Nghiên cứu sử dụng enzyme lipase để nâng cao hiệu suất bột giấy thu được trong quá trình khử mực giấy báo loại theo phương pháp tuyển nổi - Pdf 13

BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
CÔNG TY TNHH - VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ
*********&*********

BÁO CÁO
ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2011

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ENZYM LIPASE ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
SUẤT THU HỒI BỘT TRONG QUÁ TRÌNH KHỬ MỰC GIẤY BÁO
LOẠI THEO PHƯƠNG PHÁP TUYỂN NỔI

Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì: CÔNG TY TNHH - VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ
Chủ nhiệm đề tài: LÊ THỊ QUỲNH HOA
Kỹ sư công nghệ giấy

nổi có sử dụng enzym Lipase
11
Phần II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
18
II.1. Đối tượng, hóa chất và thiết bị nghiên cứu
18
II.1.1 Đối tượng nghiên cứu
18
II.1.2 Hóa chất
18
II.1.3 Thiết bị nghiên cứu
18
II.2 Phương pháp nghiên cứu
18
II.2.1 Chuẩn bị nguyên liệu
18
II.2.2 Phương pháp nghiên cứu
19
Phần III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
III.1
Khảo sát quá trình khử mực giấy in báo theo phương pháp
tuyển nổi thông thường
23
III.2
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại enzym Lipase trong quá
trình đánh tơi trước khi khử mực bằng phương pháp tuyển
nổi truyền thống
24
III.3
Nghiên cứu các yếu tố công nghệ tới hiệu quả khử mực giấy

mực giấy in báo loại
35
III.4.4.
Ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý enzym trong quá trình tuyển
nổi cấp 2 tới hiệu quả khử mực giấy in báo loại
36
III.5
Thiết lập quy trình công nghệ nâng cao hiệu suất quá trình
tuyển nổi khử mực có sử dụng enzym lipase
38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
cellulase, hemicellulase, xylanase hay lipase …Các loại enzym này chủ yếu được sử
dụng trong quá trình đánh tơi giấy loại, hỗ trợ quá trình tách loại mực in trước khi
đem đi xử lý hóa chất và tuyển nổi. Các nghiên cứu cho thấy, quá trình khử mực sử
dụng enzym đã giả
m được mức dùng hóa chất, tăng hiệu quả loại mực, giảm thất
thoát xơ sợi ra môi trường. Một số nghiên cứu đã cho thấy, emzym có nguồn gốc
lipase đang được nghiên cứu sử dụng cho quá trình khử mực giấy in báo do khả
năng có thể thủy phân mực in dầu, tăng hiệu quả tách loại mực mà không làm ảnh
hưởng tới tính chất xơ sợi. Một số loại enzym g
ốc lipase thương phẩm phổ biến như
Resinase A2X từ chủng Thermomyces lanuginosus (Novozym), Lipex từ chủng
Fusarium oxysporum (Novozym), Optimyze từ chủng Magnaporthe grisea
(Buckman) đã được nghiên cứu với mức dùng phù hợp, đem lại hiệu quả tách mực
và hiệu suất thu hồi bột tương đối cao. [4]
Nhằm mục đích giảm lượng thất thoát, nâng cao hiệu suất của quá trình khử
mực, giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà vẫn đảm bảo đượ
c chất lượng bột giấy báo
sau khử mực, năm 2011 Viện Công nghiệp giấy và Xenluylo được Bộ Công Thương
giao thực hiện đề tài “ Nghiên cứu sử dụng enzyme Lipase để nâng cao hiệu suất bột
giấy thu được trong quá trình khử mực giấy báo loại theo phương pháp tuyển nổi ”
Nội dung nghiên cứu gồm có:
- Nghiên cứu sử dụng enzym lipase trong quá trình đánh tơi và tuyển nổi bột giấy
để nâng cao hiệu suất bột giấy thu được trong quá trình tuyển nổi.
- Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố công nghệ: pH, thời gian, nhiệt độ và mức
dùng enzym lipase đến hiệu suất thu hồi bột giấy.
- Thiết lập chế độ công nghệ nâng cao hiệu suất thu hồi bột giấy trong quá trình
tuyển nổi mà chất lượng bột giấy vẫn đảm bảo.

