Phân tích môi trường kinh doanh ở việt nam hiện nay - Pdf 13

MỤC LỤC
I. Đánh giá môi trường kinh doanh ở Việt Nam
1. Các yếu tố vĩ mô
a, Yếu tố nhân khẩu học
b, Yếu tố kinh tế
c, Yếu tố chính trị- pháp luật
d, Yếu tố văn hóa
e, Yếu tố công nghệ
f, Yếu tố địa lý
2. Các yếu tố vi mô
a, Yếu tố khách hàng
b, Yếu tố đối thủ cạnh tranh
c, Yếu tố cung ứng sản xuất
d, Yếu tố năng lực của doanh nghiệp
3. Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp
II. Phân tích cụ thể về Beeline
1. Thị trường viễn thông ở Việt Nam hiện nay
2. Giới thiệu về Beeline
3. Các yếu tố môi trường vĩ mô
4. Các yếu tố môi trường vi mô
5. Phân tích mô hình SWOT
6. Các chiến lược Marketing cụ thể
I. Đánh giá về môi trường kinh doanh Việt Nam
1) Các yếu tố vĩ mô
a, Yếu tố nhân khẩu học
Có nguồn gốc từ vùng đất hiện nằm ở phía nam Trung Quốc và
miền bắc Việt Nam, người Việt đã tiến về phía nam trong tiến trình
kéo dài hơn hai nghìn năm để chiếm lấy các vùng đất bờ biển phía
đông bán đảo Đông Dương
• Tổng dân số: ~ 86 triệu người (2010)
• Tỷ số giới tính: 98,1 nam trên 100 nữ

dung lượng thị trường trong nước còn hạn chế. Các biểu hiện trên
một mặt phản ánh trình độ thấp kém về dung lượng cung cầu hàng
hoá và khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường. Mặt khác
nó cũng tạo ra áp lực buộc chúng ta phải vượt qua thực trạng đó và
đưa nền kinh tế phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.
Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế tồn tại nhiều thành
phần. Tiếp cận đặc điểm này của kinh tế hàng hoá theo các khía
cạnh sau :
- Nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất là cơ sở kinh tế gắn liền với sự tồn tại và
phát triển kinh tế hàng hoá.
- Thực trạng kinh tế hàng hoá ở nước ta kém phát triển là do nhiều
nhân tố, nhưng nhân tố gây hậu quả nặng nề nhất là sự nhận thức
không đúng dẫn đến nôn nóng xoá bỏ nhanh các thành phần kinh
tế.
Nền kinh tế nhiều thành phần là nguồn lực tổng hợp về nhiều mặt,
có khả năng đưa nền kinh tế vượt khỏi tình trạng thấp kém.
- Nền kinh tế hàng hoá chịu tác động của sự thay đổi cơ cấu ngành
theo hướng nền kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng.Đặc điểm
này gắn liền với hai khía cạnh sau :
+ Nó đảm bảo cho mọi người, mọi doanh nghiệp dù ở thành phần
kinh tế nào cũng đều được tự do kinh doanh theo pháp luật, được
pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và quyền thu nhập hợp pháp.
+ Các chủ thể kinh tế đều được hoạt động theo cơ chế tự chủ, hợp
tác, cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp luật.
- Nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ cấu kinh tế “mở” giữa
nước ta với các nước trên thế giới.
- Sự ra đời nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã làm cho thị
trường dân tộc hoạt động trong sự gắn bó với thị trường thế giới.
- Nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu “mở” ra đời bắt nguồn từ quy

nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, mang nặng tính chất tự cung
tự cấp, chuyển sang một nền kinh tế hàng hoá phát triển từ thấp
đến cao đòi hỏi nhà nước phải sử dụng có hiệu quả các công cụ
pháp luật, tài chính, tiền tệ, tín dụng Mặt khác phải tạo ra môi
trường và điều kiện cho sản xuất kinh doanh trên cơ sở khai thác
tiềm năng của các thành phần kinh tế, thực hiện các chính sách xã
hội đảm bảo cho sự thống nhất giữa kinh tế và xã hội.
c, Yếu tố chính trị- pháp luật
- Tình hình chính trị- an ninh ổn định
- Hệ thống pháp luật ngày càng được sửa đổi phù hợp với nền kinh
tế hiện nay
- Nền kinh tế mở sau khi nước ta gia nhập WTO, các chính sách
kinh tế phù hợp hơn không những với các doanh nghiệp Việt Nam
mà còn với cả doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào nước ta.
- Cơ chế điều hành của nước ta hiện nay: chủ trương đường lối theo
Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền. Hệ
thống chính trị hiện nay ra đời từ khi thiết lập Nhà nước Việt Nam Dân
chủ cộng hòa, gồm các cấu thành quyền lực chính trị sau: Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa, Nhân dân trong hệ
thống chính trị, Hiến pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam: Là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, vừa là lực lượng hợp thành,
vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN, bảo đảm cho hệ
thống chính trị giữ được bản chất giai cấp công nhân và bảo đảm mọi
quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa: là tổ chức trung tâm và là trụ cột
của hệ thống chính trị, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt
nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của
đời sống xã hội và thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại.Các tổ chức

sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc. Nhân dân sử dụng
quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Đây là
những cơ quan do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng
của nhân dân.
d, Yếu tố văn hóa
- Luôn luôn gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc
- Phương tiện truyền thông được phủ sóng khắp vùng miền, kể cả
vùng sâu vùng xa, giúp người dân tiếp cận được những kiến thức
văn hóa mới nhất
- Trình độ văn hóa của người dân đang ngày càng nâng cao
- Văn hóa doanh nghiệp, yếu tố vàng của thành công:
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng văn
hoá doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít
khó khăn.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá. Theo E.Heriôt thì “Cái gì
còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi - cái đó là văn hoá”. Còn
UNESCO lại có một định nghĩa khác về văn hoá: “Văn hoá phản ánh và
thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi
cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang
diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành một hệ
thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng
dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Vậy văn hoá doanh nghiệp là gì? Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các
giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát
triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập
quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối
tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp
trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.
Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng

doanh nghiệp qua văn hoá của doanh nghiệp đó.
Sự thành công của mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là ở các nước châu á
thường được dựa trên mối quan hệ cá nhân của người lãnh đạo, còn các
nước Tây Âu thì thành công của doanh nghiệp lại được dựa trên các yếu
tố như khả năng quản lý các nguồn lực, năng suất làm việc, tính năng
động của nhân viên… Ngoài những yếu tố chủ quan, để xây dựng văn
hoá doanh nghiệp còn phải chú trọng tới những yếu tố khách quan. Đó là
việc tạo lập thị trường, lợi ích của người tiêu dùng, được thể hiện qua
“Các nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ người tiêu dùng”, là quá trình hội
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trước hết chúng ta phải có quan điểm cụ thể về vai trò của văn hoá doanh
nghiệp. Sự thắng thế của bất cứ một doanh nghiệp nào không phải ở chỗ
là có bao nhiêu vốn và sử dụng công nghệ gì mà nó được quyết định bởi
việc tổ chức những con người như thế nào. Con người ta có thể đi lên từ
tay không về vốn nhưng không bao giờ từ tay không về văn hoá. Văn hoá
chỉ có nền tảng chứ không có điểm mốc đầu cuối. Do vậy, xuất phát điểm
của doanh nghiệp có thể sẽ là rất cao nếu như nó được xây dựng trên nền
tảng văn hoá. Các doanh nghiệp khi xây dựng đều phải có nhận thức và
niềm tin triệt để, lúc đó văn hoá sẽ xuất hiện. Mọi cải cách chỉ thực sự có
tính thuyết phục khi nó tách ra khỏi lợi ích cá nhân, còn văn hoá doanh
nghiệp thì phải bảo vệ cho mọi quyền lợi và lợi ích của cá nhân.
Khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần phải có những biện pháp cụ thể.
Biện pháp đầu tiên là phải xây dựng một hệ thống định chế của doanh
nghiệp, bao gồm: Chính danh, tự kiểm soát, phân tích các công việc, các
yêu cầu. Sau đó xây dựng các kênh thông tin; xây dựng các thể chế và
thiết chế tập trung và dân chủ như: Đa dạng hoá các loại hình đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực; tiêu chuẩn hoá các chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn; xây dựng cơ chế kết hợp hài hoà các lợi ích để doanh nghiệp
trở thành ngôi nhà chung, là con thuyền vận mệnh của mọi người.
- Các hạt nhân văn hóa doanh nghiệp

