.
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Giao thông vận tải cơ sở 2 đã tạo
điều kiện cho em được học tập tại trường trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn các quí thầy cô trong Khoa Vận Tải- Kinh Tế
Bộ môn Kinh Tế Xây Dựng đã truyền đạt cho em những kiến thức khoa học qua
những bài giảng trên ghế nhà trường.
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp và để có thể hoàn thành luận văn
này. Em xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo Th.s.Lê Trọng Tùng cùng tất cả các thầy
giáo trong khoa đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình làm
luận văn tốt nghiệp.
dựng ban hành kèm theo công văn số 1776/2007/BXD-VP ngày 16/08/2007.
- Định mức dự toán xây dựng công trình – Phần lắp đặt của Bộ xây dựng ban
hành kèm theo công văn số 1777/2007/BXD-VP ngày 16/08/2007.
- Công bố giá vật liệu xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tháng
8/2013 của Sở xây dựng TP. Hồ Chí Minh
- Bảng báo giá vật tư, vật liệu của một số mặt hàng khác tại thời điểm lập thiết
kế.
- Giáo trình Kinh tế xây dựng do Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải xuất bản.
- Giáo trình Định mức kỹ thuật và định giá sản phẩm trong xây dựng do Nhà xuất
bản Giao Thông Vận Tải xuất bản
2
MỤC LỤC
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ SỰ HÌNH THÀNH
CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ VỐN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG 5
1.1.1. Sự cần thiết của quá trình đầu tư xây dựng 5
1.1.2. Khái niệm và vai trò của hoạt động đầu tư xây dựng 6
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động đầu tư xây dựng 6
1.1.2.2. Vai trò của đầu tư xây dựng 6
1.1.3. Đặc điểm sản phẩm xây dựng 6
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CHI PHÍ
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1. Những vấn đề chung về hoạt động đầu tư và vốn đầu tư xây dựng
1.1.1. Sự cần thiết của quá trình đầu tư xây dựng
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người đã chứng minh : Con người tồn
tại không thể không có xây dựng cơ bản. Nhu cầu xây dựng cơ bản là nhu cầu thường
dụng xây dựng giao thông như 1 công cụ của mình. Vì đầu tư vào lĩnh vực giao thông
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho xã hội và đóng vai trò tiêu dùng hàng hóa do nguồn
vật liệu xây dựng chủ yếu là nguồn vật liệu trong nước.
Để các dự án đầu tư này được thực hiện thì cần có nguồn kinh phí dùng để đầu
tư, do các dự án đầu tư xây dựng giao thông có chi phí lớn và thu hồi vốn chậm, nên
các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này còn hạn chế. mà nguồn kinh phí
đầu tư dự án chủ yếu là do nhà nước đầu tư. Để dự án đầu tư được tiến hành thông
suốt và hiệu quả thì nguồn chi phí dự án dầu tư phải đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp
thời. Vì vậy chúng ta cần tìm hiểu quá trình hình thành chi phí dự án đầu tư xây dựng
công trình 1 cách rõ ràng để tìm kiếm nguồn kinh phí đầu tư cho dự án sao cho đạt
hiệu quả cao nhất.
1.1.2. Khái niệm và vai trò của hoạt động đầu tư xây dựng
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động đầu tư xây dựng
Hoạt động đầu tư nói chung là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội để
thu được những lợi ích dưới các hình thức khác nhau.
Hoạt động đầu tư thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng các tài sản cố định gọi
là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
1.1.2.2. Vai trò của đầu tư xây dựng
Đầu tư xây dựng cơ bản có ý nghĩa quyết định đến quy mô xây dựng và tốc độ
phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và từng ngành kinh
tế.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ lần đầu tiên được hình thành. Hoạt
động đầu tư nhằm tạo ra nhà xưởng, mua sắm thiết bị để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật
cho cơ sở này, mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động trong chu kỳ
sản xuất kinh doanh dịch vụ đầu tiên.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang hoạt động , hoạt động đầu tư
nhằm mua sắm thêm các máy móc thiết bị, xây dựng thêm một số nhà xưởng và tăng
thêm vốn lưu động nhằm mở rộng quy mô
1.1.3. Đặc điểm sản phẩm xây dựng
1.1.3.1. Khái niệm về sản phẩm xây dựng.
- Quá trình phát triển của xây dựng giao thông cũng phải trải qua 3 giai đoạn
tương tự như trong công nghiệp: thủ công, công trường thủ công, cơ khí.
