Tư tương Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân và những vấn đề về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. - Pdf 22

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc theo Người đã sản sinh ra biết
bao tên tuổi vĩ đại, vừa là anh hùng dân tộc, vừa là nhà tư tưởng lớn nhưng không ai
có được sự nghiệp lẫy lừng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, không ai có được tầm vóc
thời đại, được loài người tiến bộ ca ngợi và thừa nhận như Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan
tâm sát sao đến phong trào công nhân trong nước, Người nói “Đảng ta không những
chỉ tăng cường công tác tuyên truyền trong công nhân mỏ và các ngành kinh tế quan
trọng khác, mà còn chú ý đến những công nhân thất nghiệp, thợ thủ công ở thành thị
và công nhân nông thôn”. Tại Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), Bác khẳng định “Lấy
vận động công nhân làm công việc đầu tiên trong công việc tổ chức quần chúng của
Đảng Làm sao cho phong trào thợ thuyền trở nên một lực lượng tiên phong trong
cuộc cách mạng giải phóng Đông Dương”. Với chủ trương đó, hội nghị đã thống
nhất thành lập Mặt trận Việt Minh, trong đó Hội Công nhân cứu quốc là nòng cốt. Sự
ra đời của Hội Công nhân cứu quốc khẳng định sự đánh giá nhất quán, chính xác vị
trí giai cấp công nhân của Hồ Chủ tịch. Qua đây, yếu tố thống nhất dân tộc của giai
cấp vô sản được phát huy một cách triệt để, nó đã lôi kéo được cả dân tộc và trở
thành ngọn cờ duy nhất lãnh đạo dân tộc. Điều đó được minh chứng qua thắng lợi vẻ
vang của cách mạng tháng Tám năm 1945. Thắng lợi này đánh dấu bước nhảy vọt
bằng chính nội lực của giai cấp công nhân Việt Nam, kết thúc chế độ thuộc địa kéo
dài gần 80 năm ở nước ta, mở đầu cho sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa, sự tan rã của
chủ nghĩa thực dân.
Sau thắng lợi vẻ vang của cách mạng tháng Tám, trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ chính quyền non trẻ vừa mới giành được, đòi hỏi toàn dân tộc phải đóng góp
sức lực và trí tuệ của mình để giành lấy thắng lợi cuối cùng. Ngày 29-4-1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh quyết định cho công nhân và người lao động cả nước
được nghỉ ngày Quốc tế Lao động nhưng vẫn có lương. Đây là sự khẳng định quyền
tự do dân chủ bằng pháp luật. Từ chỗ xác định rõ quyền lợi của giai cấp công nhân,
Người kêu gọi mỗi công nhân phải trở thành một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận của
mình, phải đoàn kết, hăng hái thi đua, tích cực sản xuất ra nhiều của cải vật chất để

hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hệ thống quan điểm tư tưởng của Hồ Chí
Minh giai cấp công nhân Việt Nam.
2
4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Trong bài tôi dựa trên những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và dựa vào các văn bản
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết dựa trên phương pháp luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đứng
trên quan điểm, lập trường của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể: Phương pháp duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh…
5.Ý nghĩa của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp
công nhân, thực trạng và đề ra một số giải pháp có tính khả thi nhằm xây dựng giai cấp
công nhân đáp ứng được yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay.
6.Kết cấu của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu
của đề tài gồm 3 phần chính: Chương 1 là hệ thống khái niệm và các phạm trù cơ
bản; chương 2 là quan điểm của Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân; chương 3 là
thực trạng và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân giai đoạn hiện nay.
NỘI DUNG
3
Chương 1. HỆ THỐNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÁC PHẠM TRÙ
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh và giai cấp công nhân
1.1.1. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát

Xuất phát từ lòng yêu nước và ước muốn giải phóng cho đồng bào mình khỏi áp bức,
bất công, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước. Trên hành trình vĩ đại ấy,
Người đã tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin, nhận rõ vai trò, sứ mệnh của giai cấp công
nhân thế giới nói chung và công nhân Việt Nam nói riêng.
Khởi đầu hành trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã sống cuộc đời
người thợ: làm phụ bếp dưới tàu buôn Đô đốc Latusơ Tơ-rê-vin, làm vườn ở Xanhtơ
A-đơ-Rexơ, nước Pháp; quét tuyết cho một trường học, đốt lò và phục vụ khách sạn
ở Luân đôn, nước Anh. Người tích cực tham dự những buổi diễn thuyết của nhiều
nhà chính trị và các triết gia, tham gia "Hội những người lao động hải ngoại". Tại
Mỹ, Hồ Chí Minh đã đến New-York làm thuê ở Bruc-Clin, dự mít tinh cùng những
người da đen ở thành phố Haclem.
Trải qua những tháng ngày lao động cùng quần chúng nhân dân nhiều nước
trên thế giới, Hồ Chí Minh đã thấy rõ cảnh bất công của xã hội tư bản, Người cảm
thông với cảnh lao động cực nhọc và đời sống khó khăn vất vả của công nhân và
nhân dân lao động các nước không kể da trắng, da vàng hay da đen, Người rút ra kết
luận: ở đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác vô nhân đạo, ở đâu giai cấp công nhân và
nhân dân lao động cũng bị áp bức bóc lột dã man, ở đâu người dân mất nước cũng
khổ nhục như nhau. Hồ Chí Minh còn nhận rõ rằng giai cấp công nhân và nhân dân
lao động các nước đều là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù. Người nhận xét:
dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và
giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu
ái vô sản.
Từ một thanh niên trí thức yêu nước, Hồ Chí Minh đã trở thành người công
nhân. Người hiểu rõ rằng giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp là bạn còn
bọn thực dân, đế quốc Pháp mới là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Người cũng nhận
rõ: giai cấp công nhân các nước kể cả thuộc địa và chính quốc phải đoàn kết để
chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản.
5
Cuối năm 1917, khi chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra ác liệt, tình hình
Đông Dương cũng có những biến động, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp để có điều

Thứ tư: Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân Việt Nam
luôn phát huy bản chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực
lượng đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá xây dựng và phát triển nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức
hiện đại.
Thứ năm: Quá trình “trí thức hoá” giai cấp công nhân diễn ra mạnh mẽ, từng
bước hình thành giai cấp công nhân trí thức Việt Nam.
Việc hình thành giai cấp công nhân trí thức không có nghĩa là sự bổ sung vào
lực lượng giai cấp công nhân những công nhân có trình độ cao mà là giai cấp công
nhân được nâng cao về trình độ và có sự thay đổi về tính chất lao động- lao động
điều khiển những công nghệ tự động hoá của nền kinh tế tri thức.
CHƯƠNG 2. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN
7
2.1. Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông
qua chính đảng của mình
Theo Hồ Chí Minh, để đấu tranh xoá bỏ Chủ nghĩa tư bản, giải phóng cho các
dân tộc thuộc địa, giải phóng giai cấp công nhan, sự nghiệp ấy cần phải do chính giai
cấp công nhân lãnh đạo: “Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc
nhất và duy nhất, có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng”.
“Để lãnh đạo cách mạng, hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình, giai
cấp công nhân cần phải có đội tiên phong, có lãnh tụ chính trị, có bộ tham mưu chiến
đấu của giai cấp mình, đó là Đảng cộng sản.
Đảng CSVN là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc
Việt Nam. Ngay từ khi ra đời đến nay, Đảng CSVN luôn là người đại diện xứng đáng
cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Tại Đại hội lần
thứ II của Đảng (tháng 2-1951), Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong giai đoạn này,
quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì
Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nên
nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.
Nhất quán với quan điểm này, khi miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng XHCN,