có hiệu quả đạt 70%. Ở Phần Lan đã thu hồi được 75% giấy loại và 53% trong số đó
được sử dụng có hiệu quả. Các quốc gia khác như Pháp, Bỉ, Thuỵ Điển cũng có mức
độ thu hồi giấy loại lên đến 75%. Sử dụng bột giấy loại hiệu quả sẽ giúp tiết kiệm
chi phí hoá chất, vận hành và giảm thiểu được ảnh hưởng xấu tới môi trường do việc
khai thác rừng và quá trình nấu bột gây ra.
Bảng1.1. Sử dụng giấy thu hồi để sản xuất giấy theo khu vực giai đoạn 2005 –
2010 (1000 tấn)[1]
Năm
Khu vực
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tỉ lệ so với
thế giới năm
2010, %
Châu Á 70 344 72 127 79 027 76 724 79 213 82 698 37,78
Châu Âu 58 464 59 946 61 942 65 389 62 788 65 551 29,95
Bắc Mỹ 49 616 50 874 52 405 51 715 49 857 52 051 23,78
Mỹ Latinh 9 074 9 304 10 301 10384 10 034 10 475 4,79
Châu Úc 2 359 2 419 2 518 3 482 3 584 3 704 1,69
Châu Phi 1 751 1 795 1 850 2 253 2 142 2 236 1,02
Trung Đông 0 - - 2 021 2 075 2 166 0,99
Trên thế giới, sử dụng giấy thu hồi cho sản xuất đã tăng 3% trong cả giai đoạn
2005 – 2010 do giá bột giấy tăng liên tục. Châu Á là nơi sử dụng giấy thu hồi nhiều
nhất, chiếm gần 40% so với toàn thế giới. Lượng giấy thu hồi và tỉ lệ sử dụng giấy
thu hồi cho sản xuất giấy trong thời gian gần đây đã được thống kê trong bảng
1.1.[1]
Ngoài lượng lớn giấy bao bì và cacton cũ thì giấy báo cũ (ONP) và giấy tạp
chí cũ cũng được thu hồi đáng kể. Năm 2010, tỉ lệ thu gom giấy báo loại ONP trên
thế giới đạt 67,8%. Dự kiến đến năm 2015, con số này sẽ đạt 69%, cung cấp nguồn
nguyên liệu đáng kể cho sản xuất giấ
y.

134 940 195 572 264 438 266 743 216 946 269 743
Tỷ lệ thu hồi, %
31,0 28,0 27,0 25,1 30,0 32,0
*OCC: hỗn hợp giấy cacton cũ
*ONP: giấy báo cũ
*OMG: giấy tạp chí cũ
Theo dự báo, đến năm 2015, tỉ lệ thu gom giấy loại trong nước hằng năm
cũng chỉ tăng thêm khoảng 1 % và đạt khoảng 35 %.[1]. Để nâng cao hiệu quả sản
xuất giấy, chủ động nguồn bột, nhiều công ty đã đầu tư vào các dây chuyền khử mực
như công ty cổ phần giấy Sài Gòn 20 tấn/ngày; công ty cổ phần giấy Trúc Bạch
6000 tấn/năm; công ty Newtoyo 60 tấn/ngày; công ty giấy Tissue Sông Đuống 20
000 tấn/năm; công ty cổ phần giấy Diana công suất 25 000 tấn/năm… Mới đây, dây
chuyền khử mực của công ty cổ phần giấy Bãi Bằng đã đi vào hoạt động với công
suất 50 000 tấn/năm nhằm cung cấp bột giấy cho dây chuyền sản xuất giấy in báo
của công ty. Tuy nhiên, hiệu suất bột thu được chưa cao, chất lượng bột sau khử
mực không ổn định. Mặt khác, quá trình s
ản xuất nghiêm ngặt và cạnh tranh hiện
nay đòi hỏi các nhà máy phải có những chuyển biến lớn để tăng mức sử dụng bột từ
giấy loại, nhằm giảm giá thành sản phẩm mà vẫn đáp ứng được nhu cầu về chất
lượng ngày càng cao của thị trường, tuân theo các điều kiện môi sinh và môi trường
sản xuất. Chính vì vậy, các quy trình khử mực cần có sự cải tiế
n không ngừng.
I.2. Quá trình khử mực giấy in báo loại bằng phương pháp tuyển nổi có sử
dụng ennzym lipase
Khử mực giấy loại nói chung và khử mực giấy in báo nói riêng tùy vào
nguyên liệu và yêu cầu về bột thành phẩm mà có thể sử dụng các phương pháp khử
mực khác nhau. Nhìn chung, quá trình khử mực được tiến hành qua nhiều công đoạn
như đánh tơi, ngâm ủ, làm sạch, khử mực, tẩy trắng… Công đoạn khử m
ực có thể
tiến hành bằng các phương pháp sau:

