TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TẾ VÀ KINH
DOANH
QUỐC TÊ
CHUYÊN NGÀNH
KINH TÊ
ĐỐI
NGOẠI
KHÓA
LUẬN TỐT NGHIỆP
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA
VIỆT
NAM VA CÁC NƯỚC
CHÂU
PHI
Sinh
viên
thực
hiện:
MAI
NGUYÊN THÚY DƯƠNG
Lớp
:
Pháp
4
Khóa
IMF Quỹ Tiền tệ thế giới
OAU Tổ chức Thống nhất châu Phi
OECD
Tổ
chức
Hợp tác và
Phát
triển
kinh
tế
WB
Ngân hàng
thế
giới
WTO Tổ
chức
Thương
mại thế
giới
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Ì
CHƯƠNG
1Ị_VÀI
NÉT VỀ
CHÂU
PHI
VÀ
VAI
TRÒ CỦA CÁC
NƯỚC
Lịch
sử
quan
hệ
thương
mại
Việt
Nam -
Cháu Phi
16
Ì.
Quan hệ
Việt
Nam
-
Nam
Phi
16
2.
Quan hệ
Việt
Nam -
Ai
Cập 17
3.
Quan hệ
Việt
Nam
-
Angola
xuất
nhập
khẩu
của
Việt
Nam 19
2.
Tăng
cường
quan
hệ
với
Châu
Phi
góp
phần
đẩy
nhanh
tiến
trình
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế
của
Việt
Nam 22
CHƯƠNG 2i_THỤC
TRẠNG
lực
cùa
Việt
Nam
sang
Châu
Phi
28
li.
Nhập
khẩu
giữa
Việt
Nam và
các nước Châu Phi
34
Ì.
Tình hình
nhập
khẩu
hàng hóa
t
Châu
Phi
34
2.
Các mặt hàng
nhập
khẩu
chù
Cập
44
5.
Algeria
45
IV.
Đầu tư
giữa
Việt
Nam
và Châu Phi
46
Ì.
Đầu tư
của
các nước Châu
Phi
tại
Việt
Nam 46
2.
Đầu tư
của
Việt
Nam
tại
các nước Châu
Phi
47
V. Đánh giá chung về quan hệ thương mại
GIỮA
VIỆT
NAM VÀ CÁC
NƯằC
CHÂU
PHI 55
ì.
Quan
điểm,
định hướng về phát
triển
quan hệ thương mại
Việt
Nam
và Châu Phi
55
1.
Quan
điểm
về phát
triển
quan
hệ thương mại
Việt
Nam
và Châu
Phi 55
2.
Định
hướng
Giải
pháp
ở
tẩm
vi
mô 64
KẾT
LUẬN
73
DANH MỤC
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 75
MỞ
ĐẦU
1. Tính cấp
thiết
của đề tài
Trong
bối
cảnh
hội
nhập
quốc
tế toàn diện hiện nay. mờ rộng
quan
hệ
kinh tế thương mại là vấn để có ý
nghĩa
hết sức
chức
thương mại thế
giới
(WTO). Bới qua
trao
dổi thương mại sẽ giúp chúng ta hòa
nhập
vào thị trường thế
giới,
tham
gia vào sự phân công lao động
quốc
tế và
dành lấy thị
phẹn
trên cấc thị trường đang ngày càng tỏ ra khó tính và thu hẹp.
Phát
triển
quan
hệ thương mại còn giúp
Việt
nam tiếp cận với sự phát
triển
cùa
thế
giới,
vươn lên thoát
khỏi
tình trạng nước nghèo, trớ thành
quốc
quốc
gia với gần Ì tỷ dân (năm
2007)
và nhu cầu tiêu thụ
nhiều
loại
hàng hoa đa
dạng,
từ các sản
phẹm
chế biến, chế tạo cao cấp đến
các nòng sản, hàng tiêu dùng thông thường và chưa có nhiều các rào cản kỹ
thuật
về
nhập
khẹu hàng hoa.
Việt
Nam và các
quốc
gia Châu Phi là
những
nước đang phát
triển,
từng
bị chế độ
thực
dân, đế
quốc
đô hộ, nên khi thiết lập mối
quan
kể.
