Nghiên cứu triết học
ĐỂ HỆ GIÁ TRỊ CỦA GIAI
CẤP CÔNG NHÂN VIỆT
NAM TRỞ THÀNH MỘT
HỆ GIÁ TRỊ XÃ HỘI
ĐỂ HỆ GIÁ TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRỞ THÀNH
MỘT HỆ GIÁ TRỊ XÃ HỘI
NGUYỄN AN NINH (*)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một cách khái quát hệ giá trị của giai
cấp công nhân, biểu hiện trên một số khía cạnh cơ bản: lao động, công bằng,
bình đẳng, sự phát triển tự do và toàn diện; phân tích những tiền đề, điều kiện
cần thiết cho sự hình thành và phát triển hệ giá trị của giai cấp công nhân.
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề đang đặt ra trong quá trình xác lập và phát
triển hệ giá trị giai cấp công nhân ở Việt Nam, tác giả đã luận chứng những
yêu cầu về mặt nhận thức và mặt hành động nhằm khẳng định và phát huy hệ
giá trị của giai cấp công nhân Việt Nam, đưa hệ giá trị đó trở thành một hệ giá
trị xã hội.
1. Vài nét về hệ giá trị của giai cấp công nhân
Trong đời sống hiện thực, cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất
công nghiệp và sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những giá trị
hiện tồn của nhân loại đã và đang xuất hiện một hệ giá trị mới của giai cấp
công nhân. Với tư cách một hệ thống những phẩm chất, phẩm giá, quan niệm
về chuẩn mực xã hội của một cộng đồng người, hệ giá trị của giai cấp công
nhân có những biểu hiện cơ bản sau:
Thứ nhất, lao động - giai cấp công nhân xác định sự tồn tại của mình bằng lao
phương thức sản xuất công nghiệp mang tính tất yếu khách quan, tạo cơ sở cho
việc định hình những giá trị của giai cấp công nhân. Chính sản xuất lớn và
những yêu cầu đặc thù của nó đã tạo cơ sở kinh tế - kỹ thuật cho tác phong lao
động, lối sống và rộng hơn, cho những giá trị xã hội mới. Lao động có kỹ thuật
bằng công cụ máy móc với năng suất cao, sản xuất mang tính xã hội, tính kỷ
luật, tự giác và tinh thần hợp tác là những tiền đề vật chất để xác lập và định
hình hệ giá trị của giai cấp công nhân.
Nhóm tiền đề thứ hai góp phần quy định hệ giá trị này, đó là chế độ xã hội xã
hội chủ nghĩa. Nhóm này thể hiện tính chủ động, tự giác của “giai cấp công
nhân với tư cách là giai cấp thống trị” trong quá trình xác lập hệ giá trị mới cho
toàn xã hội. Hơn nữa, chế độ xã hội đó cũng là tiền đề cơ bản nhất cho việc
xác lập hệ giá trị mới. Từ khi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ra đời, bằng việc
thiết lập cơ sở kinh tế (quá trình xác lập, hoàn thiện sở hữu công hữu với tư
cách quan hệ sở hữu chủ đạo và phương thức phân phối theo lao động), bằng
chế độ chính trị (pháp luật và các thể chế chính trị - xã hội ) và bằng cuộc đấu
tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa giữa hai hệ giá trị của giai cấp
công nhân và giai cấp tư sản, hệ giá trị của giai cấp công nhân dần được khẳng
định trong đời sống hiện thực. Cần phải thấy rằng, cuộc đấu tranh để khẳng
định hệ giá trị của giai cấp công nhân chống lại những phản giá trị hoặc sự tái
lập của những tư tưởng, lối sống phi vô sản đã và đang diễn ra gay go, quyết
liệt, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, nhìn một cách khái quát, hệ giá trị của giai cấp công nhân là một chất
lượng mới của quan hệ giữa người với người, được hình thành bởi quy định
khách quan của tồn tại xã hội hiện đại và cũng là thành quả của những nỗ lực
chủ quan, tự giác của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong quá trình
sáng tạo xã hội mới. Xác lập hệ giá trị của giai cấp công nhân là một quá trình
lâu dài và cần phải có cả những tiền đề khách quan lẫn các điều kiện chủ quan.
Tiền đề kinh tế - kỹ thuật cho dù rất quan trọng, nhưng một mình nó chưa thể
quyết định việc xác lập và phát huy hệ giá trị của giai cấp công nhân. Chế độ
xã hội có tác động mạnh mẽ và ở khâu hiện thực hóa, nó có vai trò quyết định
việc xã hội thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế khác
nhau. Theo đó, vị thế của nhiều giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội cũng khác
trước. Bên cạnh hệ giá trị của giai cấp công nhân, đã xuất hiện nhiều hệ giá trị
xã hội khác tương đối đa dạng. Đây cũng có thể xem là lẽ tự nhiên của cơ cấu
xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Vấn đề là ở chỗ, bối cảnh trên đang có những tác động như thế nào và đặt ra
vấn đề gì với quá trình xác lập hệ giá trị của giai cấp công nhân?
