Bộ khoa học công nghệ
Chơng trình KX.04/06-10
Báo cáo tổng luận đề tài
Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020
M số KX 04.15/06-10 Cơ quan chủ trì đề tài: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài: TS. Đặng Ngọc Tùng
Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ơng Đảng,
Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 8140
3
Danh mục các từ viết tắt
BHXH Bảo hiểm xã hội
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNLĐ Công nhân, lao động
CNVCLĐ Công nhân, viên chức, lao động
CNXH Chủ nghĩa xã hội
GCCN Giai cấp công nhân
XHCN Xã hội chủ nghĩa 4
Mục lục
Trang
Phần mở đầu 6
Chơng I.
XÂY Dựng GiAI Cấp Công NHÂN Việt NAM
GIAI Đoạn 2011 - 2020 - Cơ Sở Lý Luận Và Thực Tiễn
I. Những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, t
tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về giai cấp công nhân 22
II. Quan điểm về giai cấp công nhân ở một số nớc trong
những năm gần đây 57
III. Về khái niệm giai cấp công nhân, giai cấp công nhân Việt
Nam 57
đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn tới năm 2030 150
Kết luận chơng III 158
Chơng IV.
Mục tiêu, quan điểm và giải pháp
xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn tới năm 2030
I. Quan điểm chỉ đạo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020 159
II. Mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020, tầm nhìn tới năm 2030 160
III. Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai
đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn tới năm 2030 162
Kết luận chơng IV 203
Kết luận chung 205
Phụ lục 209
Tài liệu tham khảo 2176
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Thứ nhất, thực tiễn phát triển kinh tế thị trờng định hớng XHCN,
những vấn đề bức xúc, thực trạng GCCN Việt Nam hiện nay đòi phải xây
dựng GCCN lớn mạnh.
Trong những năm đổi mới vừa qua, mặc dù tình hình trong nớc và
tích cực chủ động sáng tạo của công nhân, làm nảy sinh một số mặt tiêu
cực trong GCCN. Những yếu kém do cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp
sinh ra cha đợc khắc phục triệt để thì những mặt tiêu cực của một cơ chế
thị trờng còn sơ khai lại bắt đầu nảy sinh. Trong quá trình chuyển đổi cơ
chế, một bộ phận không nhỏ công nhân không đủ việc làm, một số bị thất
nghiệp, lơng và trợ cấp thất nghiệp quá thấp. Do chạy theo lợi nhuận kinh
tế đơn thuần, nhiều chủ doanh nghiệp trong mọi loại hình sở hữu, nhất là
chủ doanh nghiệp khu vực kinh tế t nhân, có vốn đầu t nớc ngoài, đã
không quan tâm đến việc bảo đảm những quyền lợi tối thiểu, chính đáng,
hợp pháp của công nhân; thậm chí không thực hiện những chế độ, chính
sách đã đợc Nhà nớc quy định, chà đạp lên nhân phẩm công nhân; các
cấp công đoàn cha làm tốt chức năng bảo vệ quyền lợi cho công nhân
Điều đó đã làm cho một bộ phận công nhân phai nhạt về ý thức giai cấp,
niềm tin đối với Đảng và chế độ; mối quan hệ giữa GCCN với Đảng, Nhà
nớc thiếu gắn bó, vững chắc; công nhân thờ ơ với tổ chức công đoàn. Một
bộ phận công nhân chỉ thấy lợi ích trớc mắt mà không thấy quyền lợi căn
bản, lâu dài. Trong môi trờng công nhân sinh sống và làm việc xảy ra
nhiều hiện tợng suy thoái về đạo đức, về lối sống, thậm chí đã xuất hiện
nhiều tệ nạn xã hội.
Tình hình thực tế của GCCN Việt Nam hiện nay đòi hỏi Đảng và
Nhà nớc ta phải khẩn trơng giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp thiết
về việc làm, đời sống, nhà ở, cải thiện điều kiện lao động và chăm lo đời
sống tinh thần, văn hóa cho công nhân.
8
- Thứ hai, địa vị kinh tế và vai trò chính trị của GCCN Việt Nam đòi
hỏi phải xây dựng GCCN lớn mạnh.
Là giai cấp lãnh đạo cách mạng, tiêu biểu cho phơng thức sản xuất
tiên tiến, GCCN Việt Nam phải vơn lên làm chủ học thuyết lý luận, làm
chủ khoa học - công nghệ, phải là giai cấp tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa
của dân tộc. Nó phải thực sự là chủ thể sáng tạo của một xã hội văn minh,
giải quyết nổi những mâu thuẫn ấy.