Tất cả những đặc điểm giống nhau đó cho phép người ta khẳng định: xây dựng
giao thông mang tính chất của một ngành sản xuất vật chất.
Nếu xem xét xây dựng giao thông là một chuyên ngành của xây dựng cơ bản, thì
nó cũng mang đầy đủ những tính chất của ngành xây dựng cơ bản:
+ Xây dựng cơ bản tồn tại độc lập bằng những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng
của mình về mặt: sản phẩm và hoạt động xây lắp.
+ Xây dựng cơ bản cũng như xây dựng giao thông có cơ sở vật chất kỹ thuật,
công nhân, cán bộ riêng của mình.
+ Hệ thống tổ chức, phương pháp quản lý, phương thức kinh doanh trong xây
dựng cơ bản cũng chứa đựng những đặc thù riêng và độc lập.
Bên cạnh những đặc điểm chung, xây dựng giao thông và sản phẩm của nó còn
có những đặc điểm riêng:
- Sản phẩm xây dựng giao thông có tính đơn chiếc: Trong khi sản phẩm của
ngành công nghiệp và các ngành khác được sản xuất hàng loạt trong điều kiện ổn định
trong nhà xưởng, về chủng loại, kích thước, mẫu mã, kỹ thuật và công nghệ được tiêu
chuẩn hóa. Sản phẩm xây dựng giao thông thường được sản xuất theo đơn đặt hàng
đơn chiếc, được sản xuất ra ở những địa điểm, điều kiện khác nhau, chi phí cũng
thường khác nhau đối với cùng một loại hình sản phẩm. Khả năng trùng lặp về mọi
phương diện: kỹ thuật, công nghệ, chi phí, môi trường rất ít, ngay cả trong xu hướng
5
công nghiệp hóa ngành xây dựng thì ảnh hưởng của tính đơn chiếc cũng chưa được
loại trừ.
Từ đó dẫn tới giá của sản phẩm xây dựng giao thông có tính khác biệt cao, giá
xây dựng không thể định trước hàng loạt cho các công trình toàn vẹn mà phải xác định
cụ thể cho từng trường hợp theo đơn dặt hàng cụ thể.
- Sản phẩm xây dựng giao thông được sản xuất ra tại nơi sẽ tiêu thụ nó: Các
công trình xây dựng giao thông đều được sản xuất ( thi công ) tại một địa điểm mà nơi
đó đồng thời gắn liền với việc tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng ( tiêu dùng ) của
dựng giao thông lớn đồng thời việc giám sát chất lượng sản phẩm phải được đặc biệt
coi trọng.
Do thời gian sử dụng sản phẩm xây dựng giao thông là dài nên nhiệm vụ sửa
chữa thường xuyên, sủa chữa lớn, cải tạo và mở rộng là một nhu cầu tất yếu và đòi hỏi
phải dành một khoản chi phí lớn.
- Chi phí sản xuất sản phẩm lớn và khác biệt theo từng công trình. Giá trị của sản
phẩm xây dựng giao thông thường lớn hơn rất nhiều so với những sản phẩm hàng hóa
6
thông thường. Chi phí đầu tư cho công trình thường rải ra trong một thời kỳ dài. Trong
phương thức đấu thầu, người nhận thầu nhiều khi phải có một lượng vốn đủ lớn để đưa
ra hoạt động trong thời gian đợi vốn của chủ đầu tư.
- Tính chất đơn chiếc và chịu ảnh hưởng của nơi xây dựng làm cho chi phí sản
xuất của từng sản phẩm xây dựng giao thông rất khác nhau. Ngay cùng một sản phẩm
có kết cấu kiến trúc giống nhau thì cũng có sự khác nhau về chi phí sản xuất, đó là các
hao phí về lao động sống và quá khứ. Vì thế việc xác định chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm xây dựng giao thông phải được tiến hành riêng biệt đối với từng sản
phẩm.
1.1.3.3. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất xây dựng giao thông
Do những phẩm xây dựng giao thông có những đặc điểm riêng biệt, nên sản xuất
xây dựng giao thông có những đặc điểm riêng của nó. Những đặc điểm ấy có thể khái
quát như sau:
Sản xuất xây dựng chỉ được tiến hành khi có đơn đặt hàng (hợp đồng xây dựng)
của người mua sản phẩm, nó không thể sản xuất khi chưa có người đặt hàng. Sau khi
sản phẩm hoàn thành thì không cần thiết phải tìm thị trường tiêu thụ. Sản xuất xây
dựng chỉ được tiến hành khi đả được chủ đầu tư chấp thuận và ký vào hợp đồng giao
nhận thầu.