chất giai cấp công nhân, được xây dựng theo nguyên tắc về Đảng kiểu mới của V.I
Lênin.
Khi khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, bao giờ Người cũng
gắn Đảng với vai trò lãnh đạo cách mạng, với vị trí của đội tiên phong trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát
tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng
bào sung sướng”. Rằng cách mạng Việt Nam “phải có đường lối cách mạng đúng, có
Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đúng. Đường lối ấy chỉ có thể là đường lối của
chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của
dân tộc”.
Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho
mọi hoạt động của Đảng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ
nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà
9
không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.
Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt”, điều đó không có nghĩa là vận dụng một
cách máy móc, rập khuôn từng câu, từng chữ của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin
mà phải nắm lấy cái bản chất khoa học, cách mạng và sáng tạo của chủ nghĩa Mác.
Đồng thời phải biết “phân tích cụ thể tình hình cụ thể” của thực tiễn cách mạng Việt
Nam để hoạch định đường lối, chính sách đúng đắn.
Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho
mọi hoạt động của Đảng, Hồ Chí Minh luôn nhắc Đảng ta khi vận dụng lý luận cách
mạng ấy phải sáng tạo, tránh giáo điều và không được xa rời những nguyên tắc cơ
bản của nó. Đồng thời phải ra sức làm giàu trí tuệ của Đảng bằng cách không ngừng
học tập nâng cao trình độ lý luận, thực tiễn cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ
hội, xét lại…
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận

động chân tay mà còn cả lao động trí óc thông qua các máy điện toán với những
thành tựu của tin học. Giai cấp công nhân có sự phát triển về chất lượng để đảm
đương được nhiệm vụ của mình trong điều kiện mới, hay nói cách khác “công nhân
hóa trí thức” và “trí thức hóa công nhân” là xu thế tất yếu của nền đại công nghiệp,
của quá trình tự động hóa, tin học hóa. Giai cấp công nhân đang lớn lên với đội ngũ
trí thức của mình và giai cấp công nhân luôn luôn là người trực tiếp sản xuất, tham
gia vào quá trình tạo ra những giá trị vật chất, những của cải to lón cho xã hội.
Giai cấp công nhân bao gồm những người lao động trong lĩnh vực công
nghiệp, dịch vụ công nghiệp; những nhà nghiên cứu, sáng chế, áp dụng những thành
tựu của khoa học công nghệ phục vụ cho sản xuất; những kỹ sư, kỹ thuật viên, cán bộ
kỹ thuật thực hiện chức năng của công nhân lành nghề trong sản xuất và tái sản xuất
của cải vật chất. Giai cấp công nhân có mặt trong các ngành kinh tế: Công nghiệp,
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, trong đó công nhân công
xưởng, nhà máy sản xuất công nghiệp hiện đại, tiên tiến là bộ phận nòng cốt, tiêu
biểu cùng với quá trình phát triển của giai cấp công nhân, bộ phận trí thức gắn trực
11
tiếp với lao động công nghiệp, với quy trình sản xuất công nghiệp tạo ra của cải vật
chất cho xã hội cũng nằm trong nội dung khái niệm giai cấp công nhân.
Trong điều kiện ngày nay, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại rất đa dạng,
có nhiều trình độ khác nhau và không ngừng biến đổi theo hướng không thuần nhất:
Công nhân kỹ thuật ngày càng tăng công nhân ngày càng được nâng cao về trình độ,
đóng vai trò chính trong quá trình phát triển, công'nhân truyền thống giảm dần. ở các
nước tư bản phát triển “công nhân áo xanh” chỉ chiếm 12 - 15% tổng số công nhân
(l). ở Italia công nhân kỹ thuật cao “công nhân áo trắng” chiếm 53% tổng số công
nhân. ở Nhật 90% công nhân có trình độ đại học. ở Tây Ban Nha công nhân kỹ thuật
chiếm 53%. Công nhân làm việc trong các ngành dịch vụ tăng lên xấp xỉ 50% tổng
số công nhân (2). Mặc dù một số ít trong giai cấp công nhân có cổ phần trong các xí
nghiệp của tư bản, nhưng về cơ bản giai cấp công nhân vẫn bị bóc lột, mâu thuẫn
giữa tư bản và lao động, sự phân biệt giàu nghèo và tình trạng bất công xã hội vẫn
tăng lên, bản chất bóc lột giá trị thặng dư vẫn tồn tại, dù được biểu hiện dưới hình