mạnh khó có thể cạnh tranh cao trên thị trường. Đồng thời, doanh nghiệp
có thể tạo ra và tăng uy tín của mình trên thị trường thông qua việc xây
dựng và phát triển một nền văn hóa doanh nghiệp mạnh.
- Văn hóa tập đoàn đa quốc gia
Các tập đoàn đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều nước trên
thế giới, thường phải đối mặt với môi trường kinh doanh đa sắc tộc, đa
quốc tịch và đa văn hóa. Để tăng cường sức mạnh và sự liên kết giữa các
chi nhánh của các công ty đa quốc gia ở các nước khác nhau, các tập
đoàn phải có một nền văn hóa đủ mạnh. Hầu như tập đoàn đa quốc gia
nào cũng có bản sắc văn hóa riêng của mình và đây được coi là một trong
những điều kiện sống còn, một loại vũ khí cạnh tranh lợi hại. Các công ty
đa quốc gia có mục đích kinh doanh chiến lược, nhãn hiệu hàng hóa nổi
tiếng và danh tiếng cao về chất lượng sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
thế giới. Những kết quả này có thể coi là sản phẩm của quá trình vận
động của văn hóa tập đoàn. Tuy nhiên, để đạt được những đỉnh cao của
sự thành công đó, các tập đoàn phải mất nhiều thời gian và tiền bạc.
Chẳng hạn, để có nhãn hiệu Pepsi Cola nổi tiếng với màu xanh tươi trẻ,
Tập đoàn Pepsi phải chọn cách tiếp cận văn hóa phương Đông - sản xuất
loại đồ uống mang nhãn hiệu Pepsi Cola với biểu tượng thiếu âm và thiếu
dương (biểu tượng của những người theo Phật giáo) để đến với khách
hàng là những tín đồ của Phật giáo. Để bảo hộ cho biểu tượng này, Tập
đoàn phải chi tới 500 triệu USD và giá của nhãn hiệu Pepsi đã lên tới 55
tỷ USD. Đối thủ cạnh tranh của Pepsi Cola là Tập đoàn Coca Cola. Tập
đoàn này có nền văn hóa hùng mạnh và với những ưu thế về danh tiếng,
uy tín cũng như nghệ thuật kinh doanh đã chiến thắng Pepsi Cola trên
thương trường mặc dù đồ uống Coca Cola chỉ được xếp thứ 7 trong số 12
loại đồ uống hàng đầu của nước Mỹ về chất lượng và đồ uống này đã bị
người tiêu dùng châu Âu tẩy chay vào năm 1999.
- Văn hóa doanh nghiệp gia đình
Các doanh nghiệp gia đình được xem là một loại định chế độc đáo trong