Quá trình sản xuất luôn di động, hệ số biến động lớn. Do sản phẩm gắn liền với
nơi tiêu thụ, nên địa điểm sản xuất không ổn định, thậm chí trải dài theo tuyến dẫn đến
việc phải di chuyển lực lượng lao động và các phương tiện vật chất từ công trình này
tới công trình khác và nhiều khi trong cùng một công trình sự di chuyển cũng diễn ra
phương án để đảm bảo máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kịp thời đầy đủ. Mặt khác
phải đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Như vậy tính chất sản xuất vật chất độc lập của xây dựng giao thông và tầm quan
trọng của nó là rất rõ ràng. Chính xây dựng giao thông đã trực tiếp xây dựng cơ sở vật
chất của giao thông vận tải, góp phần tăng thêm tài sản cố định cho nền kinh tế quốc
dân. Xây dựng giao thông cùng với vận tải góp phần quan trọng trong việc phân bố lại
lực lượng sản xuất trên phạm vi toàn quốc, thực hiện tổ chức và phân công lao động
hợp lý hơn.
1.1.4. Quá trình đầu tư xây dựng
1.1.4.1. Trình tự đầu tư xây dựng
a) Khái niệm trình tự đầu tư xây dựng
Trình tự đầu tư và xây dựng được hiểu như là một cơ chế để tiến hành các hoạt
động đầu tư và xây dựng, trong đó quy định rõ thứ tự, trong đó định rõ thứ tự, nội
dung các công việc cùng trách nhiệm và mối quan hệ của các bên hữu quan trong việc
thực hiện các công việc đó.
b) Nội dung của quá trình đầu tư xây dựng
1.1.4.2. Các giai đoạn đầu tư xây dựng
a) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
8
Qúa trình đầu tưĐầu vào Đầu ra
Các giai đoạn
Tài nguyên
Vật tư - Thiết bị
Tài chính
Lao động
Trí thức
Chuẩn bị đầu tư Thực hiện đầu tư
Kết thúc xây
dựng, đưa công
trình vào khai
- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp công trình.
- Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án.
Trách nhiệm của nhà thầu:
- Chuẩn bị các điều kiện cho thi công xây lắp như san lấp mặt bằng xây dựng,
điện, nước, công xưởng kho tang, bến cảng, đường sá, lán trại và công trình tạm phục
vụ thi công, chuẩn bị vật liệu xây dựng…
- Chuẩn bị các yếu tố trong quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, máu móc
thiết bị, lao động và chuẩn bị xây dựng các công trình có lien quan trực tiếp.
Giai đoạn thi công xây dựng công trình
Ở giai đoạn này, các cơ quan, các bên đối tác có liên quan đến việc xây lắp công
trình phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, cụ thể:
- Trách nhiệm của chủ đầu tư:theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng.
- Trách nhiệm của tổ chức tư vấn:giám định kỹ thuật và chất lượng công trình
theo đúng chức năng và hợp đồng đã ký kết.
- Trách nhiệm của nhà thầu:phải thực hiện đúng tiến độ và chất lượng xây dựng
như đã ghi trong hợp đồng.
c) Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng
- Nội dung công việc của giai đoạn này bao gồm nghiệm thu, bàn giao công
trình, thực hiện việc kết thúc xây dựng; vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng
công trình; bảo hành công trình; quyết toán vốn đầu tư; phê duyệt quyết toán.
- Công trình chỉ được bàn giao toàn bộ cho người sử dụng khi đã xây lắp hoàn
chỉnhtheo thiết kế được duyệt và nghiệm thu đạt chất lượng. Hồ sơ bàn giao phải đầy
9
đủ theo quy định và phải được nộp lưu trữ theo các quy định pháp luật về lưu trữ Nhà
nước.
- Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng xây dựng chỉ đươc chấm dứt hoàn toàn khi hết
thời hạn bảo hành công trình.