những đặc điểm của giai cấp công nhân.
3. Tập hợp công nhân vào một tổ chức
Từ khi đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã nhận ra vai trò lịch sử to lớn của
giai cấp công nhân, đó chính là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến
nhất, là giai cấp tiên phong trong công cuộc cách mạng làm thay đổi chế độ, giành
độc lập và xây dựng đất nước.
Sau khi trở thành người cộng sản, trong nhiều việc lớn chuẩn bị cho dân tộc
trên lộ trình cách mạng lâu dài, thì việc tìm kiếm những hình thức nhằm tập hợp,
đoàn kết giai cấp công nhân Việt Nam hay đặt nền móng xây dựng những cơ sở đầu
tiên cho tổ chức Công đoàn nước ta chiếm một phần không nhỏ trong cuộc đời hoạt
động cách mạng của Người.
Ngay từ năm 1913, khi đang làm đầu bếp tại Luân Đôn (nước Anh), Nguyễn
Tất Thành đã tham gia tổ chức Lao động hải ngoại, một tổ chức nghiệp đoàn của
những người thợ thuyền thuộc địa sống trên đất Anh.Trong cuốn Đường Kách mệnh,
do Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở châu á xuất bản năm 1927, Nguyễn ái Quốc
đã viết những dòng chữ về tổ chức Công hội đỏ mà những dòng chữ ấy có tính chất
kinh điển về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn sau này: “ Tổ chức Công
hội trước đó để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu
với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn
quyền lợi cho công nhân; năm là giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”.
13
Như vậy, từ những năm 1920 Bác Hồ đã rất chú ý đến chức năng bảo vệ quyền
lợi cho người lao động, một chức năng quan trọng nhất của tổ chức Công đoàn. Từ
những cơ sở Công hội đầu tiên trên đất Pháp, những hội tương tế mang nặng tính
chất phường hội thị dân, từ những “đốm lửa” Công hội đỏ đầu tiên của Tôn Đức
Thắng ở Sài Gòn- Chợ Lớn đầu những năm 1920, cùng với sự xâm nhập của tư
tưởng xã hội chủ nghĩa vào nước ta qua Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên; từ
những năm 1926 phong trào công nhân phát triển như gió lốc, đặc biệt theo sáng kiến
của Nguyễn ái Quốc nêu ra ở Quảng Châu, những học trò ưu tú của Người như
Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự đã phát động phong trào vô sản nổi tiếng, làm cho tổ