2
SiO
3

ĐÁNH TƠI
LÀM SẠCH, SÀNG
TUYỂN NỔI
LẦN 1
NaOH, Na
2
SiO
H
2
O
2
, chất khử mực
HÓA CHẤT BỀ MẶT
CÔ ĐẶC
PHÂN TÁN, TẨY
TUYỂN NỔI
LẦN 2
CÔ ĐẶC
PHÂN TÁN, TẨY
LÀM SẠCH, SÀNG
BỂ CHỨA
năng suất lớn và chi phí đầu tư cao, thông thường có sự kết hợp giữa hai phương
pháp trên để đạt hiệu quả khử mực cao nhất.
Quy trình khử mực giấy loại nói chung trong thực tế được minh họa trong sơ
đồ sau.
Sơ đồ 1.1. Quy trình khử mực giấy loại

3
Đệm, ổn định pH, ổn định H
2
O
2

H
2
O
2
Tẩy trắng và phá vỡ liên kết mực
Chất hoạt động bề mặt Thu gom mực trong quá trình tuyển nổi
Tác nhân chelat hóa (DTPA) Hạn chế sự phân huỷ H
2
O
2
do các kim loại chuyển
tiếp
Polyme Kết bông bùn, huyền phù từ nước trắng trong quá
trình cô đặc và tuyển nổi
Tuỳ thuộc tính chất giấy loại và yêu cầu bột thành phẩm mà mức dùng một số
hoá chất chính trong quá trình khử mực là NaOH: 0,6- 1,5%; Na
2
SiO
3
: 1,0 – 3,0%;
H
2
O
2

