1
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
*
NGUYễN HUY KIểM TƯ TƯởNG Hồ CHí MINH Về XÂY DựNG NềN VĂN HóA MớI
Và Sự VậN DụNG TƯ TƯởNG Đó ở VIệT NAM HIệN NAY LUậN VĂN THạC Sĩ
Chuyên ngành: Triết học
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 80 Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. D-ơng Văn Duyên Hà Nội - 2012
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG
14
Chương 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI VIỆT NAM
14
1.1. Tiền đề, điều kiện hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá
và xây dựng nền văn hoá mới 14
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời đại ngày nay là thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ. Sức mạnh của một quốc gia không chỉ được quyết định bởi sức mạnh
về kinh tế, sức mạnh quốc phòng mà còn được quyết định bởi nguồn lực con
người. Con người với năng lực làm việc chuyên môn cao, có phẩm chất đạo
đức, có quyết tâm nghị lực lớn sẽ là một sức mạnh to lớn để khắc phục những
hạn chế về kinh tế về tài nguyên khoáng sản v.v… Nhận thức được tầm quan
trọng của nhân tố con người, những năm qua đặc biệt trong thời kỳ đổi mới
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định chăm lo cho con người, phát triển
con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi chính sách xã hội, của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là xây dựng những điều kiện
cho con người phát triển. Những điều kiện đó không chỉ có những yếu tố kinh
tế mà còn cả những yếu tố về văn hóa. Kinh tế và văn hóa có quan hệ gắn bó
với nhau. Sự phát triển của kinh tế quy định sự phát triển của văn hóa, nhưng
ngược lại sự phát triển văn hóa cũng sẽ tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
Nhận thức được mối quan hệ đó, tại Hội nghị lần thứ năm, Ban chấp Hành
Trung ương Đảng khoá VIII, Đảng ta khẳng định: “Xây dựng và phát triển
kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, văn minh, con
người phát triển toàn diện.Văn hoá là kết quả của kinh tế đồng thời là động
lực của sự phát triển kinh tế” [23, tr. 55]. Nói về điều này, khi phát động thập
kỷ quốc tế về phát triển văn hoá, UNESCO đã nhấn mạnh: “Khi các mục tiêu
tăng trưởng kinh tế được đặt ra mà tách rời môi trường văn hoá thì kết quả thu
được sẽ rất khập khiễng mất cân đối cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá, đồng thời
tiềm năng sáng tạo của mỗi dân tộc sẽ bị suy yếu đi rất nhiều” [98, tr.19]. Do
đó: “Nhận thức vị trí vai trò của văn hoá trong phát triển, chúng ta cần vượt
lên trên cách tiếp cận kinh tế học thuần tuý và tìm ra hàng trăm các phương
”.
Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa
mới – XHCN, từ những thành tựu và hạn chế trong xây dựng nền văn hóa ở
Việt Nam những năm qua, luận văn muốn đề xuất những giải pháp để nâng
cao hiệu quả hoạt động này ở hiện tại, cũng như trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến hôm nay, việc nghiên cứu về con người, sự nghiệp, tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung đã có rất nhiều nhà khoa học, tác giả
trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu và đã xuất bản, ra mắt một số
lượng đồ sộ các đề tài, tác phẩm với những nội dung vô cùng phong phú.
9
Chỉ tính riêng lĩnh vực tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, xây dựng và
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hoá Việt Nam” (2005); Lê Hưu Ái “Tìm
hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về tính dân tộc của văn hoá, nghệ thuật” (1999). Còn
một số tác phẩm khác có liên quan đến vấn đề này đã được nêu rõ ràng trong
danh mục tài liệu tham khảo của luận văn này.