chất lượng - hiệu quả”, “Lao động giỏi”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà, “Thi đua 2
tốt” đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử phong trào công nhân và lịch sử Công
đoàn nước ta.
Khi nói chuyện với công nhân Nhà máy diêm Thống Nhất ngày 16.8.1956 Bác
đã khéo nhắc nhở về mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ chính đáng của người
lao động, Người nói thật giản dị: “Lợi ích của công nhân đi đôi với lợi ích chung của
nhà máy. Nếu đời sống được cải thiện và mọi người khoẻ mạnh, thì sẽ phấn khởi thi
đua sản xuất làm cho nhà máy thu được nhiều kết quả. Nếu nhà máy phát triển thì có
khả năng cải thiện đời sống của công nhân và nhân viên”. Người không quên nhấn
mạnh rằng: “Mục đích của Công đoàn là phải cải thiện đời sống công nhân, nâng cao
đời sống vật chất, văn hoá của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung”.
Ngày 18.7.1969, không lâu trước lúc đi xa, Bác đã dành một trong những cuộc tiếp
xúc cuối cùng cho đại biểu của Tổng Công đoàn Việt Nam. Người nhắc nhở: “ Làm
tốt công tác vận động, tổ chức giáo dục quần chúng công nhân viên chức làm tròn vai
trò tiên phong cách mạng, để họ hiểu và tự nguyện, tự giác giữ gìn kỷ luật lao động,
giữ gìn của công, thực hành tiết kiệm”. Coi lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là
nguồn sống, nguồn tạo nên hạnh phúc cho mọi người và cho cả thế hệ mai sau.
Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội và đặc biệt là tổ chức công đoàn
có trách nhiệm tạo các điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần, xây dựng, hoàn
thiện cơ chế, chính sách, tạo động lực khuyến khích công nhân, lao động khắc phục
khó khăn, tự giác rèn luyện tích cực tham gia các chương trình đào tạo, đào tạo lại và
tự đào tạo, từng bước tri thức hóa công nhân và hình thành xã hội học tập.
Hoạt động công đoàn cần phát huy quyền làm chủ của công nhân, viên chức, lao
động trong sản xuất, kinh doanh, trong việc đóng góp ý kiến của mình thông qua đại
hội công nhân viên chức, hội nghị cán bộ, công chức, thông qua việc xây dựng và ký
kết thỏa ước lao động tập thể, tổ chức và đại diện cho người lao động kiểm tra, giám
15
sát việc thực hiện pháp luật ở doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị. Công đoàn phải làm tốt
chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, chủ
động trong việc giải quyết tranh chấp lao động và xây dựng quan hệ lao động hài

nhân nước ta lớn mạnh là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của Đảng, Nhà nước, của cả
hệ thống chính trị và của toàn xã hội mà Công đoàn là tổ chức trực tiếp vừa đại diện,
vừa bảo đảm quyền lợi cho công nhân.
Giải pháp mang tính chiến lược là xây dựng giai cấp công nhân phải gắn kết
chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội và chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; bảo
đảm hài hòa lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động và toàn xã hội. Đồng
thời phải đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng
trí thức hóa giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ công nhân trẻ có trình độ học vấn,
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường
giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng trở thành bộ phận nòng cốt của giai cấp công
nhân.
Sứ mệnh lịch sử và vai trò tiên phong đòi hỏi giai cấp công nhân Việt Nam
phải tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn bản chất và truyền thống tốt đẹp của mình, tự
khẳng định tầm vóc chính trị của mình bằng việc nâng cao trình độ mọi mặt, về nhận
thức chính trị, tư tưởng, về kiến thức văn hóa và khoa học - công nghệ, về kỹ năng
nghề nghiệp và quản lý Phải nắm bắt và tiếp cận nhanh với tiến bộ khoa học - kỹ
thuật, đưa công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh và đời sống, lao động có năng
suất, chất lượng và hiệu quả cao, đấu tranh tích cực chống quan liêu, lãng phí, tham
nhũng và những hành vi vi phạm pháp luật.
Sức mạnh của giai cấp công nhân là sức mạnh của nội lực giai cấp, đồng thời
cũng bắt nguồn từ sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giai cấp
công nhân Việt Nam có vai trò tiên phong lãnh đạo nhưng là một bộ phận của dân
tộc, đứng trong lòng dân tộc. Lợi ích của giai cấp công nhân, trước đây, hiện nay
cũng như về sau, luôn luôn thống nhất với lợi ích của dân tộc, hòa quyện trong mục
tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Việc xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức
công đoàn vững mạnh phải đặt trong tổng thể phát huy sức mạnh toàn dân tộc, coi
đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh công nhân-nông dân-trí thức do Đảng
lãnh đạo là động lực chủ yếu để phát triển đất nước.