hợp với phương pháp in và tính chất của vật liệu in.
Ứng với mỗi loại mực in thì có các phương pháp in khác nhau. Một số
phương pháp in hiện nay gồm: phương pháp in flexo, phương pháp in offset,
phương pháp in lưới, phương pháp in ố
ng đồng và phương pháp in phun. Trong
phạm vi đề tài này chỉ nghiên cứu giấy in báo được in theo phương pháp in offset.
Mực in offset là hỗn hợp lỏng quánh dạng huyền phù, mịn, đặc, độ nhớt nằm
trong khoảng 40 – 100 Pa.s, bền với nước và có độ đậm cao, độ dày màng mực từ
0,5 – 1,0 µm. Thành phần cấu tạo mực offset gồm có:
- Pigmnet: 10 – 30 %
- Dầu liên kết: nhựa cứng (20 - 50 %); nhựa alkyd (0 – 20 %); dầu thực vật đã
qua xử lý (0 – 30 %); các s
ản phẩm từ dầu mỏ (20 – 40 %)
- Chất làm khô: < 2 %
- Phụ gia (tùy theo loại mực): 10 %
- Các loại sáp để chống trầy xước và tăng độ dính
- Chất phụ gia để làm giảm sự khô tại máng mực và trong quá trình vận chuyển
(Các chất phụ gia thêm vào khác nhau phụ thuộc vào phương pháp in, tính chất bề
mặt của vật liệu in và tính chất sản phẩm in).[2]
Trong giấy in báo, mực sử dụng h
ấp thụ qua giấy trong khi chất lỏng trong
các quá trình in khác thì bay hơi, để lại phần pigment trên mặt giấy. Phương thức
làm khô là chỉ dùng hiệu ứng thấm hút (coldset). Quá trình thấm hút tách các chất
mang thành hai thành phần và quá trình khô hình thành. Thông thường, trong thành
phần mực in báo không có thành phần dầu khô (dầu khoáng). Đối với loại giấy báo
chỉ in đen trắng thì hàm lượng mực in có trong đó là thấp, chỉ khoảng 1 – 2 %. Tuy
nhiên hiện nay báo thường được in nhiều màu nên quá trình khử mực trở nên khó
khăn h
ơn.
I.2.2. Quá trình khử mực giấy in báo bằng phương pháp tuyển nổi

chất kết dính được bổ sung ở phần ướt. Sự hấp thụ này tạo nên tính chất khác biệt và
làm tăng kích thước so với ban đầu khiến các xơ sợi này nổi lên và dễ dàng bị loại
bỏ trong quá trình tuyển nổi.
Bề mặt ưa nước của các chất độn và xơ sợ vụ
n bị ảnh hưởng đáng kể bởi mức
dùng kiềm trong quá trình đánh tơi. Nếu bổ sung một lượng kiềm thích hợp thì có
thể cải thiện tính ưa nước của một số huyền phù rắn, giảm được sự mất mát của xơ
sợi vụn và các chất khoáng. Tuy nhiên nếu vượt quá mức kiềm cho phép trong quá
trình đánh tơi thì có thể làm phá vỡ hay hòa tan cấu trúc hạt mực và các sticky, gây
khó khăn cho quá trình tuyể
n nổi sau này. Do đó lựa chọn mức dùng kiềm phù hợp
là vấn đề quan trọng cần nghiên cứu trong quá trình khử mực bằng phương pháp
tuyển nổi. Xu hướng ngày nay là tiến hành quá trình khử mực trong môi trường
kiềm nhẹ hoặc trung tính. Quá trình khử mực như vậy giúp giảm được mức dùng
hóa chất trong quá trình đánh tơi, giảm ảnh hưởng đến tính chất bột sau tuyển nổi
cũng như giảm lượ
ng thải độc hại ra môi trường. Muốn đạt được mục đích như vậy
thì sự hỗ trợ của enzym là rất cần thiết.[4]
I.2.3. Quá trình khử mực giấy in báo loại bằng phương pháp tuyển nổi có sử
dụng ennzym lipase
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu sử dụng enzym như cellulose,
hemicellulase, lipase để hỗ trợ quá trình khử mực. Enzym có thể cải thiện tính chất
kị nước của m
ực cũng như thay đổi một phần tính chất bề mặt của xơ sợi và chất
độn, giúp tăng hiệu quả của quá trình tuyển nổi. Sử dụng enzym trong môi trường
trung tính thì các chỉ số của nước thải (ví dụ như COD, BOD
5
và TSS) thấp hơn
nhiều so với khử mực bằng phương pháp truyền thống. Cơ chế hoạt động hiệu quả
của enzym đã được ghi nhận như sau:

i gian và theo cơ chất thường khó
xác định và không tuân theo phản ứng động học Michaelis-Menten. Mô hình nghiên
cứu này chỉ phù hợp với các enzym và cơ chất hòa tan trong nước. Ngược lại với
lipase, phản ứng được xúc tác bởi esterase thường tuân theo phản ứng động học
Michaelis-Menten bởi các axít béo chuỗi ngắn có thể hòa tan trong nước [10].
Axit béo
glycerol
triacylglycerol
Lipase
Axit béo
glycerol
triacylglycerol
Lipase
Trong công nghiệp giấy, enzym lipase có thể phá vỡ các liên kết este của các
chất hóa học nội bộ như AKD hay ASA, thủy phân mực in và các liên kết của
chúng, thúc đẩy quá trình thủy phân của giấy loại trong quá trình khử mực và giảm
được lượng mất mát trong quá trình tuyển nổi. Đây là hướng nghiên cứu mới với
mục đích cải thiện hiệu suất và tính chất bột giấy sau quá trình khử mực bằng
phương pháp tuyển nổi. M
ột số nghiên cứu cho thấy, sử dụng enzym lipase giúp
tăng cường các thành phần có tính ưa nước và hỗ trợ phân tách quá trình tuyển nổi.
Theo nghiên cứu của Putz và các cộng sự, sử dụng enzym lipase trong quá trình
tuyển nổi giấy in báo giúp tăng độ trắng lên đáng kể và mức độ tăng tùy thuộc
phương pháp và vật liệu in.
Bảng 1.4. Ảnh hưởng của phương pháp in đến độ trắng của bột giấy báo sau khử
mực
Độ Trắng, % ISO
Phương pháp in của giấy báo
Có sử dụng enzym Không sử dụng enzym
In off set đen trắng 58 53

1
0,033 52 77 78,5
Enzym III
5
100
2
0,500 53 65 75,8
Enzym IV
6
19
2
0,033 54 79 69,9
Trong đó:

1
Lượng dung enzyme tính theo hàm lượng cacboxylmetyl cellulose
2
Lượng dung enzyme tính theo hàm lượng xylan
3
Enzym có chứa 6 U/ml cacboxylmetyl cellulose, 10 U/ml lipase
4
Enzym có chứa 6 U/ml cacboxylmetyl cellulose, 50 U/ml lipase
5
Enzym có chứa 0,2 U/ml cacboxylmetyl cellulose, 200 U/ml lipase
6
Enzym có chứa 26 U/ml cacboxylmetyl cellulose, 580 U/ml lipase
Theo nghiên cứu của Prasad và Rushing và các cộng sự, sử dụng enzym
lipase trong quá trình khử mực giấy in báo có tác dụng làm giảm kích thước hạt
mực, từ 16 – 37% tùy thuộc loại mực. Cho đến nay, chưa có thêm nghiên cứu nào
có cơ sở hơn về việc giảm kích thước hạt mực như vậy.

khử mực
Độ
trắng,
% ISO
Diện tích
bụi,
mm
2
/m
2
Độ thoát
nước,
CSF
Chiều
dài đứt,
km
Chiều
dài xé,
mN.m
2
/g
Chỉ số
bục,
kPa.m
2
/g
Nguyên liệu ban
đầu
49 4200 400 4,5 6,5 2,55
Không xử lý

tan
COD,
mg/l
Tổng Hòa
tan
COD,
mg/l
BOD
5
hòa
tan, mg/l
COD,
mg/l
Không sử dụng
enzym
441 234 1080 298 275 510 219 440
Có sử dụng
enzyme lipase
258 138 1455 115 123 415 180 346
Các thông số nước thải trên còn phụ thuộc vào mức dùng enzym. Có thì
nghiệm đã chỉ ra, trong quá trình khử mực truyền thống thì lượng COD là 22 kg/tấn.
Nếu sử dụng 0,2% enzym trong quá trình tiền xử lý thì lượng COD có thể giảm tới
50%, tức là chỉ còn 11kg/tấn. Sử dụng enzym đã hỗ trợ hiệu quả cho quá trình khử
mực và tạo điều kiện thuận lợi cho vấn đề xử lý nước thải sau này. [6]
Hi
ện nay để nâng cao hiệu suất thu hồi bột giấy sau quá trình khử mực, nhiều
nhà máy đã tiến hành quá trình tuyển nổi hai giai đoạn. Quy trình sản xuất tiến hành
như sơ đồ 1.4.[1]
cải thiện 3 – 4%, độ trắng tăng 1- 2 %ISO, các chỉ tiêu cơ lý đạt yêu cầu mà mức
dùng hóa chất giả
m. [13].
NaOH, ETDA
H
2
O
2
, Na
2
SiO
3