Ngoài những công trình, tác phẩm của các nhà nghiên cứu, tác giả nêu
trên, đề cập trực tiếp và liên quan đến vấn đề này, một số luận văn, luận án đang
được lưu trữ tại thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội, trong những năm gần đây,
các tác giả cũng bước đầu tìm hiểu vấn đề nay. Như, Trần Thị Đào với đề tài
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá vào xây dựng, phát triển nền
văn hoá Việt Nam hiên nay” (2007); “Kế thừa và phát triển trong việc xây dựng
nền văn hoá mới ở Việt Nam hiên nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”(2007) của
Hoàng Ngọc Thắng; Trịnh Thanh Mai với “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiếp thu
tinh hoa văn hoa thế giới vào xây dựng nền văn hoá dân tộc và sự vận dụng tư
tưởng đó trong phát triển văn hoá nước ta hiện nay” (2009), còn Nguyễn Thanh
Tùng đã chọn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá mới trong thời kỳ (1945 1954)”
(2010), làm đề tài nghiên cứu. Gần đây nhất, Trần Thị Minh đã chọn đề tài “Phát
triển văn hoá với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội trong điều kiện kinh tế
thị trường ở Việt Nam hiện nay” (2012), làm luận án tốt nghiệp.
Ngoài ra hiện nay còn rất nhiều tạp chí, đầu sách, bài viết cũng đề cập
xung quanh vấn đề này. Như: tạp chí khoa học xã hội, tạp chí Triết học, Tạp chí
Cộng sản, tạp chí Văn hóa Tư tưởng, tạp chí Lý luận các tạp chí này liên tục
hàng tháng trong năm đều có những bài viết đề cập trực tiếp đến vấn đề này.
Qua quá trình khảo sát tình hình nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn
có nhận xét sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu, các tác phẩm, các bài viết nêu trên,
các tác giả đã nêu và khái quát được những nét lớn chủ yếu trong tư tưởng văn
hoá, xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số
11
tác giả đã bắt đầu đi vào khai thác, nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của tư
bách. Do đó rât cần và phải thường xuyên nghiên cứu sâu hơn nữa, để có
những công trình toàn diện, xứng tầm với giá trị đích thực của tư tưởng Hồ
Chí Minh về văn hóa, từ đó có được đường đi, nước bước đúng đắn trong xây
dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
- Mục đích: Luận văn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
nền văn hoá mới ở Việt Nam và sự vận dụng ở nước ta trong thời kỳ đổi mới,
từ đó đưa ra những giải pháp mang tính định hướng nhằm thực hiện tốt hơn
nữa hoạt động này trong những năm tới.
- Nhiệm vụ Luận văn:
Làm rõ tiền đề tư tưởng, điều kiện để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng nền văn hoá mới; một số nội dung tư tưởng của Người về xây
dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam.
Làm rõ những thành tựu và hạn chế của việc xây dựng nền văn hoá
Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới.
Đưa ra những giải pháp có tính định hướng để xây dựng nền văn hoá
Việt Nam đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu của cách mạng trong những năm tới.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, quan điểm duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; dựa trên lý luận, quan điểm của Đảng,
Nhà nước về phát triển kinh tế và văn hóa.
- Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch quy nạp.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa mới, xây dựng nền văn
hoá mới ở Việt Nam; sự vận dụng tư tưởng đó trong xây dựng văn hoá ở Việt
Nam thời kỳ đổi mới, từ 1986 đến nay.