- Số người dùng mạng Internet đã vượt ngưỡng 22 triệu.
- Hơn 50% dân số đang dùng điện thoại di động.
Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp. Các yếu
tố công nghệ thường biểu hiện như phương pháp sản xuất mới, kĩ thuật
mới, vật liệu mới, thiết bị sản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần
mềm ứng dụng Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện
ứng dụng các thành tựu của công nghệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có
chất lượng cao hơn nhằm phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh
tranh. Tuy vậy, nó cũng mang lại cho doanh nghiệp nguy cơ tụt hậu, giảm
năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp không đổi mới công nghệ kịp thời.
Khoa học kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng to lớn tới sản xuất,
kinh doanh và cả sự tiêu thụ. Các phát minh mới, các tiến bộ của khoa
học kỹ thuật sẽ làm ra các sản phẩm mới, đồng thời làm này sinh các nhu
cầu mới và làm triệt tiêu cá công nghệ cụ hay nhu cầu cũ. Ví dụ, phát
minh ra máy ảnh kỹ thuật số gây ảnh hưởng năng cho việc chụp hình
dùng phim cổ điển, máy photo copy và máy tính làm biến mất những
chiếc máy chữ cũ kỹ…
Khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng giúp chúng ta khám phá các khả
năng vô tận như: công nghệ sinh học, robot, nghiên cứu vũ trụ….
Ngày nay, để thành công, các công ty phải không ngừng đầu tư cho
R&D ( Research and Development: Nghiên cứu và Phát triển) để phát
minh hay tiếp cận và vận dụng các co6ngnghe65 và kỹ thuật mới để
không ngừng cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh.
Ở Việt nam, công nghệ còn lạc hậu, nên nguy cơ tụt hậu là rất lớn, vì
thế chúng ta cần đầu tư hơn cho giáo dục và thu hút chất xám để có thể
phát triển một đội ngũ chuyên gia kỹ thuật và công nghệ giỏi.
Cả thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt
các công nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch
vụ. Nếu cách đây 30 năm máy vi tính chỉ là một công cụ dùng để tính
toán thì ngày nay nó đã có đủ chức năng thay thế một con người làm việc

gồm các nền kinh tế khu vực và quốc gia rất đa dạng, phát triển không
đều, chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Theo trình độ phát triển của lý luận sản
xuất và phân công lao động xã hội, có thể phân các nước trên thế giới
thành các nhóm: nước phát triển, nước đang phát triển và nước chậm phát
triển. Trong đó, Việt Nam là một nước đang phát triển. Với vị trí địa lý :
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ở ngã tư nơi gặp gỡ của những
luồng gió xuất phát từ các trung tâm lớn bao quanh. Nằm phía Đông của
bán đảo Đông Dương gần trung tâm Đông Nam Á, nên đã trở thành một
đầu mối giao thông quan trọng đi từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình
Dương và Châu Úc Đại Dương hoặc ngược lại, có vùng biển chủ quyền
rộng lớn và giàu tiềm năng. Đặc biệt, Việt Nam nằm trong khu vực đang
diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động nhất thế giới trước ngưỡng cửa của
thế kỷ XXI. Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore đã trở thành "4
con Rồng" Châu Á cũng đang có những chuyển động mới đáng kể trong
phát triển kinh tế. Nhìn chung các nước ASEAN đang ngày càng chiếm
vị trí cao hơn trong nền kinh tế của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
cũng như của thế giới. Như tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của thế
giới là 3-5%, thì trong khu vự c đã đạt được tốc độ bình quân là 6-9%.
Với vị trí địa lý như trên và với thực trạng nền kinh tế của các nước
trong khu vực đã và đang tạo ra cho Việt Nam nhưng lợi thế quan trọng
và cơ hội lớn trong việc hợp tác và tiếp thu những kinh nghiệm quý báu
về phát triển kinh tế- xã hội. Đồng thời tranh thủ tối đa nguồn vốn, kỹ
thuật – công nghệ tiên tiến và hiện đại từ các nước trong khu vực, xuất
nhập khẩu nhiều loại hàng hóa thế mạnh của nước ta.
Việt Nam là một đất nước đầy tiềm năng, dân số trẻ, sức tiêu thụ
ngày một tăng. Mặc dù bị tụt hậu do chiến tranh nhưng VN giờ đây là
một trong những nơi dễ tiếp cận nhất để mở rộng kinh doanh ở châu Á.
Đáng chú ý là thị trường bán lẻ ở VN tăng trưởng tới 30% mỗi năm trong
hơn một thập niên qua và tiếng tăm toàn cầu của Việt Nam đã mở ra
những cơ hội lớn trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, trường học, sân bay,