Tất cả những điều đã nêu ở trên cùng với yêu cầu khách quan của sự
nghiệp CNH, HĐH đất nớc; nhiệm vụ kinh tế - xã hội đặt ra trong những
năm tới để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp
theo hớng hiện đại, đòi hỏi Đảng và Nhà nớc phải xây dựng đợc một
đội ngũ công nhân lớn mạnh về số lợng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo
chất lợng.
Muốn vậy, trớc hết phải có quan niệm đúng về vị trí, vai trò chính
trị, xã hội của GCCN; phân tích đánh giá đúng thực trạng GCCN Việt Nam
hiện nay; dự báo đợc xu hớng biến đổi GCCN trong những năm sắp tới.
Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, hệ quan điểm, định hớng và những giải
pháp thiết thực, khả thi, hữu hiệu nhằm xây dựng GCCN Việt Nam ngang
tầm với đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
dựa vào GCCN và quan tâm đến xây dựng, phát huy vai trò GCCN. Ngày
nay, thực hiện đờng lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng
và lãnh đạo, phát triển kinh tế thị trờng định hớng XHCN, đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nớc và hội nhập quốc tế, GCCN nớc ta đang phát triển
nhanh về số lợng, đa dạng về cơ cấu, chất lợng cũng từng bớc đợc
nâng lên. GCCN Việt Nam đang vận hành, sử dụng những công cụ,
ph
ơng tiện sản xuất quan trọng nhất, quyết định phơng hớng, tốc độ
phát triển của nền kinh tế quốc dân, hàng năm GCCN Việt Nam tạo ra
khối lợng sản phẩm chiếm trên 60% tổng thu nhập quốc dân, đảm bảo
trên 70% ngân sách Nhà nớc. Tuy nhiên, trớc xu thế khách quan của
toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, cũng
nh tác động mặt trái của kinh tế thị trờng và hội nhập kinh tế quốc tế, sự
10
khủng hoảng của phong trào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế, cùng
với sự chống phá của các thế lực thù địch bằng diễn biến hòa bình, làm
11
Việt Nam tổ chức nghiên cứu đề tài Xây dựng GCCN Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
a) Ngoài nớc
Nghiên cứu về GCCN, về phong trào công nhân và công đoàn dới
góc độ lịch sử và lý luận đã đợc nhiều nhà nghiên cứu, cán bộ khoa học ở
Liên Xô (trớc đây), Trung Quốc quan tâm. Liên quan đến đề tài, có thể
đề cập đến 2 công trình, đợc xuất bản bằng tiếng Việt trong thời gian gần
đây:
+ Công trình khoa học của tập thể tác giả các nhà khoa học nghiên
cứu lịch sử Xô Viết Phong trào công nhân quốc tế - những vấn đề lịch sử
và lý luận. Trong các công trình nghiên cứu về phong trào công nhân
quốc tế, bộ sách Phong trào công nhân quốc tế - những vấn đề lịch sử và lý
luận, gồm 8 tập, của các nhà nghiên cứu lịch sử Xô Viết, có thể đợc xem
là bộ sách trình bày khái quát lịch sử phong trào công nhân quốc tế đầy đủ
nhất tính cho đến nay. Bộ sách đợc biên soạn và xuất bản (bằng tiếng
Nga) trong những năm 70 - 80 thế kỷ XX. Một số luận điểm, nhận định
trong bộ sách này đến nay tỏ ra không còn phù hợp, vì thực tiễn lịch sử đã
phát triển phong phú và phức tạp. Song, xét về ý nghĩa khoa học, tính lịch
sử của các sự kiện, tính lôgíc của các vấn đề đợc trình bày một cách khoa
học, đúng đắn trong bộ sách đã làm nên giá trị lịch sử, khoa học lâu bền
của nó. GCCN giữ vai trò lãnh đạo cách mạng là t tởng xuyên suốt.
Những bài học và kinh nghiệm đợc nêu ra trong bộ sách này rất cần thiết
và bổ ích đối với chúng ta trong việc kiên định con đờng XHCN, trong
nghiên cứu và tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi
mới ở nớc ta nói chung, trong xây dựng GCCN Việt Nam nói riêng.