13
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của văn
NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI VIỆT NAM
1.1. Tiền đề, điều kiện hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về văn
hoá và xây dựng nền văn hoá mới
1.1.1
Một là, tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh được hình thành trên nền
tảng văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã hun đúc, tạo
lập cho dân tộc ta một nền văn hoá phong phú, đa dạng và thống nhất bền
vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp, cao quý; đó là truyền thống yêu
nước, kiên cường bất khuất, là tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa,
cần cù dũng cảm, ý thức cố kết cộng đồng, là ý thức vượt mọi khó khăn, thử
thách, tinh thần lạc quan yêu đời
Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc. Khi tôn vinh Người là danh nhân văn hóa Việt Nam và Anh
hùng giải phóng dân tộc, tổ chức UNESCO đã ghi nhận: Nhà văn hóa kiệt
xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc
Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của
các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình và tiêu biểu cho việc thúc
đẩy hiểu biết lẫn nhau…
Trong những giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước là tư tưởng, tình cảm cao
quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của
người Việt Nam cũng là chuẩn mực đạo đức, là giá trị văn hóa cơ bản của dân
tộc; đã ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi chúng ta. Đây là
dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao
nhất đứng đầu bảng giá trị văn hóa – tinh thần Việt Nam. Mọi học thuyết đạo
15
đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc
phúng dõn tc, gii phúng xó hi, gii phúng con ngi.
H Chớ Minh ó lm phong phỳ ni dung ca ch ngha yờu nc. Yờu
nc i vi Ngi l gn lin vi yờu nhõn dõn. Ngi núi, lũng thng yờu
nhõn dõn v nhõn loi ca Ngi khụng bao gi thay iNgi cú mt ham
mun tt bc l lm sao nc ta c c lp, dõn ta cú cm n, ỏo mc v
c hc hnh. Ngi ó nờu ra chun mc trung vi nc, hiu vi dõn v
phỏt trin nhng ni dung mi ca ch ngha yờu nc. ú l yờu nc da
trờn quan im giai cp cụng nhõn, yờu nc m rng ra thnh tỡnh yờu vụ
cựng rng ln i vi nhõn dõn lao ng, nhng ngi cựng kh, i vi giai
cp cụng nhõn cỏc nc trờn th gii. Trờn c s t tng ca giai cp cụng
nhõn, Ngi ó nờu ra ni dung mi: Yờu T quc, yờu nhõn dõn gn lin vi
yờu ch ngha xó hi, vỡ ch cú ch ngha xó hi thỡ nhõn dõn mỡnh mi ngy
mt m no thờm, T quc ngy mt giu mnh thờm.
Tiếp theo, dân tộc Việt Nam có truyn thng lc quan yờu i. Trong
khú khn gian kh, ngi Vit Nam vn ng viờn nhau ch thy súng c
m ngó tay chốo. Tinh thn lc quan ú cú s s t nim tin vo sc mnh
ca bn thõn mỡnh, tin vo s tt thng ca chõn lý, chớnh ngha, cho dự trc
mt cũn muụn vn khú khn phi chu ng vt qua. H Chớ Minh chớnh l
hin thõn ca truyn thng lc quan ú, iu ú -ợc thể hiện trong suốt cuộc
đời hoạt động cách mạng của Ngi trong mọi hoàn cảnh.
Bên cạnh đó dõn tc Vit Nam l mt dõn tc cn cự, dng cm, thụng
minh, sỏng to trong sn xut v chin u nờn cng l mt dõn tc ham hc
hi, hiếu học, coi trọng sự học, luôn luôn tôn vinh những ng-ời học cao, đỗ
đạt v khụng ngng m rng ca ún nhn tinh hoa vn húa nhõn loi. Do
iu kin a lý cú nhiu thun li nờn t rt sm, dõn tc Vit Nam ó giao
lu vi cỏc nn vn húa ln trờn th gii. Ngi vit Nam t xa ó rt xa l
vi thúi bi ngoi cc oan. Trờn c s gi vng bn sc ca dõn tc nhõn
17
dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của
Nguyễn Sinh Cung, đó là do chương trình trường học Nho trước kia chủ yếu
là một số sách kinh điển Khổng Mạnh, những Tứ thư, Ngũ kinh. Một người
như Nguyễn Sinh Cung dù ít tuổi nhưng với tư chất thông minh, tự học, tự
tìm tòi cùng với giáo dục gia đình Người vẫn có thể nắm được một cách có hệ
thống và sâu sắc những kiến thức đó. Cho nên, khi xuất dương tìm đường cứu
nước (1911) và sau đó trong khi hoạt động ở nước ngoài không có điều kiện
trao đổi đi sâu vào kho tàng Hán học, Nguyễn Tất Thành (từ 1919 lấy tên là
Nguyễn Ái Quốc) vẫn có cái nền tảng vững chắc cần thiết về cổ học phương
Đông để vận dụng khi cần thiết vào công cuộc cách mạng.