ĐÁNH TƠI
(1)
XỬ LÝ ENZYM
(2)
XỬ LÝ HÓA
CHẤT
(3)
CÔ ĐẶC
(5)
TẨY
(6)
RỬA
(7)
XEO
(8)
THẢI


Việc nghiên cứu ứng dụng các công nghệ này trong điều kiện phù hợp ở Việt Nam
nhằm đưa ra khuyến cáo về khả n
ăng áp dụng trong thực tế sản xuất là rất cần thiết. PHẦN II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II.1.Đối tượng, hóa chất và thiết bị nghiên cứu
II.1.1. Đối tượng nghiên cứu

Mẫu nguyên liệu được xé nhỏ, trộn đều và để đồng ẩm trong túi nilon kín.
Trước khi nghiên cứu, tiến hành xác định các chỉ số ban đầu của mẫu nguyên li
ệu là
độ khô và độ tro. Kết quả như sau:
- Độ khô: 89,6 %
- Độ tro: 4,2 %
II.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu sử dụng enzym lipase trong quá trình khử mực
bằng phương pháp tuyển nổi hai cấp gồm:
- Tiến hành khử mực giấy in báo theo phương pháp tuyển nổi thông thường chỉ sử
dụng hóa chất
- Tiến hành khử mực giấy in báo theo phương pháp tuyển nổi có sử dụng enzym
lipase
So sánh hai phương pháp và rút ra quy trình khử mực thích hợp
Quy trình công nghệ tham khảo d
ựa trên sản xuất thực tế, tài liệu tham khảo
được lựa chọn như sau:
* Giai đoạn đánh tơi
- Khối lượng giấy loại, g KTĐ : 280
- Nồng độ đánh tơi, % : 5
- Thời gian đánh tơi, phút : 20
- Nhiệt độ đánh tơi,
o
C : nhiệt độ thường
*Giai đoạn tuyển nổi cấp 1
- Giai đoạn xử lý enzym
- Nồng độ, % : 5
- Thời gian xử lý, phút : 5, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40
- Nhiệt độ, t
o

khi xác định các tính chất. Bột thải được giữ lại, xử lý enzym và hóa chất trước khi
tiến hành giai đoạn tuyển nổi cấp 2.
*Giai đoạn tuyển nổi cấp 2
Giai đoạn tuyển nổi cấp 2 được tiến hành tương tự như giai đoạn tuyển nổi
cấp 1 với nguyên liệu đầu vào là bột thải của giai đoạn tuyển nổi cấ
p 1. Bột sau giai
đoạn tuyển nổi cấp 2 được rửa sạch và phối trộn với giấy báo loại làm nguyên liệu
đầu vào cho quá trình tuyển nổi cấp 1.
- Giai đoạn xử lý enzym
- Giai đoạn xử lý enzym
- Nồng độ, % : 5
- Thời gian xử lý, phút : 5, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40
- Nhiệt độ,
o
C : 30, 40, 45, 50, 55, 60
- Enzym : các loại enzym được nghiên cứu
- pH xử lý : trong khoảng 4- 5, 7- 8, 9- 10
- Giai đoạn xử lý hóa chất
- Nồng độ, % : 5
- Thời gian, phút : 60
- Nhiệt độ, t
o
C : 55
- Hóa chất sử dụng: NaOH, Na
2
SiO
3
, H
2
O