- Sau khi nhận bàn giao công trình chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác, sử dụng
đầy đủ năng lực công trình, hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy
đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đã đề ra trong dự án.
trò của từng nguồn để từ đó đưa ra các giải pháp huy động và sử dụng nguồn vốn cho
đầu tư Xây dựng cơ bản có hiệu quả hơn.
- Theo hình thức đầu tư :
Gồm vốn đầu tư xây dựng mới, vốn đầu tư khôi phục , vốn đầu tư mở rộng đổi
mới trang thiết bị .
Theo cách này cho ta thấy , cần phải có kế hoạch bố trị nguồn vốn cho đầu tư xây
dựng cơ bản như thế nào cho phù hợp với điền kiện thực tế và tương lai phát triển của
các ngành, của các cơ sở .
10
- Theo nội dung kinh tế:
-Vốn cho xây dựng lắp đặt
-Vốn cho mua sắm máy móc thiết bị
-Vốn kiến thiết cơ bản khác.
Như vậy hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò rất quan trọng trong quá
trình phát triển của mỗi quốc gia nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói
riêng. Để phân tích cụ thể vai trò hoạt động này chúng ta phải sử dụng các chỉ tiêu
phản ánh kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
1.2. Quá trình hình thành chi phí đầu tư xây dựng
1.2.1. Sự hình thành giá sản phẩm xây dựng
Giá cả hàng hóa là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa đã được sản xuất
và tiêu thụ trên thị trường, đồng thời biểu hiện tổng hợp các mối quan hệ kinh tế như
quan hệ cung cầu, quan hệ tích lũy –tiêu dùng, quan hệ thị trường trong nước và ngoài
nước…
Giá cả thị trường một mặt phải biểu hiện đầy đủ chi phí xã hội cần thiết (chi phí
vật chất và chi phí lao động) để tạo ra hàng hóa đảm bảo bù đắp chi phí sản xuất, lưu
thông và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nhờ có giá cả Nhà nước có kế hoạch hóa và kiểm tra chi phí xã hội cần thiết
cân đối nền kinh tế quốc dân, tính toán chi phí và kết quả sản xuất, so sánh hiệu quả
kinh tế của việc sản xuất và sử dụng các loại sản phẩm khác nhau mà không so sánh
trực tiếp được.
dụng, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, khí hậu nơi xây dựng. Tính chất
riêng biệt của sản phẩm xây dựng dẫn đến sự khác nhau về khối lượng công tác và
phương thức thực hiện chúng. Ngay cả khi xây dựng theo thiết kế mẫu cũng đòi hỏi
những thay đổi về khối lượng công tác do liên quan đến các điều kiện cụ thể về địa
hình, địa chất, khí hậu. thủy văn …nơi xây dựng.
Sự đa dạng của các điều kiện khí hậu, tự nhiên và điều kiện kinh tế theo các
vùng trong nước dẫn đến sự khác nhau về giá cả vật liệu, chi tiết, kết cấu, chi phí vận
chuyển chúng đến nơi xây dựng, về năng suất lao động và tiền lương của công nhân
xây dựng cũng như hệ số về sử dụng thời gian và năng suất của xe máy thi công do
đó dẫn đến sự khác nhau của giá thành công tác xây lắp.
Ngoài ra khi tiến hành xây dựng công trình ở những vùng mới còn phải tiến
hành xây dựng những xí nghiệp sản xuất phụ trợ hoặc xây dựng những công trình tạm
loại lớn… Tất cả những điều đó làm cho sản phẩm xây dựng không có giá thống nhất
trên thị trường như các sản phẩm công nghiệp. Từng sản phẩm xây dựng có giá trị
riêng được xác định bằng phương pháp riêng gọi là phương pháp lập dự toán. Thông
qua cơ chế đấu thầu giá sản phẩm được xác định khách quan theo quy luật của nền
kinh tế thị trường.
1.2.1.1. Phương pháp xác định giá sản phẩm xây dựng
Như trên đã trình bày: từng sản phẩm xây dựng có giá trị riêng được xác định
bằng phương pháp riêng gọi là phương pháp lập dự toán, thông qua cơ chế đấu thầu
giá sản phẩm xây dựng được xác định khách quan theo quy luật của nền kinh tế thị
trường.
Cơ sở để lập dự toán là khối lượng công tác được xác định theo tài liệu thiết kế
và đơn giá xây dựng cơ bản.
- Căn cứ vào hồ sơ thiết kế kĩ thuật và biện pháp tổ chức thi công chỉ đạo để xác
định khối lượng công tác.