của Tư bản nước ngoài. Và nước ta là một nước đang phát triển đông
dân, trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ rộng lớn nên đã là
tiền đề và yếu tố kích thích thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, mở rộng
các quan hệ kinh tế đối ngoại.
2. Các yếu tố vi mô
a, Yếu tố khách hàng
b, Yếu tố đối thủ cạnh tranh
c, Yếu tố cung ứng sản xuất
d, Yếu tố năng lực của doanh nghiệp
3. Cơ hội và thách thức đối với cách doanh nghiệp
Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO vào tháng 1-1995 và được công
nhận là quan sát viên của tổ chức này. Tháng 7-1998, Việt Nam bắt đầu
tiến hành phiên đàm phán gia nhập WTO đầu tiên. Sau hơn 10 năm, Việt
Nam đã trải qua 11 phiên đàm phán đa phương (trong đó có một phiên trù
bị) và hàng trăm cuộc đàm phán song phương với sự tham gia của tất cả
các bộ, ngành. Việc nước ta gia nhập WTO sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến
tình hình kinh tế, xã hội nói chung và cuộc sống của mỗi người nông dân
nói riêng. Nước ta phấn đấu sớm gia nhập WTO xuất phát từ nhu cầu hội
nhập quốc tế của chính chúng ta, chứ không phải từ sức ép bên ngoài
a. Mở rộng thị trường và tăng xuất khẩu
Khi gia nhập WTO, theo nguyên tắc tối huệ quốc, nước ta sẽ được tiếp
cận mức độ tự do hoá này mà không phải đàm phán hiệp định thương mại
song phương với từng nước. Hàng hoá của nước ta vì vậy sẽ có cơ hội lớn
hơn và bình đẳng hơn trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường quốc
tế.
Do điều kiện tự nhiên và chi phí lao động rẻ, Việt Nam có lợi thế trong
một số ngành, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp và dệt may. Đây là hai
ngành được WTO rất quan tâm và đã đề ra nhiều biện pháp để xoá bỏ dần
các rào cản thương mại. Chẳng hạn, theo Hiệp định Dệt may của WTO
(ATC), mọi hạn chế định lượng đối với mặt hàng dệt may được xoá bỏ từ

phép như chống trợ cấp, chống bán phá giá… Tranh thủ thương mại là
điều khó khăn mà phần thua thiệt thường rơi về phía nước ta, bởi nước ta
là nước nhỏ. Gia nhập WTO sẽ giúp ta sử dụng được cơ chế giải quyết
tranh chấp của tổ chức này, qua đó có thêm công cụ để đấu tranh với các
nước lớn, đảm bảo sự bình đẳng trong thương mại quốc tế. Thực tiễn cho
thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động khá hiệu quả và
nhiều nước đang phát triển đã thu được lợi ích từ việc sử dụng cơ chế
này.
e.Thách thức của việc gia nhập WTO
Bên cạnh cơ hội, việc gia nhập WTO cùng tạo ra một số thách thức lớn
đối với nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Đó là:
- Sức ép cạnh tranh
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, loại bỏ trợ cấp, mở cửa thị
trường dịch vụ… sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở
nên cạnh tranh hơn. Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với nhiều doanh
nghiệp, nhất là những doanh nghiệp đã quen với "bầu vú bao cấp" của
Nhà nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sẽ không có cách nào khác là chủ
động và sẵn sàng đối diện với thách thức này bởi đó là hệ quả tất yếu của
sự phát triển, là chặng đường mà mọi quốc gia đều phải đi qua trên con
đường hướng tới hiệu quả và phồn vinh. Dù không gia nhập WTO thì
thách thức này sớm hay muộn cũng sẽ đến.
Riêng đối với khu vực nông nghiệp, việc gia nhập WTO có thể sẽ mang
lại khó khăn nhiều hơn bởi chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
khó có thể diễn ra trong một sớm, một chiều. Chính phủ luôn lưu tâm đến
yếu tố này trong đàm phán gia nhập WTO và hy vọng kết quả đàm phán
cuối cùng sẽ là một kết quả chấp nhận được đối với lĩnh vực nông nghiệp.
- Thách thức của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Một trong những hệ quả tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế là chuyển
dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực. Dưới sức ép của cạnh tranh, một
ngành sản xuất không hiệu quả có thể sẽ phải mất đi để nhường chỗ cho