Tác động thứ nhất mang tính tích cực, hỗ trợ cho việc xác lập hệ giá trị mới.
Đó là chế độ xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá gắn với kinh tế tri thức; là sự nghiệp xây dựng một “xã hội dân giàu nước
mạnh, công bằng, dân chủ văn minh”, “con người được giải phóng khỏi áp
bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện”(1)
Những tiền đề và mục tiêu đó tạo ra những xu hướng khẳng định hệ giá trị của
giai cấp công nhân.
Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò
chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, nguyên tắc phân phối theo lao động,
đảm bảo lợi ích chính đáng của người lao động, tôn vinh người lao động và
thành quả lao động đang là những nguyên tắc của hiện thực. Nhu cầu của thị
trường sức lao động trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
cũng đòi hỏi nhiều ở nguồn lực con người, nhất là lao động có trình độ cao.
Công nhân cũng trở nên năng động hơn trong kinh tế thị trường, vị thế giữa
công nhân trong thành phần kinh tế nhà nước và công nhân trong thành phần
kinh tế tư nhân không còn cách biệt nhiều Có thể xem đây là những tác động
xã hội trực tiếp và thuận chiều với quá trình xác lập hệ giá trị của giai cấp công
nhân.
Tác động thứ hai. Trên bình diện quốc tế, cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã
hội hiện thực và cùng với đó là những sự xuyên tạc, phủ nhận sứ mệnh lịch sử
thế giới của giai cấp công nhân đã tác động bất lợi đối với quá trình xác lập hệ
giá trị của giai cấp công nhân. Ở nước ta, trên thực tế, cũng đã xuất hiện một
nhóm các yếu tố, tuy không hoàn toàn là tiêu cực, song hiện nay, trong giai đoạn
phương tiện thông tin đại chúng khiến người ta có thể ngộ nhận rằng, những
nhu cầu về các nhóm nhân lực quản lý, dịch vụ đang bức xúc đến độ dường
như trở thành mối quan tâm chính của xã hội. Còn các nhu cầu khác về nhóm
nhân lực trực tiếp sản xuất công nghiệp (mà bản thân nó cũng bao hàm cả lao
động trình độ cao và lao động kỹ thuật) thì bị cho là chỉ ở hàng “thứ hai”.
Chính ngộ nhận đó đã góp phần quan trọng làm cho một bộ phận dân cư của
xã hội rơi vào trạng thái lệch lạc, ảo tưởng xã hội về hệ giá trị.
Khả năng tổ chức và định hướng hệ giá trị giai cấp công nhân trong xã hội
cũng còn nhiều hạn chế. Với vị thế là giai cấp trung tâm của xã hội mới, nhiều
giá trị, lối sống của giai cấp công nhân trước đây đã được khẳng định và tôn
vinh. Điều đó là hoàn toàn xứng đáng và cần được tiếp tục phát huy. Song,
trong khoảng một thập niên gần đây, vấn đề đáng quan tâm là có nhiều dấu
hiệu cho thấy hệ giá trị của giai cấp công nhân đang bị tác động tiêu cực của xã
hội và của nền kinh tế thị trường xâm hại.
Ở phương diện xã hội, quan niệm chưa đầy đủ về thang giá trị, cách ứng xử
còn nhiều thiếu sót với người lao động, sự kích hoạt tâm lý xã hội từ các
phương tiện thông tin đại chúng về một nền “kinh tế tri thức” nào đó dường
như tách rời sản xuất công nghiệp đang làm méo mó nhận thức về nghề công
nhân và đang làm nhạt dần hình ảnh người công nhân. Đây là những tác nhân
chủ yếu đang gây nhiều ngộ nhận, lầm lẫn, thậm chí có cả hiện tượng đánh
tráo giá trị. Đây đó, trên những lễ đài danh dự của các sinh hoạt chính trị – xã
hội lớn, trong những thống kê riêng rẽ nói về những ngành nghề của tương lai,
hay ngay cả trong những quảng cáo hình ảnh công nhân vắng dần. Lựa chọn
nghề của lớp trẻ cũng ít thấy hướng về các trường dạy nghề công nhân. Mỗi
năm xã hội xuất hiện nhu cầu từ 1,2 đến 1,5 triệu chỗ làm việc mới; đều đặn
mỗi năm các trường đại học và cao đẳng thu hút được khoảng 20% số nhân lực
đó – tạm có thể coi là tinh hoa của nhóm nhân lực trẻ. Số còn lại sẽ tự “bươn
chải” theo hai hướng chính: trở về làng quê hoặc vào thành phố kiếm việc làm.
Chắc chắn vẫn còn nhiều người tài giỏi trong số đó, song không phải là nhiều.