18
3.1. Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về
số lượng, đa đạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng
đông đảo bộ phận công nhân trí thức; đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh
đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên
phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; có nhiều cố gắng
để phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, giai cấp công nhân đã đóng góp trực tiếp to lớn vào quá trình phát triển
của đất nước, cùng với các giai cấp, tầng lớp và thành phần xã hội khác, giai cấp
công nhân nước ta là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc làm và đời sống của giai
cấp công nhân ngày càng được cải thiện.
Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về
số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm
trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong
công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân từ nông dân,
chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống. Một bộ phận công nhân chậm thích nghi
với cơ chế thị trường. Địa vị chính trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ.
Giai cấp công nhân còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết
về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế. Tỉ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất
thân từ công nhân còn thấp. Một bộ phận công nhân chưa thiết tha phấn đấu vào
Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội. Nhìn tổng quát, lợi
ích một bộ phận công nhân được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của

đã làm suy yếu tính thống nhất, sức mạnh đoàn kết và địa vị xã hội của giai cấp công
nhân hiện nay so với thời kỳ trước đổi mới. Tuy vậy, sự xuất hiện và ngày càng lớn
mạnh về số lượng và chất lượng của bộ phận công nhân tri thức ở nước ta hiện nay là
một trong những yếu tố cơ bản tiếp tục đảm bảo cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay. Thu nhập kinh tế, ngoài bộ
20
phận nhỏ công nhân trí thức có thu nhập cao, bộ phận công nhân trong các doanh
nghiệp nhà nước ở một số lĩnh vực có tính độc quyền, có mức thu nhập khá, còn lại
phần lớn công nhân nước ta có mức thu nhập rất thấp.
3.1.3. Về chính trị và uy tín xã hội
Công nhân chưa có địa vị bằng tầng lớp tri thức, tầng lớp công chức, viên
chức. Ngay trong các doanh nghiệp nhà nước, quyền lực và vai trò của công nhân
còn bị hạn chế. Trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghệp có vốn đầu tư nước
ngoài, tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng thiếu hụt hoặc bị hạn chế hoạt động ,
công nhân thường bị giới chủ chèn ép, quản lý chặt chẽ; họ có rất ít khả năng đấu
tranh với các ông chủ dù chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Trình độ học vấn và văn hoá của công nhân tuy cao hơn nông dân nhưng lại bị
thiệt thòi hơn so với nhiều tầng lớp khác trong xã hội. Do bộ phận công nhân nhà
nước thường phải làm thêm nghề phụ để tăng thu nhập nên tác phong công nghệp
chưa cao. Công nhân trong khu vực kinh tế tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài có kỷ luật cao hơn song thường phải tăng ca, làm thêm giờ để kiếm sống nên ít
có thời gian và điều kiện để học tập, phát triển bản thân. Ý thức giai cấp, ý thức Đảng
trong bộ phận công nhân này nói chung thấp. Công nhân tri thức cũng có xu hướng
chịu làm thuê đến khi đủ mạnh để tách ra lập tổ chức kinh doanh của mình để trở
thành ông chủ, thầy hay chuyên gia độc lập. Trong khi nhiều trí thức, tiểu tư sản trải
qua sự rèn luyện và công tác mà có bản chất giai cấp công nhân thì nhiều người xuất
thân từ công nhân khi được đề bạt lên lãnh đạo, quản lý lại để mai một bảnchất giai
cấp của mình. Làm công nhân không phải là mơ ước và sự tự lựa chọn không chỉ đối
với những thanh niên trẻ mà còn đối với những người đang trong nghề. Tỷ lệ giai cấp
công nhân trong các cấp uỷ, nhất là cấp cao, cấp Trung ương thường không đạt như

