1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
1.1. Quan điểm của Mác.
1.1.1. Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX.
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa là học thuyết của Mác: Lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất. Chúng có mối
quan hệ biện chứng với nhau trong đó, LLSX quyết định QHSX.
Trong quá trình hoạt động sản xuất, lực lượng sản xuất không ngừng được hoàn
thiện và phát triển. Đến một trình độ nhất định, tính chất của lực lượng sản xuất
thay đổi khi đó quan hệ sản xuất cũ lỗi thời (QHSX chiếm hữu tư nhân, TLSX chỉ
thuộc về 1 số người) trở thành vật cản đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Lúc đó đòi hỏi sự thay thế QHSX cũ bằng một QHSX mới phù hợp hơn.
Do đó trong CNXH thì LLXS là có con người XHCN đóng vai trò quan trọng thì
đòi hỏi sự phù hợp của QHSX trong đó có sự mở rộng quan hệ và phát triển của tất
cả các thành phần kinh tế.
1.1.2. Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần phù hợp.
Sự không phù hợp giữa LLSX và QHSX trong xã hội tư bản:
− Trình độ sản xuất của nền kinh tế trong xã hội tư bản là trình độ đại công
nghiệp với tính chất công nghiệp hóa.
− LLSX mang tính xã hội hóa ngày càng cao trong khi QHSX của tư bản là
quan hệ là chiếm hữu tư nhân. Tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số
người, sản xuất thì cần nhiều người dẫn đến mâu thuẫn.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ lịch sử đặc biệt, có sư đan xen
nhiều chế độ sở hữu về TLSX giữa các yếu tố của xã hội cũ và xã hội mới. Do đó,
theo lí luận của Mác, chúng ta phải đi xây dựng các thành phần kinh tế phù hợp với
tính chất và trình độ của LLSX.
Tác dụng: Cho phép khai thác và sử dụng hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các
thành phân kinh tế, khắc phục tình trạng độc quyền, tạo ra quan hệ cạnh tranh, động
lực quan trọng thúc đẩy cải tiến kĩ thuật, phát triển LLSX.
Việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần phù hợp tạo điều kiện thực hiện và mở
rộng các hình thức kinh tế quá độ, là cầu nối cần thiết giúp các nước có nền sản
xuất nhỏ quá độ lên CNXH bỏ qua CNTB.
2.1.1. Thực trạng của Lực lượng sản xuất.
Công cụ lao động: thủ công, chưa phát triển. Vẫn đang ở giai đoạn tiểu công
nghiệp.
Lực lượng lao động: theo hướng cá nhân hóa. Chỉ dừng lại ở mức hộ gia đình
nhỏ lẻ hoặc các doanh nghiệp nhỏ. Chưa có lao động tập trung.
2.1.2. Chính sách kinh tế mới - NEP.
Chuyển từ kinh tế tập trung tuyệt đối sang chế độ kinh tế thị trường tự do có sự
điều tiết của Nhà nước chuyên chính vô sản hướng lên nền kinh tế XHCN.
Theo Lê nin những quan hệ sản xuất TBCN được phép tồn tại và phát triển
dưới sự kiểm soát của Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nó là một bước lùi
cần thiết về CNTB và bao hàm những mâu thuẫn nhưng nếu được sử dụng đúng
đắn nó sẽ có tác dụng to lớn đối với quá trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất cơ
khí hóa XHCN.
Theo Lênin, không phá huỷ kết cấu kinh tế- xã hội cũ, thương nghiệp, kinh tế
nhỏ, doanh nghiệp nhỏ CNTB mà làm cho thương nghiệp, doanh nghiệp nhỏ
CNTB phát triển lên và làm cho chúng chịu sự điều tiết của nhà nước. Thông qua
chế độ hợp tác xã để đưa nông dân đi lên con đường hợp tác hóa, Lê nin khẳng
định: ” phải cho chế độ hợp tác xã hưởng 1 số đặc quyền , cấp cho hợp tác xã
những thể thức làm cho chúng ta có thể giúp đỡ có hiệu quả các hợp tác xã và đào
tạo những xã viên hợp tác xã văn minh”.
2.2. Kinh tế nhiều thành phần.
2
Lênin là người đầu tiên trong lịch sử lý luận Mác giải quyết một cách toàn diện
về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, thể hiện sự sáng tạo và
bản lĩnh của một nhà chiến lược kiệt xuất với NEP.
Trong tác phẩm "Bàn về thuế lương thực", Lênin đã nêu ra các thực thể kinh tế
trong xã hội lúc bấy giờ:
1. Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên.
2. Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì).