Kim
ngạch
xuất
nhập
khẩu
hàng năm tăng trường
đáng
kinh
ngạc,
tuy
nhiên,
kết
quả
đạt
được vẫn chưa
xứng
vói tầm
tiềm
năng
của hai
bên.
Do
vậy, việc lựa
chừn
đề
tài
"Quan hệ thương mại
giữa Việt
Nam và
hệ thương mại
Việt
Nam
-
Châu
Phi trong
thời
gian
tới.
3.
Đôi tượng và phạm
vi
nghiên
cứu:
Đối
tượng của khóa
luận tốt
nghiệp
là
quan
hệ thương mại
giữa Việt
Nam và các nước Châu
Phi.
Khóa
luận
để cập đến quá trình phát
triển
thương mại
(xuất
liệu
về
hoạt
động
xuất
nhập
khấu
Việt
Nam và các nước
Châu
Phi,
chú
trừng
vào một số nước
trừng
điểm
-
Tổng
hợp,
phân tích và đánh giá trên cơ sở
những
số
liệu
thu
được
kết
hợp với
tình hình
kinh tế của Việt
Nam, các nước Châu
Việt
Nam
với
các nước
2
Châu
Phi.
- Chương
3:
Một số
giải
pháp nhằm thúc đẩy
quan
hệ thương mại
giữa
Việt
Nam và các nước Châu
Phi
Do hạn chế về
thời
gian,
nàng
lực
nghiên cứu và thông
tin.
khoa
luận
chắc
sẽ còn
nhiều
tình
của
các
thọy,
cô
trong
Khoa
Kinh
tè và
Kinh
doanh
quốc
tế
(chuyên ngành
Kinh tế ngoại
thương),
Viện
Nghiên cứu Châu Phi và
Trung
Đông,
Viện
Khoa học xã
hội
Việt
Nam và đặc
biệt
là sự hướng dẫn
tận
tình,
chu
giới
về
diện
tích và dân
số,
sau
Châu Á và Châu Mĩ. Với
diện
tích
khoảng
30.244.050
kin
2
,
bao gồm cả các
đảo
cận
kề Châu
Phi chiếm 20,3% tổng
diện
tích
đất
đai
của
Trái
Đất
và
896.6
triệu
dân
nối
liền
với
châu Á về phía
tận
cùng Đông Bạc
bằng
eo
đất
Suez
(bị cạt
ngang
bởi
kênh đào
Suez)
có bề
rộng
130 km. Đặc
biệt,
Châu
Phi
lại
nằm trên
tuyến
đường
giao
thông
quốc
tế
từ
Phi
có hệ
thống
sông, hổ
phong
phú như: sông NU, sông Côngô,
sông
Niger
;
hồ
Victoria,
hổ
Tanganyika,
Albert,
Turkana
và
Nyasa.
Trong
đó,
sông Côngô và hồ
Victoria
là
sông dài và hổ nước
ngọt lớn thứ
hai
trên
thế
giới.
Không chỉ có vị trí
chiến
Các nước có
trữ
lượng
dầu mỏ
lớn nhất
là:
Algeria,
Angola,
Ai Cập,
Libia,
và
Nigeria,
chiếm
tới
83% sản
lượng
khai
thác dầu thô của Châu Phi
(năm
2003).
Bên
cạnh
tiềm
nâng
to lớn
về dầu mỏ và các
nguồn
năng
lượng
4
tế,
xã
hội
ở Châu
Phi.
Ví
dụ, trong
số
50
loại
khoáng sản quý
hiếm
có ở Châu
Phi,
thì có
tới
17
loại
khoáng sản
đứng
hàng đầu
thế
giới
như
:
cô ban
70%, bạch
kim
50%,
thủy
cổ
đại,
nền văn
minh
Ethiopia
Thế
kỷ XV,
người
Bổ Đào Nha đã
thiết
lập
trạm
thương mại đầu tiên ở
đây. Các hàng hóa được
trao đổi
lúc này là nô
lệ,
vàng,
ngà
voi
và hồ
tiêu.