Công nghiệp Việt Nam hàng năm vẫn tăng nguồn nhân lực cho mình chủ yếu
thương thuyết với người sử dụng lao động. Thực tế đang nhắc nhở những
người ham mê chủ nghĩa kinh tế điều ấy: cuộc đình công của hàng vạn lao
động có thể tạo nên sức ép xã hội khá lớn, nhưng nó không thể có được một
thành quả căn bản và vững chắc nếu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước và
của Nghị định 03/2006/NĐ-CP
Những vấn đề trên đang chỉ báo hai điều: thứ nhất, sự suy giảm vai trò chủ
đạo của hệ giá trị của giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay là một thực tế; thứ
hai, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức
và sự nghiệp phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay
đặt ra nhu cầu khách quan là cần phải khẳng định địa vị chủ đạo của hệ giá trị
của giai cấp công nhân trong một xã hội thống nhất trong đa dạng.
3. Giải pháp cơ bản để khẳng định và phát huy hệ giá trị của giai cấp công
nhân trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Về mặt nhận thức, cần tiếp tục khắc sâu trong nhận thức xã hội rằng, giai cấp
công nhân là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa và chính từ thực tiễn này
mà những tiền đề vật chất của một hệ giá trị mới được xác lập. Vì vậy, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với kinh tế tri thức và phát
triển giai cấp công nhân là “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết” cho việc xác
lập và phát triển hệ giá trị của giai cấp công nhân nước ta. Mặt khác, những giá
trị cơ bản của giai cấp công nhân là mẫu số chung cho nhiều giá trị lớn của
nhân loại hiện nay và trong tương lai. Không có sự phát triển và hoàn thiện hệ
giá trị của mình, giai cấp công nhân Việt Nam không thể thành công trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cũng không thể có cơ sở xã hội cho
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn hôm nay của Việt Nam đang
chứng minh cho tư tưởng của C.Mác về mối quan biện chứng giữa công
nghiệp – công nhân và chủ nghĩa xã hội. Theo đó, cần xem việc phát triển giai
cấp công nhân và hệ giá trị của nó trong xã hội là những nội dung quan trọng
của quá trình phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong cuộc chiến đấu tiêu diệt nghèo nàn, lạc hậu, bất công và tình trạng chậm
khó khăn trong đời sống và việc làm, tỷ lệ công nhân được đào tạo nghề quá
thấp (gần 25%) như hiện nay. Cần phải xoá bỏ hiện tượng lũng đoạn của
những phản giá trị, như làm giàu bằng các thủ đoạn phi pháp: tham nhũng, hối
lộ, làm ăn kiểu chụp giựt và sự nhiễu nhương của lối sống ích kỷ, thực dụng
của chủ nghĩa cá nhân. Chính những phản giá trị ấy đang chiếm mất chỗ lẽ ra
phải dành cho các chân giá trị xã hội.
Bản thân giai cấp công nhân - chủ thể của hệ giá trị mới cũng cần tự ý thức và
được học tập, nâng cao giá trị tự thân. Nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề và
giác ngộ chính trị cho công nhân cũng cần thiết như giải quyết việc làm và
nâng cao đời sống. Hơn nữa, đó không chỉ là điều kiện để vận hành công nghệ
hiện đại, mà còn là cơ sở thuận lợi để phát triển hệ giá trị của một giai cấp
“đưa ra được và thực hiện được một kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so
với chủ nghĩa tư bản”(2).
Định hướng cuộc đấu tranh của những người lao động, tổ chức, giác ngộ họ
trong cuộc đấu tranh vì cả lợi ích trước mắt lẫn lợi ích lâu dài là trách nhiệm,
đồng thời là nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới nội dung và phương
thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội trong công nhân. Đó cũng là
quá trình tích cực để xác lập hệ giá trị của giai cấp công nhân nước ta hiện nay.
Định hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cần chú trọng
làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ngày càng “trở thành hệ tư tưởng
thống trị trong xã hội”. Cần lường trước để có biện pháp ngăn chặn hiệu quả
những lối sống xa lạ với bản chất của giai cấp công nhân và truyền thống dân
tộc, khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Xã hội tiêu thụ, chủ nghĩa cá
nhân, tâm lý thực dụng, lối sống ích kỷ và phi lý tưởng là những dấu hiệu
của sự “xâm lăng văn hóa” và ảnh hưởng tới một bộ phận không nhỏ trong xã
hội.
Bảo vệ và tôn vinh những giá trị của giai cấp công nhân là một yêu cầu cấp
bách trong xã hội ta hiện nay. Điều đó cần được chuyển hóa thành hành động
thực tế: chăm lo đời sống và việc làm của công nhân, làm cho nghề công nhân
không những được xã hội trân trọng, mà còn trở thành nguyện vọng của nhiều