thường xuyên biến động như trên, đã và đang dẫn đến một thực trạng về chất lượng
giai cấp công nhân: đang có sự yếu kém về nhiều mặt và sự phân hoá, không thuần
nhất giữa các bộ phận của đội ngũ công nhân Việt Nam hiện nay. Thực trạng này
được phản ánh trên các bình diện sau:
- Trình độ văn hoá, tay nghề thấp và không đồng dều, mất cân đối giữa các bộ
phận công nhân. Trình độ kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế, khả năng nghề nghiệp
của công nhân còn thấp so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Bộ phận công nhân xuất thân từ nông thôn chiếm đại đa số trong giai cấp
công nhân. Họ mang theo lối suy nghĩ, tầm nhìn của người nông dân, quan hệ xã hội
22
và cả lối sống nông thôn vào trong giai cấp công nhân. Những nhược điểm đó kéo
dài cả thập kỷ, thậm chí có phần phát triển dưới chế độ bao cấp và cơ chế kinh tế kế
hoạch tập trung. Người công nhân Việt Nam chưa được rèn luyện nhiều trong nền
kinh tế công nghiệp và quan hệ cạnh tranh, phát huy tính sáng tạo cá nhân và tập thể
trong môi trường công nghiệp và thị trường còn hạn chế. Điều đó ảnh hưởng rất
nhiều đến tư duy kinh tế, phong cách làm việc, phong cách quản lý của người công
nhân.
- Vấn đề lớn nhất nổi lên trong các năm qua là, giai cấp công nhân chưa thể
đóng vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội, nhất là trong sản xuất, kinh doanh, phân
phối. Một phần, vì người công nhân chưa có thói quen và năng lực làm chủ, nhiều cơ
quan lãnh đạo, quản lý trong các nhà máy, xí nghiệp và ngoài xã hội chưa tôn trọng
quyền làm chủ của giai cấp công nhân. Thậm chí, có nơi quyền dân chủ của công
nhân còn bị vi phạm nghiêm trọng. Đây là mặt yếu rất đặc trưng của giai cấp công
nhân ở những nước chưa có công nghiệp hiện đại. Tình hình làm việc ngày một căng
thẳng, lương không đủ sống, người công nhân phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày,
phải xoay xở bằng mọi cách để tồn tại; khi ngườicông nhân chưa làm chủ được bản
thân mình thì khó có thể làm chủ được nhà máy, xí nghiệp và xã hội. Công nhân
nước ta chưa được tôi luyện bao nhiêu trong môi trường kinh tế, khoa học công nghệ
và cạnh tranh. Vai trò của giai cấp công nhân trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
còn chưa đạt được mức độ cần có của nó.

toàn bộ giai cấp như một chỉnh thể chứ không phải từng nhóm, từng người cá biệt.
Xét về thành phần xuất thân, ở nước ta có nhiều Đảng viên không phải là công nhân.
Nhưng bất cứ đảng viên nào cũng phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân thể
hiện ở lý tưởng, ở lý luận Mác - Lênin và đường lối cách mạng, ở tinh thần kiên
quyết cách mạng trong cuộc đấu tranh để thực hiện sứ mệnh của giai cấp công nhân
vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc.
Trong giai đoạn xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đội ngũ công
nhân hình thành một giai cấp công nhân thống nhất đại diện cho sản xuất tiên tiến,
thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam được trang bị bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Họ là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, là cơ sở xã hội chủ yếu nhất của Đảng và Nhà nước, là hạt nhân vững chắc
trong liên minh công nhân - nông dân - trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết dân
tộc.
Chúng ta không phủ nhận những nhược điểm của giai cấp công nhân Việt Nam
(như số lượng còn ít, chưa được rèn luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ
24
văn hoá và tay nghề còn thấp ) mà nguồn gốc sâu xa là ở trình độ phát triển kinh tế
chưa cao ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Nhưng điều đó không thể là lý do để phủ
nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhânViệt Nam. Để khắc phục những nhược
điểm ấy, Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII của
Đảng, gắn trực tiếp vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá với vấn đề xây dựng, phát
triển giai cấp công nhân đã chỉ rõ phương hướng xây dựng giai cấp công nhân nước
ta trong giai đoạn hiện nay là: “ Cùng với quá trình phát triển công nghiệp và công
nghệ theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần xây dựng giai cấp
công nhân phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị, tư
tưởng, có trình độ học vấn và tay nghề cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công
nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, vươn lên làm tròn sứ
mệnh lịch sử của mình”.
3.1.4. Nguyên nhân của thực trạng
Quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đã mở ra một giai đoạn lịch sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status