Sự
phát
hiện
ra
châu Mỹ năm 1492 đã
tạo ra
sự phát
triển
địa của
người
Mỹ da
đen)
và
Ethiopia.
Hai
thực
dân
lớn
nhật
tại
Châu
Phi
là Pháp và Anh,
trong
đó
thực
dân Pháp đô hộ chủ
yếu
ở phía Tây và Tây Bắc
lục địa.
Sự
chiếm
đóng này còn
tiếp
diễn
cho đến
tận
sau
địa.
Và hậu quả
nạng
nề
là
chính sách
"chia
để
trị"
của chủ
nghĩa
thực
dân đến dẫn đến các
cuộc
tranh
chập, xung đột
đẫm
máu ở Châu
Phi sau
này.
Từ nửa sau
thế
kỷ XX,
phong
trào đậu
tranh
giành độc
lập
ở Châu Phi
diễn
giới
thứ hai,
5
cùng
với
sự hình thành phe xã
hội
chủ
nghĩa,
sự suy yếu của chủ
nghĩa
thực
dân và sự phát
triển
mạnh
mẽ
của phong
trào đấu
tranh
giải
phóng dân
tộc
trên
toàn
thế
giới,
các nước Châu
Phi
mới
thực
Marốc,
Sudan
và
Tuynidi
(năm
1956);
Gana (năm
1957),
Ghine
(năm
1958)
Riêng, năm
1960
được
gọi
là "Năm Châu
Phi",
vì
có
tới
17
quốc
gia
giành được độc
lập.
Phong
trào giành độc
lập
còn
tiếp
cả
trong
số đó đều có
đường
biên
giới
được
tạo ra trong
thời
kỳ chủ
nghĩa
thực
dân của
người
châu Âu. Hầu
hết
các nước ở đây đểu
tham
gia
Tổ
chức Thống
nhất
Châu
Phi (OAU).
Từ tháng
7-2000,
OAU được
thay
thế
bằng
theo
những
đặc
điểm
ngôn ngữ và văn hoa khác
nhau.
Sa mạc
Sahara
tạo
nên sự phân
chia
địa lý
chủng
tộc.
Ớ phía Bắc sa mạc là nơi tập
trung
chủ yếu
người A-rập, người
Berber.
Nam
Sahara
là nơi
sinh
sống
cùa
các
tộc
người Phi
đen. Bộ
phận
biển
Đông và Nam
Phi.
Ngoài
ra cũng
có
nhiều
người Arập
ở Đông
Phi
và gần đây cả ớ Tây
Phi.
Nhìn
chung,
dãn cư Châu Phi phân bố không
đều, những
nơi có mật độ dân số
lớn
là
Nigeria,
Ethiopi,
thung
lũng
sông
Nile
và
quanh
vùng Hổ Lớn (gồm hổ
Victoria
và hổ
Casablanca
(Marốc).
Dân số Châu
Phi
trong
thế
kỷ XX đã bùng nổ
nhanh
chóng và dự
kiến
vẫn
tiếp
tục
tăng
nhanh
trong
thời
gian
tới.
Tinh
trạng
bùng nổ dân số này là
một
áp
lực lớn
và là một
trong
những
nguyên nhãn kìm hãm phát
triển
138,0 152,9
190,8
2,3
2,1
1,6
Châu
Phi
nam
Sahara
659,8
743,7
960,1
2.7
2,6
1,9
Châu Phi
797,8
896,6
1.150,9
2,6 2,4 1.8
Cùng
với
sự đa
dạng
về các
tộc người,
Châu
Phi
cũng
là châu
Sahara
được
coi
là nước có
nhiều
nền văn
hóa,
cụ
thể là
các nền văn hóa
trong
nhóm ngôn ngữ
Bantu.
Các tôn giáo
cũng
bắt rễ
lâu
đời
trong
đời
sống
các dãn
tộc
Châu
Phi
và
còn ảnh
hưởng
sâu
rộng
đạo
Hồi,
Tây
Phi theo
đạo
hồi
và Bái
vật
giáo,
Đông Nam
Phi theo
đạo Thiên chúa và Bái
vật
giáo.
7
3. Kinh
tế
Châu
Phi
3.1.