+ Từ thực tiễn sinh động trong hoạt động công đoàn, các nhà nghiên
cứu Trung Quốc, đứng đầu là Tôn Trung Phạm, An Miêu, Phùng Đồng
Khánh đã nghiên cứu tổng kết, đúc rút, hệ thống hóa thành lý luận và biên
của GCCN, quan tâm đến vấn đề xây dựng GCCN Việt Nam. Cơng lĩnh
năm 1991 đã chỉ rõ: Phát triển GCCN về số lợng và chất lợng để xứng
đáng là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Văn kiện
13
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh: coi trọng phát triển
về số lợng và chất lợng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ
học vấn và nghề nghiệp, thực hiện trí thức hóa công nhân, nâng cao năng
lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới xứng đáng là lực lợng đi đầu
trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc và vai trò lãnh đạo cách mạng trong
thời kỳ mới
1
. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục
khẳng định: Đối với GCCN, phát triển về số lợng, chất lợng và tổ chức;
nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp,
xứng đáng là lực lợng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc
2
.
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Nhà nớc, cấp Bộ, luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo, tài liệu nghiên
cứu về GCCN Việt Nam dới những góc độ khác nhau và đã đạt đợc
những kết quả nhất định, có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu liên
quan đến đề tài:
+ Hai công trình nghiên cứu của PTS. Bùi Đình Bôn GCCN Việt
Nam - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (1997) và Một số vấn đề về
GCCN Việt Nam hiện nay (1997) đã đề cập đến khái niệm GCCN Việt
Nam và nội hàm của khái niệm đó; những đặc điểm chủ yếu của GCCN
Việt Nam hiện nay; thực trạng cơ cấu GCCN Việt Nam hiện nay và dự báo
xu hớng biến động cơ cấu GCCN Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên
CNXH; vai trò của GCCN Việt Nam trong quá trình cách mạng Việt Nam;
mục tiêu, yêu cầu xây dựng GCCN Việt Nam trong giai đoạn mới; vai trò
+ Cuốn sách Về thực trạng GCCN Việt Nam hiện nay (2001) của
các tác giả: Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cờng đã đề cập
đến thực trạng GCCN Việt Nam trên một số phơng diện: đời sống, nghề
nghiệp, điều kiện lao động, tâm t nguyện vọng Đây là công trình
nghiên cứu về thực trạng kinh tế - xã hội GCCN Việt Nam từ năm 1997
đến năm 2000. Do mục tiêu của dự án quy định nên những vấn đề lý luận
về GCCN Việt Nam có liên quan đến đề tài cha đợc đề cập trong công
trình này.
+ Cuốn sách Xu hớng biến động GCCN Việt Nam trong những
năm đầu của thế kỷ XXI (2001), là kỷ yếu Hội thảo khoa học, tập hợp bài
viết của một số nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nội dung các bài
viết chủ yếu đi sâu vào khía cạnh phân tích luận giải những nhân tố khách
quan và chủ quan tác động đến xu hớng biến đổi và dự báo xu hớng biến
đổi GCCN Việt Nam. Những nội dung lý luận có liên quan đến đề tài nh:
khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, thực trạng GCCN Việt Nam, mục tiêu,
15
quan điểm, giải pháp xây dựng GCCN Việt Nam trong những năm đầu
thế kỷ XXI cha đợc đề cập trong cuốn sách này.
+ Cuốn sách Giải pháp xây dựng GCCN Việt Nam trong những năm
đầu thế kỷ XXI (2002), tập hợp những bài viết của một số nhà khoa học,
cán bộ quản lý, nghiên cứu đi sâu đề cập những giải pháp xây dựng GCCN
Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI. Có thể tham khảo kết quả
nghiên cứu của một số bài viết trong cuốn sách này phục vụ cho nghiên
cứu đề tài ở một phơng diện nào đó. Tuy nhiên, những giải pháp có tính
đột phá, thiết thực, khả thi nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc, cấp
thiết của GCCN Việt Nam hiện nay cha đợc đề cập trong cuốn sách.
+ PGS.TS. Nguyễn Viết Vợng (chủ biên), trong cuốn GCCN và tổ
chức công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN
(2003), đã đề cập đến sự chuyển biến của GCCN và tổ chức công đoàn
Việt Nam trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN; dự báo sự phát
nh là những khai phá bớc đầu, cần đợc nghiên cứu sâu hơn, bổ sung và
phát triển cho phù hợp với thực tiễn GCCN Việt Nam hiện nay và đòi hỏi
của thực tiễn trong những năm sắp tới. Những đột phá về lý luận cũng nh
giải pháp đột phá nhằm giải quyết những vấn đề cấp thiết, bức xúc của
GCCN Việt Nam hiện nay cha đợc đề cập trong công trình này.