- Các bộ đơn giá do ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ban hành áp dụng cho
các công trình xây dựng trong khu vực thuộc phạm vi của tình, thành phố đó. Các bộ
đơn giá xây dựng phải dựa trên cơ sở:
+Căn cứ vào định mức dự toán.
tế - kỹ thuật, tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán xây dựng công trình được xác định
phù hợp với nội dung báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công.
- Tổng mức đầu tư là một trong những cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế và lựa
chon phương án đầu tư; là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực
hiện đầu tư xây dựng công trình.
- Tổng mức đầu tư do chủ đầu tư lập; trong trường hợp chủ đầu tư không đủ năng
lực thì thuê đơn vị tư vấn thiết kế lập.
b) Nội dung
Tổng mức đầu tư bao gồm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí xây dựng bao gồm: Chi phí phá và tháo dỡ các công trình xây dựng; chi
phí san lấp mặt bằng xây dựng; chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình
chính, công trình tạm, công trình phục vụ thi công; chi phí nhà tạm tại hiện trường để
ở và phục vụ điều hành thi công.
- Chi phí thiết bị bao gồm: Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (kể cả thiết bị
công nghệ cần sản xuất, gia công); chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ; chi phí
13
lắp đặt và thí nghiệm, hiệu chỉnh thiết bị; chi phí vận chuyển, bảo hiểm thiết bị; thuế,
phí và các khoản chi phí có liên quan khác.
- Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao gồm: chi phí bồi thường nhà cửa,
vật kiến trúc, cây trồng trên đất và các chi phí bồi thường khác; các khoản hỗ trợ khi
nhà nước thu hồi đất; chi phí thực hiện tái định cư có liên quan đến bồi thường giải
phóng mặt bằng của dự án; chi phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ tái định cư; chi phí sữ
dụng đất trong thời gian xây dựng; chi phí chi trả cho hạ tầng kỹ thuật đả đầu tư.
- Chi phí quản lý dự án là các chi phí cần thiết cho chủ đầu tư để tổ chức quản lý
việc thực hiện các công việc quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự
án đến khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao, đưa công trình vào khai thác sử dụng và
chi phí giám sát, đánh giá dự án đầu tư
- Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm: chi phí tư vấn khảo sát, lập dự án,
thiết kế, giám sát xây dựng và các chi phí tư vấn khác liên quan.
- Chi phí khác bao gồm: vốn lưu động trong thời gian sản xuất thử đối với các dự
- Tính trên cơ sở số liệu của các dự án có chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tương tự đã
thực hiện. Trường hợp áp dụng phương pháp này phải tính quy đổi các số liệu của dự
án tương tự về thời điểm lập dự án và điều chỉnh các khoản mục chi phí chưa xác định
trong tổng mức đầu tư;
- Kết hợp các phương pháp trên.
1.2.2.2. Dự toán xây dựng công trình
a) Khái niệm
- Dự toán xây dựng công trình là chỉ tiêu biểu thị giá xây dựng công trình được
xác định trên cơ sở khối lượng xác định theo thiết kế kỹ thuật (đối với công trình thiết
kế 3 bước) hoặc theo thiết kế bản vẽ thi công (đối với công trình thiết kế 1 bước và 2
bước) trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình.
b) Nội dung
Dự toán xây dựng công trình bao gồm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí xây dựng.
- Chi phí thiết bị.
- Chi phí quản lý dự án.
- Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng.
- Chi phí khác.
- Chi phí dự phòng.
.
1.2.2.3. Giá gói thầu
- Giá gói thầu chính là giá trị của gói thầu được ghi trong kế hoạch đấu thầu, xác
định trên cơ sở tổng mức đầu tư, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành.
- Đối với các gói thầu dịch vụ tư vấn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo
nghiên cứu khả thi, giá gói thầu được xác định trên cơ sở các thông tin sau: giá trung
bình theo thống kê các dự án đã thực hiện liên quan của ngành trong khoảng thời gian
xác định; ước tính tổng mức đầu tư theo định mức suất đầu tư của các dự án thuộc
từng lĩnh vực chuyên ngành; sơ bộ tổng mức đầu tư.
- Trường hợp gói thầu gồm nhiều lô thì nêu rõ giá trị ước tính cho từng phần
trong giá gói thầu.
- Quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng: là sự tác động có tổ chức và điều
chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người
trong các hoạt động đầu tư và xây dựng để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội
và trật tự pháp luật theo đúng mục tiêu đề ra.
1.3.1.2. Yêu cầu cơ bản của quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng
Quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Bảo đảm đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ
trong định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư, các nguồn tài
nguyên, bảo vệ môi trường, chống thất thoát, tham ô, lãng phí.
- Xây dựng theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế được duyệt, bảo đảm mỹ quan,
bền vững, chất lượng, thời gian và hiệu quả tối thiểu cho phép.
1.3.1.3. Những nguyên tắc cơ bản của quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng
Một là: Nhà nước thống nhất quản lý đầu tư và xây dựng đối với tất cả các thành
phần kinh tế về mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội; quy hoạch và kế hoạch
phát triển ngành, lãnh thổ; quy hoạch và kế hoạch xây dựng đô thị và nông thôn; quy
chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng; lựa chọn công nghệ, sử dụng đất đai, tài
nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái; thiết kế kỹ thuật, kiến trúc, xây lắp, bảo hiểm,
bảo hành công trình và các khía cạnh xã hội khác của dự án.
Riêng các dự án sử dụng vốn của Nhà nước thì Nhà nước còn quản lý về các mặt
thương mại, tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án.
Hai là: Thực hiện đúng trình tự đầu tư xây dựng.
Ba là: Phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất
kinh doanh. Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, trách nhiệm
của chủ đầu tư, của các tổ chức tư vấn và trách nhiệm của các tổ chức sản xuất kinh
doanh đối với việc sử dụng vốn đầu tư, phân định quản lý vốn đầu tư với quản lý xây
dựng, thực hiện phân công, phân cấp trong quản lý vốn đầu tư và quản lý XDCB bảo
đảm đạt hiệu quả kinh tế cao.
1.3.1.4. Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng
Quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng được thực hiện theo các nội dung sau:
công trình đã được người quyết đinh đầu tư hoặc chủ đầu tư phê duyệt theo quy định
là cơ sở để các tổ chức có chức năng thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán
chi phí đầu tư xây dựng công trình.
1.3.2.2. Quản lý tổng mức đầu tư
a) Thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư xây dựng công trình
- Khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối
với các trường hợp không phải lập dự án, chủ đầu tư phải xác định tổng mức đầu tư để
tính toán hiệu quả đầu tư xây dựng. Tổng mức đầu tư được ghi trong quyết định đầu tư
do người quyết định đầu tư phê duyệt là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử
dụng để đầu tư xây dựng công trình và là cơ sở lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực
hiện đầu tư xây dựng công trình.
- Nội dung, thẩm quyền thẩm định tổng mức đầu tư:
+ Thẩm định tổng mức đầu tư là một nội dung của việc thẩm định dự án đầu tư
xây dựng công trình, bao gồm các nội dung:
•Sự phù hợp của phương pháp xác định tổng mức đầu tư với đặc điểm, tính chất
kỹ thuật và yêu cầu công nghệ của dự án đầu tư xây dựng công trình.
•Tính đầy đủ, hợp lý và phù hợp với yêu cầu thực tế của thị trường của các
khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư.
•Xác định giá trị tổng mức đầu tư đảm bảo hiệu quả đầu tư xây dựng công trình.
17
+ Người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định tổng mức đầu tư hoặc thuê các tổ
chức, cá nhân tư vấn thực hiện công tác quản lý chi phí đủ điều kiện năng lực thẩm tra.
Lệ phí thẩm định hoặc chi phí thẩm định được tính trong tổng mức đầu tư. Các tổ
chức, cá nhân thực hiện việc thẩm định, thẩm tra tổng mức đầu tư phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về tính hợp lý, chính xác của kết quả thẩm định, thẩm tra.
+ Tổng mức đầu tư được ghi trong quyết định đầu tư do người quyết định đầu tư
phê duyệt.
Trường hợp thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực, kinh nghiệm
chuyên môn để thẩm tra tổng mức đầu tư thì nội dung thẩm tra như nội dung thẩm
định; chi phí thẩm tra được xác định trên cơ sở định mức chi phí tỷ lệ hoặc bằng cách
trọng quốc gia và dự án nhóm A, 9 tháng đối với các dự án nhóm B và 6 tháng đối với
các dự án nhóm C kể từ ngày công trình hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng. Sau
6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng hoàn thành,
chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản dự án tại cơ quan
thanh toán vốn đầu tư.