khuôn khổ pháp lý, tạo dựng môi trường cạnh tranh năng động và cải
cách có hiệu quả nền hành chính quốc gia, bên cạnh quyết tâm về mặt
chủ trương, cần phải có một đội ngũ cán bộ đủ mạnh xuyên suốt từ Trung
ương tới địa phương. Đây cũng là một thách thức to lớn đối với nước ta
do phần đông cán bộ của ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành một
nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu tố nước ngoài. Nếu không có sự
chuẩn bị từ bây giờ, thách thức này sẽ chuyển thành những khó khăn dài
hạn rất khó khắc phục. Ngoài ra, để tận dụng được cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO và tham gia có hiệu quả vào các cuộc đàm phán trong
tương lai của tổ chức này, chúng ta cũng cần phải có một đội ngũ cán bộ
thông thạo qui định và luật lệ của WTO, có kinh nghiệm và kỹ năng đàm
phán quốc tế. Thông qua đàm phán gia nhập, ta đã từng bước xây dựng
được đội ngũ này, nhưng vẫn còn thiếu.
Từ những cơ hội cũng như thách thức đó, hiện nay Việt Nam đang đẩy
nhanh công tác chuẩn bị gia nhập WTO. Về chuẩn bị điều kiện để thực
hiện các nghĩa vụ thành viên, thời gian qua Quốc hội và các cơ quan
Chính phủ đã khẩn trương đẩy nhanh chương trình xây dựng pháp luật.
Quá trình rà soát văn bản pháp luật đã tiến hành ở Trung ương. Bộ Tư
pháp đang tiếp tục hướng dẫn các tỉnh rà soát lại các văn bản quy phạm
pháp luật của địa phương, có đối chiếu với quy định của WTO và cam kết
của nước ta. Các địa phương cũng đang khẩn trương, nghiêm túc tiến
hành rà soát, điều chỉnh các quy định, đặc biệt là trong lĩnh vực thương
mại - đầu tư để đảm bảo tính thống nhất với các văn bản của Nhà nước và
cam kết quốc tế. Đồng thời, chúng ta cũng đang đẩy mạnh triển khai các
chương trình hành động thực hiện các hiệp định của WTO như Hiệp định
về thủ tục cấp phép nhập khẩu (IL); Hiệp định về các biện pháp đầu tư có
liên quan đến thương mại (TRIMs); Hiệp định về kiểm dịch và vệ sinh an
toàn thực phẩm (SPS)…
Để nắm bắt cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế, chúng ta đã tập trung đầu
tư phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh để hướng vào xuất khẩu như

mạng đã là gần 20 triệu. Đấy là chưa kể đến kế hoạch phát triển của
Vietnamobile và Beeline. Số lượng khách hàng còn lại không đủ đáp ứng
nhu cầu phát triển của các mạng di động. Cũng chính bởi lý do này, các
chuyên gia viễn thông dự báo, thị trường thời gian tới sẽ bước sang một
giai đoạn mới: giữ thuê bao quan trọng hơn là phát triển thuê bao mới. Và
trong cuộc chạy đua này, chất lượng dịch vụ và chính sách chăm sóc
khách hàng sẽ là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi nhà mạng.
Hiện giờ, số lượng khách hàng dùng 2 sim đồng thời rất lớn và nếu mạng
di động nào bị đánh giá là tụt hạng về chất lượng hoặc kém hơn các mạng
khác thì sẽ bị người sử dụng đổi sim ngay lập tức. Đây chính là thách
thức lớn mà các mạng di động phải đương đầu trong năm 2010 khi mà thị
trường đang tiến tới điểm bão hòa.
Theo đánh giá của giới chuyên môn, năm 2010 sẽ là một năm khó khăn
của MobiFone trong việc duy trì vị trí số 1 về chất lượng trong nhiều năm
liên tục. Lý do là về các chỉ tiêu kỹ thuật, dù vẫn nhỉnh hơn các mạng
khác nhưng các chỉ tiêu của MobiFone đã gần đạt đến mức tới hạn và
không thể tăng thêm. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu chỉ cần có
sơ sẩy chút ít, các mạng khác cũng có thể có chỉ tiêu bằng thậm chí cao
hơn MobiFone trong kết quả đo kiểm. Một đại diện của MobiFone cũng
thừa nhận: "Chỉ cần không chú tâm, MobiFone sẽ mất vị trí dẫn đầu về
chất lượng và chăm sóc khách hàng. Chúng tôi cũng ý thức được điều này
nên vẫn không ngừng củng cố việc đầu tư nâng cấp cho mạng lưới, chất
lượng và các chính sách chăm sóc khách hàng".
Chuyên gia về viễn thông này cũng nhận định: "Cuộc chạy đua về chất
lượng giờ không chỉ là đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định mà là đáp
ứng ở mức tốt nhất và không được mắc lỗi khi thực hiện các chính sách
chăm sóc khách hàng, khuyến mại, xử lý khiếu nại… Điều này sẽ rất khó
khăn cho tất cả các mạng di động nhưng sẽ là một tín hiệu tốt đối với
người dùng di động Việt Nam".
2. Giới thiệu Beeline

