MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, trình độ khoa học ngày càng tiên tiến,trình độ
phát triển kinh tế ngày càng cao, mức độ cạnh tranh để tồn tại, để phát triển trên
thị trường ngày càng trở nên ngay gắt, nhu cầu thông tin càng trở nên bức thiết.
Trong hoạt động kinh doanh, thông tin trở thành một nhân tố không thể thiếu
của các nhà quản lý kinh doanh. Các doanh nghiệp cần những thông tin chính
xác, hữu ích. Hệ thống thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu trong các doanh
nghiệp chính là hệ thống báo cáo tài chính. Hệ thống báo cáo tài chính doanh
nghiệp phản ánh một cách khách quan và đầy đủ về tình hình và kết quả sản
xuất kinh doanh. Đó chính là những thông tin kinh tế, tài chính không chỉ cần
cho bản thân doanh nghiệp, mà cho tất cả những ai có lợi ích liên quan đến
doanh nghiệp và những ai quan tâm đến doanh nghiệp.
Chính vì thế, hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính báo cáo tài chính trong
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là một vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay cả
về mặt lý luận và thực tiễn.
Nghiên cứu đề tài này không những hoàn thiện về mặt lý luận của hệ thống
báo cáo tài chính, mà còn hoàn thiện ngay cả trong công tác chỉ đạo thực tiễn
của các cơ quan chức năng cũng như, thực tiễn lập báo cáo tài chính của các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay.
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp
tổng hợp – phân tích, nhằm đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo tài chính từ đó
nhận thấy những tồn tại, thiếu sót,để rồi đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện
hệ thống báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở Việt
Nam hiện nay,đó chính là mục đích của chuyên đề này.
Nội dung chuyên đề được kết cấu theo hai phần lớn như sau:
Phần I : Lý luận chung về báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh.
1
Phần II : Thực trạng và một số ý kiến nhằm hoàn thiện báo cáo tài chính trong
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
2
-Báo cáo chi tiết chi phí sản xuất
-Báo cáo chi tiết chi phí bán hàng
-Báo cáo chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp
-Báo cáo chi tiết công nợ.
Nội dung, phương pháp tính toán, hình thức trình bày các chỉ tiêu trong
từng báo cáo qui định trong chế độ này được áp dụng thống nhất cho các doanh
nghiệp trong phạm vi cả nước.
Trong quá trình áp dụng, nếu thấy cần thiết,có thể bổ sung, sửa đổi hoặc chi
tiết các chỉ tiêu cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nhưng phải được Bộ Tài Chính chấp thuận bằng văn bản.
Tất cả các doanh nghiệp độc lập (không nằm trong cơ cấu,tổ chức của một
doanh nghiệp khác), có tư cách pháp nhân đây đủ điều phải lập và gửi báo cáo
tài chính theo đúng các qui định tại chế độ này.Riêng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
tạm thời chưa qui định là báo cáo bắt buộc phải lập và gửi, nhưng khuyến khích
các doanh nghiệp lập và sử dụng báo cáo tiền tệ.
2. VAI TRÒ VỊ TRÍ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÔNG
TÁC QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
Hệ thống báo cáo tài chính có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với công
tác quản lý doanh nghiệp.Điều đó, được thể hiện ở những vấn đề sau:
4
-Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản
ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành
vốn, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
-Báo cáo tài chính nhằm cung cấp những thông tin cần thiết nhất phục vụ
chủ doanh nghiệp và các đôí tượng quan tâm khác, như : Các nhà đầu tư,hội
đồng quản trị doanh nghiệp,người cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên và toàn
bộ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp.
-Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế,tài chính chủ yếu để
đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của
doanh nghiệp trong thời kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát
phải chính xác,phản ánh đúng thực trạng của các quá trình hoạt động tài chính
của doanh nghiệp, phản ánh một cách hợp lý và sát thực với quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn vậy, trước khi lập báo cáo tài chính kế
toán cần phải phản ánh đầy đủ. Chính xác các dịch vụ kinh tế phát sinh vào sổ
kế toán,thực hiện việc kiểm kê tài sản và phản ánh kết quả kiểm kê vào sổ kế
toán tr ước khi khoá sổ kế toán. Thực hiện đối chiếu số liệu ở các sổ kế toán
tổng hợp với số liệu của các sổ kế toán chi tiết;đối chiếu giữa số liệu trên sổ kế
toán với số liệu thực tế kiển kê. Có như vậy, mới đảm bảo số liệu trên các báo
cáo tài chính của doanh nghiệp là xác thực.