18
Đối với các công trình, hạng mục mục công trình độc lập hoàn thành đưa vào sử
dụng thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình, việc quyết toán thực hiện theo yêu cầu
của chủ đầu tư.
- Thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư
+ Đối với các dự án quan trọng quốc gia và các dự án quan trọng khác do Thủ
tướng quyết định đầu tư:
• Bộ trưởng Bộ tài chính phê duyệt quyết toán các dự án thành phần sử dụng vốn
ngân sách Nhà nước; được ủy quyền hoặc phân cấp phê duyệt quyết toán các dự án
thuộc thẩm quyền;
• Chủ đầu tư phê duyệt quyết toán các dự án thành phần không sử dụng vốn ngân
sách Nhà nước.
+ Đối với các dự án còn lại: người quyết định đầu tư là người có thẩm quyền phê
duyệt quyết toán vốn đầu tư. Riêng các dự án có ủy quyền quyết định đầu tư, người
quyết định đầu tư quy định việc phê duyệt quyết toán vốn đầu tư
CHƯƠNG 2:
PHƯƠNG PHÁP LẬP DỰ TOÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
2.1. Khái niệm và vai trò của dự toán xây dựng công trình
2.1.1. Khái niệm của dự toán xây dựng công trình
- Dự toán xây dựng công trình là chỉ tiêu biểu thị giá xây dựng công trình được
xác định trên cơ sở khối lượng xác định theo thiết kế kỹ thuật (đối với công trình thiết
kế 3 bước) hoặc theo thiết kế bản vẽ thi công (đối với công trình thiết kế 1 bước và 2
bước) trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình.
2.1.2. Vai trò của dự toán xây dựng công trình
Dự toán xây dựng công trình:
cung ứng tại thời điểm lập dự toán.
Và các văn bản khác có liên quan đến việc lập dự toán.
2.3. Trình tự lập dự toán xây dựng công trình
- Nghiên cứu hồ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế tổ chức thi công
- Nghiên cứu hồ sơ thiết kế kỹ thuật để nắm vững được tổng quát dạng kết cấu
công trình, các hạng mục và bộ phận công trình chủ yếu, khối lượng công việc.
- Nghiên cứu hồ sơ thiết kế tổ chức thi công để nắm được tiến độ thi công, biện
pháp thi công các hạng mục, các loại máy thi công chủ yếu.
- Những công trình tạm loại lớn phải lập dự toán riêng như; đường công vụ, cầu
tránh, đường tránh, hệ đà giáo, giàn giáo để đóng cọc cầu lớn.
- Liệt kê các hạng mục công trình cần phải lập dự toán.
- Sau khi nghiên cứu hồ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế tổ chức thi công thống kê
các hạng mục công trình có kết cấu giống nhau và biện pháp thi công tương tự thì có
thể lập chung một dự toán hoặc chỉ cần lập cho một hạng mục, một bộ phận công trình
và sử dụng kết quả cho các hạng mục và bộ phận khác.
- Liệt kê các bộ phận công trình trong dự toán hạng mục.
- Liệt kê các công tác chủ yếu của từng bộ phận.
- Nguời lập dự toán phải hình dung hết mọi công việc phải làm của từng bộ phận
công trình. Nếu không sẽ dẫn đến bỏ sót công việc và dẫn đến dự toán không đầy đủ,
thiếu kinh phí. Vì vậy cán bộ dự toán phải là người đã trải qua thi công và có nhiều
kinh nghiệm trong tổ chức thi công.
- Nghiên cứu các định mức dự toán, các bộ đơn giá đã ban hành.
- Đối chiếu nội dung thành phần công việc, các hạng mục công tác đã liệt kê phù
hợp với mã hiệu nào trong bộ đơn giá xây dựng cơ bản, ghi số mã hiệu đó vào bên trái
các hạng mục công tác đã liệt kê. Nếu những mã hiệu đơn giá hay định mức dự toán có
nội dung thành phần công việc bao gồm 2 hoặc 3 nội dung công việc liệt kê thì điều
chỉnh bảng liệt kê công tác cho phù hợp mã hiệu đơn giá.