- tháng 7/2009 chính thức ra mắt mạng di động Quốc tế Beeline Việt
Nam và ,khẩu hiệu "Live on the bright side” và gói cước “vô địch rẻ”
mang tên “Big Zero" với cách tính cước “độc nhất vô nhị”: tính giá
không đồng (0 VND) sau phút đầu tiên cho tất cả các cuộc gọi nội mạng.
- tiếp sau đó tháng 3/2010 gây sock trên thị trường viễn thông với gói
cước ưu đãi nhất trên thị trường hiện nay “ big and cool”
3. Các yếu tố môi trường vĩ mô
.Yếu tố kinh tế: Ở Việt Nam hiện nay dân số đang không ngừng phát
triển, thu nhập dân cư ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ
viễn thông ngày càng cao.
.Yếu tố văn hóa – xã hội: Gần các dịp lễ, Tết truyền thống ở Việt Nam,
nhà cung ứng dịch vụ viễn thông có xu hướng khuyến mại, giảm giá cước
kích thích việc sử dụng dịch vụ của khách hàng.
.Yếu tố công nghệ:
Ngành khoa học – công nghệ ở Việt Nam đang phát triển. Điều này tạo
điều kiện thuận lợi trong việc chuyên môn hoá, giúp nâng cao trình độ kĩ
thuật của đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp
.Yếu tố địa lý: Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam
Á; có đường biên giới tiếp giáp với Lào, Trung Quốc, Campuchia tạo
điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng mạng lưới viễn thông sang các nước
trong khu vực.
Yếu tố khí hậu ở Việt Nam cùng sự chênh lệch về địa hình từng vùng:
nông thôn, thành thị, miền núi đôi khi cũng tạo sự khác biệt trong việc
phân bố mạng lưới.
Sự phân bố dân cư ở từng vùng địa lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới
việc sử dụng dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp.
4. Các yếu tố môi trường vi mô
a. Yếu tố thị trường
- Việt Nam vẫn là thị trường nhiều tiềm năng mặc dù mật độ sử dụng
điện thoại di động đã lên đến 55%. Tại Việt Nam, mức độ thâm nhập