Hồ Chí Minh sinh ra trên mảnh đất Việt Nam thế kỷ XIX, trong một
gia đình khoa bảng. Thân sinh ra Người cũng giống như bao thanh niên thời
đó đều lấy con đường khoa cử Nho học làm đường tiến thân. Môi trường sống
xã hội và gia đình, cách đào luyện, cách ứng xử đạo đức như nếp sống tự
nhiên thấm nhuần đến cá nhân Hồ Chí Minh. Và như vậy, việc Hồ Chí Minh
chịu ảnh hưởng của một nền văn hoá Nho giáo Trung Hoa là lẽ đương nhiên.
Vốn Hán học của Hồ Chí Minh thật uyên thâm. Đó là điều không thể nghi
ngờ. Chỉ cần qua tập thơ Ngục trung nhật ký và thơ chữ Hán thù tạc của
Người với bạn bè, đồng chí Trung Quốc, với các nhà yêu nước Việt Nam như:
Bùi Bằng Đoàn, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Liêm Sơn…, cũng có thể hiểu được
ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, tư tưởng Nho giáo và cả dấu ấn Lão giáo
thấm vào Người như một dấu ấn văn hoá, ứng xử và đạo đức. Có một điều mà
ai cũng nhận thấy sự tiếp thu đến nhuần nhuyễn, hoá thân tạo nên những cách
nghĩ hợp lý Việt Nam. Qua cách diễn dịch của Người những câu chuẩn mực
đạo đức Trung Hoa, qua tiến trình lịch sử lâu dài được dân tộc Việt Nam chấp
nhận, đã thành quen thuộc như một chuẩn mực có tính nhân văn phương
Đông. Hồ Chí Minh là một hiện tượng văn hoá có tính dân tộc, nhân loại và
thời đại. Và như thế ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, đã được lọc qua màng
19
tiếp nhận dân tộc của Hồ Chí Minh. Nho giáo đã có thời có người cho là lạc
nhiều bài học đáng khâm phục. Hồ Chí Minh hầu như đại diện trọn vẹn những
tiêu chí chuẩn mực đạo đức ứng xử của Nho giáo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Nội dung “Ngũ thường” đã được Hồ Chí Minh đẩy đến nhận thức cao, ngày
càng hoàn bị, mang tính thời đại. Nhân, Nghĩa, Lễ đã làm cho Hồ Chí Minh
thu phục được lòng người. Những nhà yêu nước, nhân sĩ vì Lễ và Nghĩa cả
của Người đã cảm động và thấy hết trách nhiệm của mình với cộng đồng dân
tộc: cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Bùi Bằng Đoàn… đã từng
được chính cách đối xử Lễ và đầy Nghĩa tình lớn lao, ngay phút gặp đầu tiên
đã bị Người chinh phục.