- Liệt kê các danh mục công tác chưa có mã hiệu đơn giá trong bộ đơn giá địa
phương. Xây dựng đơn giá cho các danh mục công tác đó. Việc xây dựng đơn giá chi
20
Thu nhập
chịu thuế
tính trước
Chi phí
chung
Thuế giá trị
gia tăng
Chi phí nhà
tạm
tại hiện trường
Chi phí mua sắm
thiết bị công nghệ
Chi phí lắp đặt
thiết bị và thí
nghiệm hiệu chỉnh
Chi phí đào tạo và
chuyển giao công
nghệ
Chi phí dự phòng
cho yếu tố công
việc phát sinh
Chi phí dự phòng
cho yếu tố trượt
giá
NỘI DUNG DỰ TOÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
2.5. Phương pháp lập dự toán
Dự toán công trình được xác định trên cơ sở thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ
thi công. Dự toán công trình bao gồm: chi phí xây dựng (G
XD
); chi phí thiết bị (G
Chi phí xây dựng: được xác định cho công trình, hạng mục công trình, bộ phận,
phần việc, công tác của công trình, hạng mục công trình đối với công trình chính, công
trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công, nhà tạm để ở và điều hành thi công theo
một trong các phương pháp sau:
2.5.1.1. Phương pháp tính theo khối lượng và giá xây dựng công trình
a) Xác định theo khối lượng và đơn giá xây dựng công trình
Khối lượng các công tác xây dựng được xác định từ bản vẽ thiết kế kỹ thuật
hoặc thiết kế bản vẽ thi công, từ yêu cầu, nhiệm vụ cần thực hiện của công trình, hạng
mục công trình phù hợp với danh mục và nội dung công tác xây dựng trong đơn giá
xây dựng công trình.
Đơn giá xây dựng công trình có thể là đơn giá không đầy đủ (bao gồm chi phí
vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công) hoặc đơn giá đầy đủ (bao gồm chi
phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công chi phí trực tiếp khác, chi phí
chung và thu nhập chịu thuế tính trước).
b) Xác định theo khối lượng và giá xây dựng tổng hợp
Khối lượng công tác xây dựng dùng để xác định chi phí xây dựng theo giá xây
dựng công trình được xác định từ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi
công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình, hạng mục công trình và được
tổng hợp từ một nhóm các công tác xây dựng để tạo thành một đơn vị kết cấu hoặc bộ
phận của công trình.
Giá xây dựng tổng hợp được lập tương ứng với danh mục và nội dung của khối
lượng nhóm loại công tác xây dựng, đơn vị kết cấu, bộ phận của công trình.
Bảng1. BẢNG PHÂN TÍCH ĐƠN GIÁ
Mã hiệu
đơn giá
Loại công tác và
các khoản chi phí
Đơn vị Số lượng Giá đơn vị Thành tiền
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
22
1
AG.11110
Bê tông cọc
BTCT đá 1x2
mác 300
m3
49.220
1,175,373 524,264 95,445 57,851,836 25,804,276 4,697,792
2
AB.41432
Vận chuyển đất
bằng ôtô tự đổ
10T trong phạm
vi <= 1000m,
đất cấp II
100m3
316.400
1,716,630
543,141,679
3
AB.25132
Đào đất hố
móng bằng máy
100m3 7.95 1,750,412 1,189,228 13,915,772 9,454,362
Bảng 3 . BẢNG TỔNG HỢP DỰ TOÁN CHI PHÍ XÂY DỰNG TÍNH THEO
ĐƠN GIÁ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
Đơn vị tính: đồng
STT NỘI DUNG CHI PHÍ CÁCH TÍNH
GIÁ
TRỊ
j
m
x (1 + K
mtc
)
j=1
M
4 Chi phí trực tiếp khác (VL+NC+M) x tỷ lệ TT
Chi phí trực tiếp VL+NC+M+TT T
II CHI PHÍ CHUNG T x tỷ lệ C
III
THU NHẬP CHỊU THUẾ
TÍNH TRƯỚC
(T+C) x tỷ lệ TL
Chi phí xây dựng trước thuế (T+C+TL) G
IV THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG G x T
GTGT-XD
GTGT
Chi phí xây dựng sau thuế G + GTGT G
XD
V
Chi phí nhà tạm tại hiện trường
để ở và điều hành thi công
G x tỷ lệ x (1+GTGT) G
XDNT
Tổng cộng G
XD
+ G
XDNT