Tình
hình
phát
triển kinh
tế Châu
Phi.
Hiện
nay Châu
Phi
vẫn là
dân số
chiếm 13%).
Hầu
hết
các nước Châu
Phi, trừ
khu vực Bắc Phi và Cộng hoa
Nam
Phi,
đều có cơ sở hạ
tầng
yếu kém, nền
kinh
tế
dưa chù yếu vào nòng
nghiệp
và
khai
thác khoáng
sản.
Năm
2001,
còng
nghiệp
chỉ
chiếm
tý
trỳng
bình quân
25,4%
kinh
tê Cháu
Phi
trong
nền
kinh
tè toàn cầu năm
2004
(Nguồn:
20,
tr.42]
Các
chỉ
sô
Tổng
%
trong
toàn thê
giới
Diện
tích
đất
đai
30.335.000
kin
2
15
Dân số
875
triệu
11,4
nghìn
tỷ
m
3
7,5
Dự
trữ
than
đá
55.000
triệu
tấn
10,6
Dự
trữ
uranium
613
kt
18,7
Ghi
chú:
ppp
tính theo
phương pháp đồng
giá
sức
mua
Theo
đánh giá của Ngân hàng
Latinh
và 5% ở các nước
OECD.
Điểu
đó cho
thấy
Châu
Phi vẫn là
vùng
đất
giàu
tài
nguyên thiên
nhiên,
có đủ
điểu
kiện
cạnh
tranh với
các khu vực khác
trẽn
thế
giới
trong
quá trình
hội
nhẩp
kinh tế
quốc
tế.
với
các khu vực khác trên
thế
giới,
tốc
độ tăng trường
kinh tế
của
Châu
Phi trong
những
năm gần đây
tuy
có được
cải
thiện
nhưng
vẫn
ở mức
rất
thấp.
Trong
giai
đoạn
1991-2003
tốc
độ tàng trưởng GDP
thực
tế
bình quân
bình quân đầu
người
cũng
được nâng lên
từ
552 USD
năm 1991 lên 694 USD năm
2003,
nhưng sự tăng trướng này
chỉ tẩp trung
chủ
yếu
ở một số
nước.
Để
khắc
phục
tình
trạng
phát
triển
không đều
giữa
các
quốc
gia,
các nhà lãnh đạo Châu Phi đã có
nhiều
sáng
kiến trong việc
nỗ
lực
không
ngừng
và sự giúp đỡ
của
cộng
đồng
quốc
tế,
Châu
Phi
đang
đạt
được mức
tang
trường năm
2005
là 5,5%,
2006
là
5,3% [22,
tr.2].
Đóng góp vào thành tích này của Châu
Phi
là sự tăng trưởng
đáng
kinh
ngạc
về
mô vãn chưa ổn
định.
Do tình hình chính
trị,
xã
hội
bất ổn,
Châu
Phi
đang là khu vực có
tỷ lệ
lạm phát
cao.
Theo đánh giá của
9
WB,
trong
giai
đoạn
1990-2001
có
tới
40% các nước Châu
Phi ít
nhất
phải
trải
qua chiến tranh
hoặc
nội chiến, trong khi tỷ lệ
Congo,
Etiopia,
Gambia, Gana,
Ghine,
Kenia,
Madagasca,
Malauy,
Mozambic,
Nigeria,
Ruanda,
Xômalia,
Sudan,
Zambia,
và
Zimbabuẽ.
Thậm
chí ờ Congo
có tói 21 năm lâm vào lạm
phát,
Gana là 15 năm, Sudan 14 năm,
Zambia
li
năm,
Nigeria
9 năm.
Trong
giai
đoạn 1970 -
2001, tỷ lệ
lạm phát
và chính
trị,
tình
trạng
lạm phát tăng ở
mức 420%/năm.
Tinh
trạng
này còn
diễn ra
ở
Gana,
Mozambic và
Angola
với
mức trên 100%/năm
[20,
tr.44].
Sự mất ổn định
kinh tế vĩ
mô còn
thể hiện
qua thâm
hụt
tài chính
tại
các
nước
ở châu
lục
tiêu kém, mức 6%
GDP ờ
Nigeria
và
Ai
Cập do tăng
chi
tiêu
tiền
lương,
trị
cấp
người
tiêu dùng
và
chi
tiêu xã
hội [20,
tr.45].