Cuốn sách: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng GCCN
trong thời kỳ đổi mới, xuất bản năm 2007, do TS. Lê Thanh Hà biên soạn
đã hệ thống các quan điểm của Đảng về GCCN và xây dựng GCCN, phản
ánh thực trạng công tác xây dựng GCCN trong 20 năm đổi mới (1986-
2006) và nêu một số giải pháp xây dựng GCCN. Tuy nhiên, tác giả nghiên
cứu các quan điểm này dới góc độ lịch sử.
Ngoài ra, có thể đề cập đến một số công trình đi trớc có liên quan
đến đề tài, nh: Đề tài khoa học Xây dựng GCCN Việt Nam đáp ứng yêu
cầu CNH, HĐH đất nớc hiện nay (2001) của Đại học Quốc gia Hà Nội -
Trờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn; Luận án Tiến sỹ Triết học
của Trần Thị Bích Liên: Tích cực hóa nhân tố chủ quan để GCCN Việt
Nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình (2001); cuốn
sách: Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình xây dựng GCCN
Việt Nam (2002) do thạc sỹ Đinh Đăng Định chủ biên; cuốn sách: ý thức
17
chính trị của GCCN trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội hiện nay (2003)
do TS. Phan Thanh Khôi (Chủ biên); cuốn sách: Xây dựng ý thức tình cảm
dân tộc chân chính cho GCCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (2005)
của Nguyễn Thị Ngân; Đề tài khoa học Thực trạng GCCN Việt Nam
(2005) do TS. Dơng Văn Sao chủ nhiệm; Luận án Tiến sỹ Triết học của
Dơng Thị Thanh Xuân: ý thức chính trị của công nhân trong các doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài ở nớc ta hiện nay (2007), Có thể
tham khảo kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây phục vụ cho
nghiên cứu đề tài.
Những công trình nghiên cứu nêu trên tuy đã đạt đợc những kết
chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta
về GCCN trong sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Cơ sở thực tiễn để nghiên cứu đề tài là thực tiễn GCCN Việt Nam,
đặc biệt là thực tiễn GCCN và xây dựng GCCN Việt Nam từ năm 1986 đến
nay; đồng thời có tham khảo thực tiễn GCCN và xây dựng GCCN ở một số
nớc trong những năm gần đây.
b) Cách tiếp cận
Đề tài nghiên cứu đợc thực hiện trên cơ sở tiếp cận từ góc độ lý
luận chính trị, cách tiếp cận hệ thống, từ thực tiễn GCCN Việt Nam trong
những năm đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc, có tham khảo kinh
nghiệm của nớc ngoài. Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu GCCN với t cách
là lực lợng sản xuất chủ yếu; lực lợng lãnh đạo về mặt chính trị đối với
toàn xã hội, từ lý thuyết về cơ cấu giai cấp - xã hội; từ mối quan hệ giữa
giai cấp và dân tộc; từ cái chung đến cái riêng.
c) Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn mang
tính chất tổng hợp, nội dung nghiên cứu liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa
19
học, nh: triết học, sử học, khoa học chính trị, kinh tế chính trị, xã hội
học, luật học .v.v do đó, phơng pháp nghiên cứu chủ yếu đợc vận dụng
là phơng pháp liên ngành.
Các phơng pháp cụ thể: kết hợp lịch sử và lôgíc, phơng pháp hệ thống,
phơng pháp phân tích và tổng hợp, phơng pháp so sánh, phơng pháp chuyên
gia, dự báo và các phơng pháp xã hội học
Tất cả những phơng pháp nghiên cứu cụ thể nêu trên đều đợc vận dụng
trên cơ sở phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
5. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
a) Đối tợng
GCCN Việt Nam và vấn đề xây dựng GCCN Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020.
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo nghiên cứu, giảng dạy trong bộ môn khoa học xã hội và nhân văn có
liên quan ở các trờng chính trị, đại học, cao đẳng trong phạm vi cả nớc.
b) ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở lý luận - thực tiễn,
luận cứ khoa học cho việc xác định quan điểm, đờng lối và hoạch định
chính sách xây dựng GCCN Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 của Đảng và
Nhà nớc ta. Qua đó góp phần xây dựng GCCN Việt Nam vững mạnh
ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo
tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài gồm 4 chơng.