+ Gần đây MobiFone vừa tạo ra một cú sốc cực lớn trên thị trường với
việc cho phép khách hàng gọi miễn phí "quên ngày tháng" gần như chính
sách của gói cước BigZero mà Beeline đang áp dụng. Cụ thể là các cuộc
gọi 10 phút chỉ bị tính tiền một phút trong khoảng thời gian từ ngày 2/10
cho ðến hết năm 2009 (đối với tất cả các thuê bao di động tại Hà Nội (cả
Hà Nội cũ và Hà Tây))
+ Về các trường đại học, cao đẳng, trung cấp… để tặng sim di động miễn
phí cho sinh viên_ Nhân dịp năm học mới, MobiFone còn phát miễn phí
375.000 bộ Q-Student cho sinh viên của 300 trường đại học, cao đẳng…
trên cả nước
+ Với gói cước sinh viên Q-Student. (nhằm “giành giật"nhau thi phần là
sinh viên nên tạo ra nhiều lợi ích cho bộ sim này.) Cước nhắn tin nội
mạng vô cùng hấp dẫn: chỉ 99 đồng/tin nhắn. Tặng thêm 25 MMS miễn
phí mỗi tháng. Cước gọi nội mạng lẫn liên mạng rẻ nhất chỉ 1380
đồng/phút nội mạng và 1580 ðồng/phút liên mạng. Tặng 50.000 đồng
cước phí hàng tháng, trong đó 25.000 đồng được trừ vào cước sử dụng
GPRS hàng tháng và 25.000 ðồng cộng vào tài khản thưởng. Khi gọi đến
các thuê bao khác trong nhóm (tối đa 5 thành viên), người dùng Q-
Student chỉ phải trả 830 đồng cho mỗi phút gọi. Khách hàng sinh viên
hòa mạng Q-Student sẽ được hưởng tất cả các ưu đãi trong suốt thời sinh
viên,kể từ ngày đãng ký.
b/Viettel:
- Vị thế : Năm 2009, Viettel có khoảng 45 triệu thuê bao và đạt lợi nhuận
đạt 10.000 tỷ đồng trên doanh thu 60.054 tỷ đồng.
- Các chiến lược :
+ Tung ra các bộ kit (hòa mạng mới) trả trước có mệnh giá 65.000 đồng.
+ Vào đầu năm học mới, ngoài việc tặng sim miễn phí cho các sinh viên
với số lượng sim lên tới
300.000, nhà khai thác di động 098 -Viettel Telecom còn tặng thêm các
quyền lợi khác khi sử dụng

viên là họ có thể sử dụng dịch vụ với số tiền có sẵn trong tài khoản lên tới
vài trăm nghìn đồng.
+ Áp dụng chương trình khuyến mại trên thời gian gọi đi. Theo đó, tất cả
các khách hàng khi gọi đi bằng tài khoản chính sẽ được tặng 2 phút miễn
phí trên mỗi 2 phút gọi nếu tổng thời gian gọi cả ngày từ 2 phút trở lên.
Số phút miễn phí được tặng bắt đầu từ 10h sáng ngày kế tiếp và chỉ có
thời hạn sử dụng đến hết ngày thứ hai, không cộng dồn và được chia đều
cho các cuộc gọi nội và ngoại mạng. Hết 2 ngày, khuyến mại còn dư sẽ
không được bảo lưu. Chương trình sẽ được áp dụng đến hết 30/09/2009.
Triển khai chương trình khuyến mại đối với thẻ nạp, khách hàng sẽ được
tặng ngay 100% giá trị thẻ nạp và 60 ngày sử dụng. Chương trình được
thực hiện đối với các khách hàng nạp tiền vào thẻ cào hoặc thẻ điện tử lần
đầu đối với mệnh giá tối thiểu VND 20.000 trong vòng 7 ngày sau khi
kích hoạt.
+ Tiền khuyến mại sẽ được đưa vào tài khoản khuyến mại. Thời hạn sử
dụng của khuyến mại nạp thẻ bằng thời hạn của tài khoản chính.
5. Phân tích SWOT
a.Điểm mạnh ( S ):
* Hình ảnh công ty :
- là mạng di động liên doanh quốc tế ,
- thừa hưởng tên tuổi của một thương hiệu nằm trong top 10 thương hiệu
viễn thông lớn nhất thế giới và thương hiệu di động hàng đầu Đông Âu.
* Tài chính :
- Sự hùng mạnh về tài chính được coi là một lợi thế của Beeline ( hiện tại
sở hữu 62,7 triệu thuê bao trên toàn thế giới).
* Nhãn hiệu :
- Năm 2009, thương hiệu “Beeline” được định giá khoảng 8,9 tỷ USD.
- lọt vào top 100 thương hiệu đắt giá nhất hành tinh .
- lọt top 10 tên tuổi đắt giá nhất trên thị trường viễn thông.
* Beeline có được một nền tảng chiến lược khá vững chắc (mô hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status