Những con số trên
thể hiện
rõ năng
lực
quản
lý
kinh
tế yếu
kém và tình
trạng
tham
nay hầu
hết
các nước Châu Phi
nông
nghiệp
vẫn
đóng
vai
trò
chủ đạo.
Năm
1980,
nông
nghiệp
chiếm
tới
70%
lực
lưịng
lao
động
của
Châu
Phi, trong khi
đó
lực
lưịng
lao
động
trong
nghiệp
chiếm
15% và
dịch
vụ
chiếm
23% vào năm 1996.
Tuy
nhiên,
trong
cơ cấu GDP, nông
nghiệp
chỉ
chiếm
14,1%,
công
nghiệp
29,1%
và
dịch
vụ
56,8%
[20,
tr.45].
Bảng
3:
Cơ câu ngành
kinh
tế
của Châu Phi
56,8
Tăng
truồng
GDP
(%),
trong
đó
Nông
nghiệp
2,1
2,8
3,1
Công
nghiệp
2,4 2,6
4,1
Dịch
vụ 3,7 3,4 3,6
- Nông
nghiệp
đóng
vai
trò chủ đạo
trong
nền
kinh tế,
nhưng Châu Phi
vân là khu vực nghèo đói do mức tăng dân số quá
nhanh.
Lực lưẩng
móc, thuốc
men
Bẽn
cạnh
đó, thách
thức lớn
cho châu
lục
này
trong
quá
trình phát
triển
nông
nghiệp
phần
lớn đất
đai đang có xu hướng
bị sa
mạc hóa.
Chính vì
thế,
sản
xuất
ngũ cốc của Châu
Phi
trong
giai
đoạn
2000-2003
11
nguồn
trợ cấp
lương
thực từ
bên ngoài.
Bảng
4:
sản
xuất
ngũ
cốc
ở
Châu Phi
[Nguồn:
20,
tr.46J
Đơn
vị:
triệu
tấn
Các
khu
vực
2000
2001
2002
2003
Bắc Phi 28,0 33,7
31,1
kém
hiệu
quả.
Trong
số 54
nước Châu
Phi,
chỉ
có 6
nước
có
ngành chế
tạo
tương
đối
phát
triển
là Nam
Phi,
Zimbabuê,
Ai Cập,
Algeria,
Buốckina
Phaso
và
Côte
dlvoire.
Hỗu
hết
các
thực, dệt
may, hóa
chất
của
Châu
Phi
phẩn
lớn
là
dành cho
phục
vụ nhu
cỗu
thị
trường
nội địa,
do có sự
gia
tăng
nhanh
chóng
của
dân
số
đô
thị.
Trong
những
thập
kỷ 60 và 70
mỏ đều
tập trung
vào
khai
thác
và
xuất
khẩu
dỗu
mỏ,
không
chú ý
phát
triển
khu vực công
nghiệp.
Bên
cạnh
đó, chiến tranh
và
xung
đột luôn
xảy
ra
ở các
nước
như
Nigeria, Ethiopia,
Zimbabuê
đã làm
quốc
gia lớn
trên
12
thế
giói
không
muốn
đẩu tư vào ngành cõng
nghiệp
ở châu
lục này,
mà
chỉ tập
trung khai
thác nguyên
liệu
thô.
Trong
cơ cấu
xuất
khẩu
hàng hóa của Châu
Phi,
phẩn
lớn
đều
tập trung
vào sản phẩm nông
nghiệp
động.
Các
dộch
vụ xã
hội
như giáo
dục.
châm sóc sức
khỏe
chiếm
tỷ trọng lớn trong
ngành
dộch
vụ.
Từ nửa
cuối thế
ký XX, vấn đề
quan
tâm chăm sóc sức
khỏe
và giáo dục càng được chú
trọng hơn,
do đó dẫn đến
sự gia
tăng
tỷ trọng
của ngành
dộch
vụ
trong
các vấn
đề đẩu tư vào
con
người.