Hồ Chí Minh đã khai thác, lựa chọn những yếu tố tích cực, hợp lý của
Nho giáo phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng. Tại Hội nghị huấn luyện toàn
quốc tháng 5-1950, Người nói: “Khẩu hiệu học không biết chán, dạy không
biết mỏi treo trong phòng họp chính là của Khổng Tử. Tuy Khổng Tử là
phong kiến và trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng,
song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” [68, tr. 46]
Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu tư tưởng của Khổng Tử mà Người còn
tiếp thu những giá trị tư tưởng Lão Tử. Trên văn kiện, bài nói và bài viết, chúng
ta hầu như chỉ thấy có một lần Hồ Chí Minh nhắc đến Lão Tử và dẫn Đạo Đức
Kinh “Dạ bất bế hộ, lộ bất thập di” [69, tr.363] (nghĩa là: đêm không cần đóng
cửa, ngoài đường không ai nhặt của rơi). Song xét trong bối cảnh của nền văn
hoá truyền thống còn tồn tại tình trạng “Tam giáo đồng Nguyên”… thì một
người tri thức ngày xưa cùng một lúc nghiên cứu cả Nho - Phật - Lão là chuyện
bình thường. Đạo đức Kinh là một tác phẩm triết học có ảnh hưởng lớn đến
nhiều học thuyết khác ở phương Đông, lại chỉ có 5.000 chữ, các nhà Nho Việt
Nam đều thuộc, vậy Hồ Chí Minh chắc không đi ra ngoài cái chung đó.
Ta được biết Người không tán thành cách viết của một nhà thơ khi xem
một trận thắng chết nhiều người là một trận thắng “đẹp”. Trong Đạo đức
21
Kinh, Lão Tử viết: “Ta có ba cái quý, cái thứ nhất là nhân từ, cái thứ hai là
anh hùng dân tộc thời Lý - Trần đều là những người, trên cơ sở của truyền
thống nhân đạo và chiến đấu của dân tộc, đã tiếp thu Phật giáo, xây dựng một
Phật giáo mang màu sắc Việt Nam. Nếu Hồ Chí Minh, với tấm lòng yêu
thương vô hạn đối với đồng bào và nhân loại bị áp bức, đã suốt đời chiến đấu
cho độc lập Tổ quốc, cho tự do và hạnh phúc của con người, thì “Nhà văn hoá
phương Đông” này không xuất phát từ Phật giáo mà xuất phát từ truyền thống
của dân tộc trong đó có chứa đựng những nhân tố tích cực của Phật giáo.
Ảnh hưởng của Phật giáo trong dân gian rất sâu rộng. Đạo đức “từ bi hỉ
xả”, nếp sống “ăn hiền ở lành”, tình cảm “thương người như thể thương
thân”… đã trở thành truyền thống sâu đậm trong đạo lý sống của nhân dân lao
động nước ta. Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình nhà Nho nghèo, gần gũi
với nhân dân, nên từ nhỏ cũng đã thấm nhuần những truyền thống đó. Tương
truyền bà ngoại Bác Hồ, cụ Nguyễn Thị Kép, là một phụ nữ rất mộ đạo về già
thường siêng năng lên chùa và chăm làm việc thiện. Thân sinh của Người, cụ
Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị mất chức, bỏ đi dần vào các tỉnh phía Nam, đến
sống ở Cao Lãnh (Sađéc). Tại đây, cụ thường cư ngụ tại các cửa chùa vừa bốc
thuốc, vừa chữa bệnh cho dân, vừa chăm chú nghiên cứu giáo lý đạo Phật.
“Theo hồ sơ mật thám, có lần cụ đã tới Nông Pênh, sống với nhà sư Hồng Đại
Bửu Phước, chủ trì chùa Sùng Phước ở Châu Hộ (Nông Pênh), được nhà sư
cấp chứng chỉ là tín đồ phái phật giáo Lâm tế, mang pháp danh Nhật Sắc, tức
Thiện Thành”.
[91, tr. 47]
Những tư liệu này đã cho thấy triết lý Phật giáo vốn không phải là điều
xa lạ gì với Hồ Chí Minh ngay từ thủa thiếu thời. Khi hoạt động bí mật trong
Việt Kiều tại Thái Lan, Hồ Chí Minh đã từng khoác áo cà sa, cùng với các vị
chân tu bàn bạc về “vô ngã, vị tha” và những điều cao siêu khác trong triết lý
nhà Phật, đã cùng với kiều bào bắt tay vào xây trường, xây chùa, viết bài ca
ngợi những anh hùng dân tộc, nhằm giáo dục chủ nghĩa yêu nước, kết hợp lý
tưởng “cứu khổ, cứu nạn” với lý tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc.