3. Chủ nghĩa tư bản tư nhân.
gây khó khăn cho đời sống nhân dân, sự phát triển của công nghiệp, ảnh hưởng xấu
đến chu trình sản xuất xã hội.
Trình độ LLSX phân bố không đồng đều giữa các ngành, vùng gây khó khăn
cho việc phát triển kinh tế.
3
3.1.2. Quan hệ sản xuất.
QHSX và LLSX phát triển không đồng bộ: Do bị kìm hãm dưới chế độ phong
kiến lâu dài nên QHSX là QHSX phong kiến, chiếm hữu tư nhân trong khi LLSX
phát triển mang tính xã hội hóa.
Các thành phần kinh tế cũ vẫn còn tồn tại song song với các thành phần kinh tế
mới gây nên mâu thuẫn về QHSX.
3.2. Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua chủ nghĩa tư bản.
3.2.1. Tính tất yếu của việc “bỏ qua” CNTB ở Việt Nam.
Tính khách quan: Quá trình quốc tế hóa sản xuất, toàn cầu hóa với sự thành
công của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật tạo điều kiện cho các nước kém phát
triển đi sau tiếp thu, vận dụng đưa vào mình lực lượng sản xuất hiện đại. Để theo
kịp với xu hướng phát triển của thế giới, LLSX của Việt Nam phát triển theo hướng
hiện đại hóa là điều tất yếu.
Tính chủ quan: khả năng và nguồn nhân lực trong nước có thể đáp ứng được
theo yêu cầu của thời kỳ quá độ lên CNXH. Nước ta có lực lượng lao động dồi dào,
dễ đào tạo, sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu thời đại mới; tài nguyên thiên nhiên đa
dạng phong phú tạo điều kiện hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. => LLSX nước ta có đủ điều kiện để phát triển bỏ qua CNTB.
Con đường quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN ở Việt Nam là hoàn thành đúng đắn
phù hợp với quy luật khách quan. Đó là sự vận dụng đúng đắn, sang tạo chủ nghĩa
Mác Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.2.2. Quan điểm của Đảng.
Đại hội IX của Đảng đã nhận định về thời kì quá độ ở Việt Nam như sau:
Đặc điểm bao trùm nhất của thời kì quá độ nước ta là bỏ qua chế độ TBCN.
Nhưng bỏ qua chế độ TBCN không có nghĩa là phủi sạch trơn, không phải đem
vét tài nguyên khoáng sản.
Pháp thực hiện chính sách “Ngu dân” nhằm hạn chế trình độ nhận thức của
người dân.
Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế
Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên
những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới. Nhưng thực dân
Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước
ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến. Chính vì thế, nước Việt Nam không
thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế
Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp =>
LLSX bị kìm hãm, không thể phát triển được.
4. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CƠ CẤU CÁC THÀNH
PHẦN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM.
4.1 Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 11/1945, trong bài “Toàn dân
kháng chiến” đăng trên báo Cứu quốc, số 83, ngày 5/11/1945. Người kêu gọi: “Các nhà
giàu có mau mau góp vốn lại mở các công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp,
thương nghiệp, tài chính, giao thông để tích cực tăng gia sinh sản, lưu thông buôn bán”.
Từ năm 1945-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền kinh tế
nhiềuthành phần nhằm phát triển kinh tế, phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược.
Năm 1953, trong tác phẩm “Thưởng thức chính trị” ký bút danh Đ.X, Chủ tịch Hồ
Chí Minh cho rằng, nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại nhiều thành phần
như sau: Kinh tế quốc doanh; kinh tế địa chủ phong kiến; kinh tế hợp tác xã, hội đoàn đổi
công; kinh tế cá nhân; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản quốc gia. Phát triển các thành
phần kinh tế vừa để đáp ứng lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, đẩy mạnh sản
xuất, vừa nhằm đoàn kết tất cả các lực lượng trong một mặt trận dân tộc thống nhất phục
vụ cho cuộc kháng chiến.
Trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ II Quốc hội khóa I nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định sự tồn tại tất yếu của
tế hàng hóa nhiều tp phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xu hướng, định hướng phát triển: chủ trương cải cách khu vực kinh tế nhà nước
theo hướng nâng cao hiệu quả của khu vực này, giữ vững vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế.
4.2.3 Các tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp
“Có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội. Nhân dân góp nhau mua những thứ mình
cần dùng, hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phải kinh qua các người con
buôn, không bị họ bóc lột.Các hội đổi công ở nông thôn cũng là một loại hợp tác
xã.”
Vai trò: Đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Xu hướng, định hướng phát triển: cùng với kinh tế nhà nước giữ vai trò nền
tảng trong nền kinh tế.