Chơng I: Xây dựng GCCN Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 - cơ sở
lý luận và thực tiễn
21
Chơng II: Xây dựng GCCN Việt Nam trong những năm đổi mới
(1986 - 2010)
Chơng III: Dự báo xu hớng phát triển GCCN Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030
Chơng IV: Quan điểm, mục tiêu, giải pháp xây dựng GCCN Việt
Nam giai đoạn 2011 - 2020
9. Sản phẩm của đề tài
- Báo cáo số liệu điều tra, khảo sát về GCCN
- Kỷ yếu hội thảo khoa học của đề tài
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
- Báo cáo tóm tắt đề tài
- Bản kiến nghị của đề tài
- Các sản phẩm trung gian của đề tài, bao gồm:
+ Các chuyên đề khoa học về đề tài
+ Các bài báo đã đăng tải có nội dung liên quan đến đề tài
hóa cao. C. Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên tiêu chí này khi hai ông mô tả
quá trình phát triển của GCCN từ những ngời thợ thủ công thời trung cổ,
23
đến những ngời thợ trong công trờng thủ công và cuối cùng đến những
ngời công nhân trong nền công nghiệp hiện đại. Trong công trờng thủ
công và trong nghề thủ công, ngời công nhân sử dụng công cụ của mình
còn trong công xởng thì ngời công nhân phải phục vụ máy móc. Về
nguồn gốc của GCCN, Ph. Ăngghen chỉ rõ Giai cấp vô sản là do cuộc
cách mạng công nghiệp sản sinh ra
1
. Khi nói về tiêu chí này, C. Mác và
Ph. Ăngghen luôn nhấn mạnh đến ngời công nhân công nghiệp công
xởng, coi họ là tiêu biểu cho GCCN hiện đại. Hai ông chỉ rõ: Công
nhân cũng là một phát minh cua thời đại mới, giống nh máy móc vậy
Công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại"
2
.
Thứ hai: Về vị trí trong quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa, Công
nhân là những ngời lao động không có t liệu sản xuất, phải bán sức lao
động cho nhà t bản và bị nhà t bản bóc lột giá trị thặng d. Đối diện với
nhà t bản, công nhân là những ngời lao động tự do, những ngời bán sức
lao động của mình để kiếm sống. C. Mác và Ph. Ăngghen đặc biệt nhấn
mạnh tiêu chí này, theo các ông tiêu chí này khiến cho ngời công nhân
trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp t sản, những công nhân ấy buộc
phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một
món hàng đem bán nh bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết
mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trờng". Tiêu chí
thứ hai này nói lên một trong những đặc trng cơ bản của GCCN dới chế
độ t bản, nên C. Mác và Ph. Ăngghen còn gọi GCCN là giai cấp vô sản.
Từ những đặc trng trên của giai cấp vô sản, C. Mác, Ph. Ăngghen
các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có GCCN. Trong tác phẩm
Sáng kiến vĩ đại, Ngời viết: Ngời ta gọi giai cấp là tập đoàn ngời
rộng rãi, những tập đoàn này khác nhau về địa vị trong một hệ thống sản
xuất xã hội nhất định do lịch sử quy định, khác nhau về quan hệ của họ
(thờng thì những quan hệ này đợc pháp luật quy định và thừa nhận) với
những t liệu sản xuất và vai trò của họ trong tổ chức xã hội về lao động,
và nh vậy là khác nhau về phơng thức hởng thụ và về phân chia của cải
xã hội ít hoặc nhiều mà họ đợc sử dụng. Giai cấp là những tập đoàn
ngời, trong đó tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác
do các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ nhất định của
kinh tế - xã hội.
1
Trên cơ sở đa ra định nghĩa về giai cấp, khi bàn về GCCN,
V.I. Lênin khẳng định: Công nhân là những ngời lao động công nghiệp, 1
V.I. Lênin: Tuyển tập. NXB. Sự thật, Hà Nội 1970, quyển II, phần II, tr 206, 207.
25
làm việc trong nền đại công nghiệp, theo Ngời: Đợc coi là công nhân,
ngời nào trớc đây đã là công nhân làm thuê bình thờng trong nền đại
công nghiệp ít ra là 10 năm và hiện nay đang làm việc trong đại công
nghiệp từ 2 đến 3 năm.
1
V.I. Lênin còn nhấn mạnh: công nhân chỉ bao gồm những ai do
điều kiện sinh sống của bản thân mà thực sự có đầy đủ tâm lý vô sản; song
muốn có đầy đủ tâm lý đó thì phải làm việc nhiều năm trong công xởng,
do những điều kiện chung về sinh hoạt kinh tế và xã hội bắt buộc.