24
Ba là, tư tưởng văn hóa của Hồ Chí Minh là sự tiếp thu tinh hoa văn
hóa phương Tây.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra ở đất Lam Hồng, vùng địa linh nhân kiệt,
đã hấp thu sâu sắc tinh hoa của truyền thống văn hoá Việt Nam, lại có hiểu
biết sâu rộng về văn hoá phương Đông. Tiếp đó trải qua bao năm bôn ba bốn
biển năm châu để tìm đường cứu nước, Người đã tiếp thu tinh hoa của nền
văn hoá phương Tây, của các nền văn hoá trên thế giới. Người nói: Phương
Đông hay phương Tây, có cái gì hay, cái gì tốt thì ta tiếp thu, tiếp thu có chọn
lọc và phải biến thành thuần tuý Việt Nam, có như thế mới là dân chủ nghĩa là
mới trở thành tài sản của mỗi một người dân - người làm chủ đất nước.
Trước khi bước chân xuống tàu ra đi tìm đường cứu nước (1911), thì sự
hiểu biết văn hoá phương Tây đối với anh thanh niên Nguyễn Tất Thành vẫn
còn ít ỏi. Nhưng dù sao việc tiếp xúc trực tiếp với học vấn phương Tây, theo
lớp học dự bị trường tiểu học Pháp - Việt tại Vinh (Nghệ An) có thể xem là
một cái mốc quan trọng. Sau này khi nhớ lại tuổi niên thiếu, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã cho biết là chính vào thời kỳ này, lần đầu tiên khẩu hiệu của cuộc đại
cách mạng Pháp: “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” đã đến với người, tất nhiên lúc
đó chỉ mới là sự bắt gặp, làm quen bước đầu có tính chất áp đặt, sách vở, phải
về sau trải qua những điều mắt thấy tai nghe hoàn toàn trái ngược ngoài xã
hội thì mới gây cho cậu thiếu niên thông minh, ham học hỏi suy ngẫm một sự
ngờ vực khoa học, dẫn tới một quyết định đầy tính cách mạng là phải tìm xem
những cái gì ẩn dấu đằng sau cái khẩu hiệu đó.
Trên đường vào Nam, dừng chân tại Phan Thiết, vào dạy học ở trường
Dục Thanh, trường đặt ngay trong khuôn viên của gia đình cụ Nguyễn Thông -
một nhà Nho yêu nước, sau khi sáu tỉnh Nam Kỳ bị Pháp chiếm, ông ra “tỵ địa”
tại đây. Trong khu vườn của cụ Nguyễn Thông có một thư viện lớn, được cụ đặt
tên là “Ngoạ du sào”, trên gác có nhiều “Tân thư” do Trung Quốc dịch ra chữ
Hán. Anh Thành rất đam mê đọc sách. Chính tại đây, qua các tân thư, anh Thành
26
để nhất, lúc đó tấn công vào chế độ phong kiến và giáo hội. Nhưng chẳng bao
lâu, khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái chỉ còn tồn tại trên lý thuyết. Thực tế
chỉ còn sự trói buộc nhân dân trong nước và áp bức nhân dân thuộc địa, sự
phân hoá sâu sắc giữa giàu nghèo, sự bất công trên mọi lĩnh vực kinh tế,
chính trị, xã hội và văn hoá, đó còn là sự đàn áp, chém giết và tranh cướp diễn
ra trên mọi miền của trái đất.