- Tốc độ tàng
tiết
kiệm
trong
GDP
giai
đoạn
1990-1999
ở Châu Phi là
17,8%/nãm,
giảm
so
với
giai
đoạn
1980-1990
nhưng
lại
tăng
trở
lại
thời
kỳ
2000-2005,
đạt
22,4%.
10%, tập trung
chủ yếu ờ
Châu Phi nam
Sahara.
Cùng
với
tỷ lệ
tiết
kiệm
thấp,
tỷ lệ đẩu tư
trong
nước/GDP
cũng
thấp
và có xu hướng
giảm
mạnh,
đạt
25,8% vào năm 1980 và
20,5%
năm
2003.
Tình hình này được
cải
thiện
hơn
trong
năm
2005
tỷ lệ
tiết
kiệm
dưới
10% GDP
chiếm
phần
lớn trong
số các nước Châu
Phi.
Với tỷ lệ
tiết
kiệm
trong
GDP và đầu tư
thấp
như
trên,
hiện
nay Châu
Phi
không
đủ năng
lực
để huy động
nguồn
lực trong
nước
phục
vụ phát
tư(%GDP)
Số nước
2002
2003
2004
2005
Sô nước
2001
2005
Dưới
10%
23
21
23
27
Dưới
10%
27
20
10
-
20(%)
14
15
12
li
10-20(%)
li
13
20
kiệm
trung
bình
%
trong
GDP
[Nguồn:
22
và
tổng
hợp
của
tác
giải
Năm
Tỉ
lệ
tiết
kiệm
trung
bình
(%GDP)
Năm
2002
2003
2004
2005
Bắc Phi 23,6 26,8 30,3
34,9
Cháu
hổi
và
từng
bước tăng
trưởng.
Năm
1994,
GDP
của châu
lục
tăng
2%,
năm
1995
tăng
gần
4%
so
với
mức
0-1%/nãm
những
năm
1980.
Trong
các năm
1996-2005,
kinh
tế
Châu
thị
trường
Thị
trường Châu
Phi
không đổng
đều xét cả về
không
gian
lẫn
thời
vụ.
Do
mức độ
phát
triển
phụ
thuộc
trình
độ
phát
triển
kinh
tế
của
mỗi
quốc gia
14
nên giá
trị
thế
giới
đáp ứng
nổi,
nhưng có năm
lại
rất
khiêm
tốn.
Một
trong
những
nguyên nhân chính dẫn
tới
tình
trạng
này là do
xệy
ra những cuộc xung đột
nội bộ, chiến
tranh.
Cũng vì
vậy,
các nhà nghiên
cứu thị
trường và bạn hàng hầu như khó có
thể
dự đoán đựoc chính xác khệ
năng
xuất
Phi
còn nghèo, trình độ phát
triển
sện
xuất
còn
thấp
cho nên mặt hàng
nhập khẩu
rất
phong
phú,
từ
các mặt hàng nông
sện,
lương
thực, thực
phẩm cho đến nguyên nhiên
vật
liệu,
máy móc
thiết
bị
phục
vụ sện
xuất
cũng
như các
loại
hàng tiêu dùng
khất
khe về
chất
lượng
sện phẩm, mẫu mã. Hàng rào kỹ
thuật
chưa có
nhiều
và giá cệ đòi
hỏi
không quá cao.
- Về mức độ cạnh
tranh
của
thị
trường
Hầu
hết
các nước Châu
Phi
đều
tham
gia
WTO.
thực
hiện
chính sách mở
cửa, hội
nhập,
có
Phi
cần nghiên cứu tìm cho mình
mệng
thị
trường thích hợp.
- Về mức độ
rủi
ro
trong thanh toán
Mức độ
rủi
ro
thanh
toán của
thị
trường Châu
Phi
thuộc
loại
cao,
chủ yếu
do
năng
lực
tài chính của các
doanh
nghiệp
trong
nước
thấp,
văn hoa
kinh
doanh,
thương
hiệu
chưa được
các
doanh
nghiệp
chú ý
nhiều,
các công
ty
nước ngoài nắm
quyền
chi phổi rất
mạnh
đối với thị
trường Châu
Phi.
li.