Nguyên tắc thống nhất.
Nguyên tắc này đòi hỏi những thông tin phản ánh trên tất cả những báo cáo
tài chính phải đảm bảo sự thống nhấ. Số liệu trên các báo cáo tài chính trong
một doanh nghiệp không thể mâu thuãn nhau và cũng không thể chồng chéo
nhau. Các số liệu được lập trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao giờ
cũng mang tính logic, việclập báo cáo tài chính bao giờ cũng tuân theo một trình
6
tự nhất định. Nguyên tắc thống nhất trong việc lập các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp còn được biểu hiện ở chỗ :
-Các chỉ tiêu phản ánh trên các báo cáo tài chính phải đảm bảo sự thống
nhất về nội dung kinh tế.
- Các chỉ tiêu phản ánh trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải
đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính toán
-Các chỉ tiêu phản ánh trên các báo cáo tài chính phải đảm bảo sự thống
nhất về đơn vị tính.
Nguyên tắc thống nhất trong việc lập các báo cáo tài chính của doanh
nghiệp được thể hiện ở phương pháp kế toán mà doanh nghiệp sử dụng phải
nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác, giữa năm này sang năm khác. Nguyên tắc này
phải được quán triệt sâu sắc mới có thể đảm bảo được những tài liệu trên cácbáo
cáo tài chính so sánh được giữa kỳ này với kỳ khác. Qua đó, mới phân tích, đánh
giá sự biến động (tăng, giảm) các chỉ tiêu giữa các kỳ kinh doanh của doanh
Chính
Cơ
quan
Thuế
Cơ
quan
Thống
Kê
Cơ
quan
Cấp
trên
Cơ
quan
Đăng ký
kinh
doanh
1 Doanh nghiệp Nhà Nước
Quý,
năm
X X X X X
2
Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
Năm X X X X
3
Các loại hình doanh
nghiệp khác
Năm X X
5. HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH.
đầu năm, số cuối kỳ (quý, năm).
* Cơ sở số liệu và phương pháp lập bảng cân đối kế toán
9
-Cơ sở số liệu: Khi lập bảng CĐKT cần căn cứ vào.
Bảng cân đối kế toán ngày 31./12năm trước.
Số dư cuối kỳ của các tài khoản trong các sổ kế toán ở thời điểm lập
bảng cân đối kế toán.
- Phương pháp lập
Cột số đầu năm: Kế toán lấy số liệu ở số cuối kỳ trong bảng CĐKT
ngày 31/12 năm trước đề ghi theo các chỉ tiêu tương ứng.
Cột số cuối kỳ: Kế toán lấy số dư cuối kỳ của các TK trong các sổ
kế toán để ghi theo nguyên tắc kế toán quy định.
5.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD)
* Khái niệm
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh tình
hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo từng chỉ tiêu kết
quả kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính, kết quả hoạt động bất thường tình
hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước vì các khoản thuế phải nộp, tình hình về
thuế giá trị gia tăng.
* Kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần chính.
Phần I: Lãi, lỗ phản ảnh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
theo từng chỉ tiêu trong đó có số liệu các kỳ trước, kỳ này và luỹ kế từ đầu năm.
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước: Phản ánh các khoản
thuế phải nộp ngân sách trong đó có số phải nộp đầu kỳ, số phải nộp phát sinh
trong kỳ; số đã nộp trong kỳ; số còn phải nộp cuối kỳ; số luỹ kế từ đầu năm.
Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ; thuế giá trị gia tăng được
hoàn lại; thuế giá trị gia tăng được giảm; thuế giá trị gia tăng được giảm thuế giá
trị gia tăng hàng bán nội địa.
10