Hồ Chí Minh đã phân biệt được hai mặt tiến bộ và phản động trong xã
hội tư sản và trong tư tưởng văn hoá của phương Tây. Từ sự suy thoái của văn
hoá phương Tây, Người nhìn rõ sự tiêu vong tất yếu của xã hội tư sản đầy rẫy
những bất công. Tuy nhiên, Người vẫn tin tưởng rằng những giá trị mà văn
hoá phương Tây đã xây dựng được trước đây sẽ được hồi sinh và mở đường
cho sự ra đời của một nền văn hoá cao hơn, nền văn hoá của chủ nghĩa Mác -
Lênin và chủ nghĩa xã hội.
Trên bước đường học tập và nghiên cứu, Nguyễn Tất Thành đã từng bước
hấp thu văn hoá nhân đạo và dân chủ phương Tây. Khi còn ở trường Dục Thanh,
qua tủ sách “Tân Thư” của cụ Nguyễn Thông ở Ngoạ du sào, người thanh niên
ham học này đã từng làm quen với những tư tưởng mới của Vonte, Rútxô,
Môngtexkiơ Khi xuất dương, anh Nguyễn tìm sang tận nước Mỹ, quê hương của
bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, và đã khắc sâu vào tâm trí mình câu nói bất
hủ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được
sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [66, tr.1]. Ý chí đấu tranh cho
độc lập, tự do, cho quyền sống của con người là những giá trị căn bản của cách
mạng Mỹ mà anh Nguyễn ghi nhận và đánh giá cao.
Đóng góp vào sự trưởng thành của Anh Nguyễn phải kể đến vai trò đặc
biệt của câu lạc bộ Faubourg giống như câu lạc bộ Jacobins thời đại cách mạng
Pháp. Đây là câu lạc bộ của các vị “quốc trưởng tương lai”. Tại đây, Anh
Nguyễn đã gần gũi và kết bạn với nhiều nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, chính
28
loại, Hồ Chí Minh đã bắt gặp chủ nghĩa xã hội. Và chủ nghĩa xã hội là sự kết
tinh thành tựu văn hoá của nhân loại; không có văn hoá, không có tri thức thì
không thể hiểu được thế nào là chủ nghĩa xã hội đích thực.
Ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, chủ yếu là ngay ở ngọn nguồn
của văn minh phương Tây, Nguyễn Ái Quốc có đủ thời gian để chọn lọc, tiếp
nhận những tinh hoa của nền văn minh rực rỡ đó, rồi vận dụng vào sự nghiệp
cách mạng của dân tộc mình và phục vụ các dân tộc khác cùng cảnh ngộ. Và
đặc sắc thay là chính nhờ có sự am hiểu thấu đáo, tinh thông văn hoá phương
Tây mà Hồ Chí Minh càng hiểu sâu hơn một số tri thức của văn hoá phương
Đông từng tiếp nhận được từ hồi còn trẻ. Cho nên không lấy gì làm lạ khi
thấy Hồ Chí Minh đã huy động cả các sự kiện trong lịch sử Trung Quốc cổ
đại, như chế độ “Tỉnh điền” đời Hoàng Đế (năm 2697 TCN) hay chế độ lao
động cưỡng bức đời Hạ (năm 2205 TCN), cũng như thuyết “Đại Đồng” của
Khổng Tử (năm 551 - 479 TCN) với thuyết “Kiêm ái” của Mạnh Tử được giải
thích theo quan điểm mới để phục vụ cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin
vào Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Phải là một
người cực kỳ tinh thông các học thuyết Đông - Tây, nắm thật chắc và đúng hạt
nhân cơ bản của vấn đề, đồng thời cũng phải là một người có đầy đủ bản lĩnh
cách mạng mới có thể đưa ra một ý kiến vừa mạnh dạn, vừa độc đáo khi khẳng
định: Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên đều có những điểm chung. Họ đều
muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ
còn sống trên đời này, họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống
với nhau rất hoàn mĩ như những người bạn thân thiết, để rồi khiêm tốn tự đề ra
cho mình nhiệm vụ: “Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” [94, tr.
91]. Người cho rằng: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để
tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa
và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt
Nam để hợp với tinh thần dân chủ” [77, tr.350]