LỊCH
SỬ
QUAN
HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - CHÂU PHI
Tuy
cách xa
nhau
về địa
lý,
của
thế
kỷ
XIX.
Hiện nay,
Việt
nam đã có
nhặng
mối
quan
hệ
ngoại giao
và thương mại
với nhiều
nước
thuộc
châu
lục
này, tiêu
biểu
là Ai Cập, Nam
Phi, Angola,
Bờ
biển
Ngà,
Nigeria
Trong
nhặng
năm qua
nổi
tr.90].
Cơ cấu
kinh
tế
là nông
nghiệp:
3,4%, công
nghiệp:
31,6%, dịch
vụ
65,1%.
Xuất
khẩu 2005-2006 đạt
65,3
tỷ
ƯSD, chủ yếu là vàng, kim cương,
platin,
khoáng
sản,
các
thiết
bị máy móc. Nhập
khẩu 2005-2006 đạt
70,2 tỷ
USD, chủ yếu là máy móc
thiết
bị,
hoa
chất,
sản phẩm
sứ
quán thường trú
tại
Pretoria
(năm
2000)
và Hà Nội (năm
2002).
Qua hơn 10
năm phát
triển,
quan
hệ
giặa
Việt
Nam và Nam Phi đã có
nhặng
bước
tiến
đáng khích
lệ,
tạo
đà thúc đẩy
quan
hệ thương mại
song
phương.
Điều
này
được
Nam.
Ngoài
ra,
một
số văn bản
quan
trọng
đã
được
ký
trong
đó có
việc
thành
lập
ủy ban
Hỗn hợp Thương
mại, tạo
cơ
sờ pháp
lý
ngày càng
thuận
lợi
cho
môi
trường
kinh
doanh
giữa
khoảng
30
triệu
USD năm
2000
lên đến
trên
143
triệu
USD năm
2004 và 219
triệu
USD năm
2005.
2.
Quan hệ
Việt
Nam -
Ai
Cập
Ai
Cập
là
một
nước
Bắc
Phi,
tiếp
giáp
với
tr32].
Kim
ngạch
xuất
khẩu
năm
2005
đạt
10,5
tỷ
USD
với
các mặt
hàng
xuất
khẩu
chính là dầu
thô,
bông,
sợi, vải,
quần
áo, gạo,
khoai
tây,
cam,
đường,
nhôm,
đá
xẻ,
dược phẩm
nhiều
chuyến
thăm chính
thức,
tạo
nền
tảng
thúc
đẩy
quan
hệ hợp tác
song
phương.
Qua 45
năm,
hai
nước
đã có
những
bước
tiến
đáng
kế
trong việc
mở
rộng
mối
quan
hệ
thương
triịn
tích cực
trong
quan
hệ
thương
mại
Việt
Nam-Ai
Cập. Từ
giai
đoạn 1991-1995
hấu như
không
có
buôn
bán
song
phương,
đến
giai
đoạn
1995-2001
bắt
đầu
xuất
khẩu
tăng
nhanh
và năm
dương. Với
diện
tích 1,25
triệu
km
2
, dân số hơn 12
triệu
người,
GDP bình
quân 1.350 USD (năm
2006),
đất
nước này có
nhiều
tài nguyên quý như dầu
lửa,
kim
cương,
vàng,
bạc
Dầu
lửa
và kim cương là
nguồn
thu
nhập
ngoại
tệ
chủ yếu,
năm
2005
[12].
Angola
và
Việt
Nam có mối
quan
hệ
ngoại
giao
bền
chặt
từ
cách đây hơn
30
năm (năm
1975).
Chuyến
thăm chính
thức
tháng 4/2008 vừa qua
của
Tổng
Bí thư
Trung
ương
Đảng
Cộng sản
Việt
cũng
đã ký
kết
các
Hiệp
định Thương mại
song
phương
(5-1978)
và
Hiệp
định hợp tác
kinh
tế
thương mại (năm
2004)
góp
phần
cải
thiện
kim
ngạch
xuất
nhập
khẩu.