2
xác định mức loại mực, độ trắng.
Quy trình thí nghiệm được như sơ đồ 1.4.
Bột trước và sau khi khử mực được xeo mẫu trên máy xeo thí nghiệm để xác
định các tính chất cơ lý tại phòng thí nghiệm hoá lý - Viện công nghiệp Giấy và
Xenluylo theo các tiêu chuẩn sau:
- Xác định độ tro : TCVN 1864 : 2001
- Xác định độ trắng : TCVN 6729 : 2008
- Xác định định lượng : TCVN 1270 : 2008
- Xác định độ bền kéo : TCVN 1862-2 : 2011
- Xác định độ bền xé : TCVN 3229 : 2007
- Xác định độ chịu b
ục : TCVN 3228-1 : 2000
-Xác định độ bụi : TAPPI T213 82 - 2003
Trong thực tế hiện nay không có phương pháp để xác định mức độ loại mực
của bột trong quá trình khử mực giấy loại. Để xác định thông số rất quan trọng phản
ánh hiệu quả của quá trình khử mực này, đề tài đã áp dụng phương pháp xác định độ
bụi của tờ giấy hình thành trước và sau khi khử mực, coi mức giảm độ bụi là m
ức độ
loại mực.
Độ bụi của tờ giấy được xác định theo tiêu chuẩn ngành 24 TCN 82 – 2003
đã được xây dựng tương thích với phương pháp tiêu chuẩn TAPPI T213 om-89 và
được biểu thị qua diện tích các hạt bụi ( mực ) trên bề mặt giấy ( mm
2
), trên diện
tích đo 1 m
2
.
Mức độ loại mực được tính bằng tỷ lệ phần trăm của hiệu số độ bụi của giấy
trước và sau khử mực, so với độ bụi của giấy trước khi khử mực.

- Giai đoạn đánh tơi: Khối lượng mẫu giấy KTĐ: 280g; Thời gian: 20 phút;
Nhiệt độ thường; Nồng độ bột: 5%.
- Giai đoạn xử lý hóa chất: Hóa chất ( NaOH: 1,0 %; Na
2
SiO
3
: 2,0 %; H
2
O
2
:
1,0 %, ETDA: 0,2 %, chất khử mực: 0,3 % so với khối lượng bột khô tuyệt đối);
Nhiệt độ: 55
o
C; Nồng độ bột: 5 %; Thời gian xử lý: 60 phút.
- Giai đoạn tuyển nổi: Nồng độ bột: 1,0 %; Nhiệt độ: 45
o
C; Thời gian tuyển:
20 phút
- Giai đoạn tẩy: Hóa chất ( NaOH: 1,0 %, Na
2
SiO
3
: 2,0 %, H
2
O
2
: 1,0 %,
DTPA: 0,2 %); Nhiệt độ: 80
o

2
/g
5,92 7,04
Chiều
d
ài đứt, m
2220 3040
Mức loại mực, %
- 87,2
Hiệu suất, %
90,9 85,6
TSS nước thải sau tuyển, g/l
- 3857,2
COD nước thải sau tuyển, g/l
- 1532,5
BOD
5
nước thải sau tuyển, g/l
- 601,3
III.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại enzym Lipase trong quá trình đánh
tơi trước khi khử mực bằng phương pháp tuyển nổi truyền thống
Các nghiên cứu đã chỉ ra enzym thường được bổ sung trong giai đoạn đánh
tơi, đây là giai đoạn ban đầu làm tơi nguyên liệu cũng như làm bong hạt mực ra khỏi
xơ sợi.Sự có mặt của enzym là cần thiết để thúc đẩy quá trình thủy phân, phân tách
liên kế
t mực và xơ sợi. Giai đoạn này chưa bổ sung hóa chất nên không làm ảnh
hưởng đến hoạt tính của enzym. Do vậy, đề tài tiến hành khảo sát hiệu quả của 3
loại enzyme khác nhau tới quá trình đánh tơi. Dựa vào kết quả thu được trong quá
trình khử mực, từ đó lựa chọn một loại enzym có hiệu quả hỗ trợ quá trình khử mực
cao nhất cho các nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status