4.2.4 Kinh tế cá thể của nông dân và thu công nghệ,
Họ thường tự túc ít có gì bán, và cũng ít khi mua thứ gì.
6
Vị trí: Đây là khu vực kinh tế tồn tại như một tất yếu và mang tính đặc thù của
nền kinh tế nhỏ lẻ, đang phát triển ở trình độ thấp bắt nguồn từ nông nghiệp như
nước ta.
Vai trò: tự tạo việc làm cho người lao động với lượng vốn rất ít.
4.2.5 Kinh tế tư bản của tư nhân.
“Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh
tế”.
Vai trò: Nắm tềm năng lớn về vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm và trình
độ quản lý, do đó nó có vai trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất, giải
quyết việc làm, tăng thu nhập quốc dân, nâng cao đời sống. Kinh tế tư bản tư nhân
góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thông qua
việc nâng cao tỷ lệ tích luỹ và đầu tư, phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực kinh tế, tăng sức cạnh canh trong nền kinh tế, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy
tiến bộ khoa học công nghệ để hội nhập kinh tế quốc tế.
Xu hướng, định hướng phát triển: kinh tế tư bản tư nhân ngày càng được Nhà
dùng. Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hoá ta chưa
chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta.
5. TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA CHỦ TRƯƠNG.
5.1. Tính đúng đắn thể hiện qua mặt lý luận của Đảng.
5.1.1. Những quan điểm sai lầm về sở hữu và các thành phần phần kinh tế của
Đảng trước đổi mới ( trước 1986).
Do chủ quan duy ý chí và bảo thủ trì trệ, Đảng đã có những sai lầm nghiêm
trọng và kèo dài về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức
thực hiện trong giai đoạn này, vi phạm các quy luật khách quan, biểu hiện qua một
số lĩnh vực cụ thể được Văn kiện ĐH Đảng lần VI đánh giá như sau : “chưa thật sự
thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta tồn tại trong một thời gian
tương đối dài” nên “đã có những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành
phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa”, “chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về
sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của LLSX” nên “có lúc đẩy mạnh
quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp
nhẹ”.
Từ tuyệt đối hóa mặt sở hữu về tư liệu sản xuất, chúng ta đi đến tuyệt đối hóa
quan hệ sản xuất, đi ngược lại quy luật kinh tế khách quan là đẩy mạnh việc xây
dựng quan hệ sản xuất để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Cách làm
này đã không tạo được điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển mà trái lại kìm
hãm lực lượng sản xuất.
Như vậy, với chế độ công hữu hình thức, áp đặt, chúng ta đã nhanh chóng xóa
bỏ các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thực tế là
đã triệt tiêu động lực kinh tế làm cho nền kinh tế không phát triển, đời sống khó
khăn, tiêu cực phát triển.
5.1.2. Nhận thức lại về sở hữu và các thành phần kinh tế trong Đại hội Đảng lần
thứ VI ( 1986).
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã thổi luồng gió mới vào đời sống kinh tế ở
nước ta. Trong đại hội này, Đảng ta thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót trong nhận
thức và chỉ đạo về sở hữu và các thành phần kinh tế, cũng như việc vận dụng quy
sau thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể .
Đại hội Đảng X , Đảng ta cho gộp 2 thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh
tế tiểu chủ cá thế thành thành phần kinh tế tư nhân do chúng có nhiều đặc điển
giống nhau.
Nhìn lại sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã phát triển theo cơ cấu nhiều thành
phần kinh tế với 5 thành phần kinh tế là: Kinh tế nhà nước; Kinh tế tập thể; Kinh tế
tư nhân; Kinh tế tư bản nhà nước; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài;
Với những thay đổi đúng đắn trong nhận thức, tư duy kinh tế dựa trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác-lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh , nền kinh tế sau đổi mới
ngày càng được phát triển và hoàn thiện theo hướng cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần với lực lượng nòng cốt là thành phần kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những kết quả khả quan.
5.2. Cơ sở thực tiễn.
5.2.1. Bảng vốn đăng kí của mỗi thành phần kinh tế.
Trước đổi mới Sau đổi mới
1970 1975 1980 1990 1995 2000
Kinh tế nhà
nước
0,0728 0,19 0,223 1000 4080 9880
Kinh tế tư
nhân
26,5 421,38 2248,3
Kinh tế cá thể 3,563 8700 15640
9
Kinh tế có vốn
đầu tư nước
ngoài
735 3937,2 5838,9
Tổng 0,0728 0,19 0,233 1765,063 17138,58 33607,2
Đơn vị: Triệu USD.