Nhờ các cơ sở pháp lý đang được hoàn
thiện
và xúc
tiến
thương mại ứng
Nam
-
Bờ
Biển
Ngà
Nằm ờ khu vực Tây
Phi,
Bờ
Biển
Ngà giáp
với
Mali,
Burkina
Faso,
Ghana,
vịnh
Ghinea,
Liberia
và
Ghinea
có
diện
tích
322.640
kin
2
,
dân số 17,6
triệu
(năm
Tây
Phi,
Liên
minh
Kinh
tế
và
Tiền
tệ
Tây
Phi
và là nơi
đặt trụ
sở của Ngân hàng phát
triển
Châu
Phi.
Bờ
Biển
Ngà được xem là cường
quốc
kinh
tế hàng đầu ở Tây Phi (sau
Nigeria)
vối
nền
kinh
tế thị
trường và một
thị
quán hay lãnh sự
quán.
Chính vì
thế
mà
quan
hệ
song
phương còn bị hạn
chế
mặc dù
Việt
Nam và Bờ
Biển
Ngà đểu là
thị
trường
triển
vọng
để thúc đẩy
quan
hệ
kinh
tế
thương
mại.
Năm
2001,
nhập khẩu
cùa Bờ
sang
Bờ
Biển
Ngà
là
94
triệu
USD[19,tr.l72].
5.
Quan hệ
Việt
Nam -
Algeria
Algeria
nằm ở Bắc
Phi, diện
tích 2,38
triệu
km
2
, dân số 32,9
triệu
người
có GDP đầu
người
năm
2005
ước tính
đạt 7200
USD. Cơ cấu
sản
xuất,
hàng tiêu
dùng và
thực
phẩm
[23,
tr.2].
Sau
hơn 40 năm
thiết
lập quan
hệ
ngoại giao
cùng vói
nhởng chuyến
thăm hởu
nghị
chính
thức
của các nguyên
thủ quốc
gia,
quan
hệ
giởa
Việt
Nam và
Algeria
đã có
Algeria
sau 9 năm thương vụ
ngừng
hoạt
động.
Tuy
nhiên,
quan
hệ thương
mại
song
phương còn ở mức khiêm
tốn,
kim
ngạch
hai chiều
trong
các năm
vừa
qua
chỉ
ở mức 30
triệu
USD/năm.
HI.
VAI TRÒ CỦA CÁC
NƯỚC
CHÂU PHI
Đối
VỚI VIỆT NAM
lực cải
cách
kinh
tế,
ổn định chính
trị,
ngăn
chặn
xung
đột
để
giải
quyết
tình
trạng
đói
nghèo,
lạc hậu,
cô
lập
vói
thế
giới
bên
ngoài.
Tuy vẫn là khu vực kém phát
triển,
nhưng Châu
Phi hiủn
nay
nhanh,
với tốc
độ tăng trưởng GDP hàng năm
từ
2%
(giai
đoạn
1993-1995)
lên gần 5%
(giai
đoạn
2000-2005).
Nhu
cẩu
về công
nghủ
và hàng
hoa của
khu vực này
rất
lớn.
Xuất
khẩu
tăng
từ 99,8 tỷ
USD năm 1991 lên 230
tỷ
USD năm 2005 và
nhập
khẩu
so
với thu
nhập,
trung
bình 82%
tại
Mozambique,
85%
tại
Uganda,
thậm
chí lên đến
91%
ở
Zambia.
Sức tiêu
thụ lớn
còn
thể hiủn
qua giá
trị
thương mại hàng hóa khá cao ở hầu
hết
các nước Châu
Phi
như
Morocco
nhập
khẩu
mỗi năm 10
không quá
khắt
khe như
các
thị
trường EU, Mỹ,
Nhật
Có
thể nói,
Châu
Phi
là
thị
trường khá lý tưởng,
phù hợp
với
trình độ sản
xuất
và khả năng của các nước đang
phất
triển
như
Viủt
Nam.
Về
xuất
khẩu,
Châu
Phi
cung
năng giàu có về khoáng
sản,
tài nguyên,
dung
lượng
thị
trường,
nhu
cầu hàng
hoa ,
đây là một khu vực
thị
trường có
nhiều
cơ
hội đối với
20