Đánh giá môi trường kinh doanh ở Việt Nam - Pdf 24

MỤC LỤC
I. Đánh giá môi trường kinh doanh ở Việt Nam
1. Các yếu tố vĩ mô
a, Yếu tố nhân khẩu học
b, Yếu tố kinh tế
c, Yếu tố chính trị- pháp luật
d, Yếu tố văn hóa
e, Yếu tố công nghệ
f, Yếu tố địa lý
2. Các yếu tố vi mô
a, Yếu tố khách hàng
b, Yếu tố đối thủ cạnh tranh
c, Yếu tố cung ứng sản xuất
d, Yếu tố năng lực của doanh nghiệp
3. Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp
II. Phân tích cụ thể về Beeline
1. Thị trường viễn thông ở Việt Nam hiện nay
2. Giới thiệu về Beeline
3. Các yếu tố môi trường vĩ mô
4. Các yếu tố môi trường vi mô
5. Phân tích mô hình SWOT
6. Các chiến lược Marketing cụ thể
I. Đánh giá về môi trường kinh doanh Việt Nam
1) Các yếu tố vĩ mô
a, Yếu tố nhân khẩu học
Có nguồn gốc từ vùng đất hiện nằm ở phía nam Trung Quốc và
miền bắc Việt Nam, người Việt đã tiến về phía nam trong tiến trình
kéo dài hơn hai nghìn năm để chiếm lấy các vùng đất bờ biển phía
đông bán đảo Đông Dương
• Tổng dân số: ~ 86 triệu người (2010)
• Tỷ số giới tính: 98,1 nam trên 100 nữ

dung lượng thị trường trong nước còn hạn chế. Các biểu hiện trên
một mặt phản ánh trình độ thấp kém về dung lượng cung cầu hàng
hoá và khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường. Mặt khác
nó cũng tạo ra áp lực buộc chúng ta phải vượt qua thực trạng đó và
đưa nền kinh tế phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.
Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế tồn tại nhiều thành
phần. Tiếp cận đặc điểm này của kinh tế hàng hoá theo các khía
cạnh sau :
- Nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất là cơ sở kinh tế gắn liền với sự tồn tại và
phát triển kinh tế hàng hoá.
- Thực trạng kinh tế hàng hoá ở nước ta kém phát triển là do nhiều
nhân tố, nhưng nhân tố gây hậu quả nặng nề nhất là sự nhận thức
không đúng dẫn đến nôn nóng xoá bỏ nhanh các thành phần kinh
tế.
Nền kinh tế nhiều thành phần là nguồn lực tổng hợp về nhiều mặt,
có khả năng đưa nền kinh tế vượt khỏi tình trạng thấp kém.
- Nền kinh tế hàng hoá chịu tác động của sự thay đổi cơ cấu ngành
theo hướng nền kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng.Đặc điểm
này gắn liền với hai khía cạnh sau :
+ Nó đảm bảo cho mọi người, mọi doanh nghiệp dù ở thành phần
kinh tế nào cũng đều được tự do kinh doanh theo pháp luật, được
pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và quyền thu nhập hợp pháp.
+ Các chủ thể kinh tế đều được hoạt động theo cơ chế tự chủ, hợp
tác, cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp luật.
- Nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ cấu kinh tế “mở” giữa
nước ta với các nước trên thế giới.
- Sự ra đời nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã làm cho thị
trường dân tộc hoạt động trong sự gắn bó với thị trường thế giới.
- Nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu “mở” ra đời bắt nguồn từ quy

nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, mang nặng tính chất tự cung
tự cấp, chuyển sang một nền kinh tế hàng hoá phát triển từ thấp
đến cao đòi hỏi nhà nước phải sử dụng có hiệu quả các công cụ
pháp luật, tài chính, tiền tệ, tín dụng ... Mặt khác phải tạo ra môi
trường và điều kiện cho sản xuất kinh doanh trên cơ sở khai thác
tiềm năng của các thành phần kinh tế, thực hiện các chính sách xã
hội đảm bảo cho sự thống nhất giữa kinh tế và xã hội.
c, Yếu tố chính trị- pháp luật
- Tình hình chính trị- an ninh ổn định
- Hệ thống pháp luật ngày càng được sửa đổi phù hợp với nền kinh
tế hiện nay
- Nền kinh tế mở sau khi nước ta gia nhập WTO, các chính sách
kinh tế phù hợp hơn không những với các doanh nghiệp Việt Nam
mà còn với cả doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào nước ta.
- Cơ chế điều hành của nước ta hiện nay: chủ trương đường lối theo
Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền. Hệ
thống chính trị hiện nay ra đời từ khi thiết lập Nhà nước Việt Nam Dân
chủ cộng hòa, gồm các cấu thành quyền lực chính trị sau: Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa, Nhân dân trong hệ
thống chính trị, Hiến pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam: Là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, vừa là lực lượng hợp thành,
vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN, bảo đảm cho hệ
thống chính trị giữ được bản chất giai cấp công nhân và bảo đảm mọi
quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa: là tổ chức trung tâm và là trụ cột
của hệ thống chính trị, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt
nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của
đời sống xã hội và thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại.Các tổ chức

sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc. Nhân dân sử dụng
quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Đây là
những cơ quan do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí và nguyện vọng
của nhân dân.
d, Yếu tố văn hóa
- Luôn luôn gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc
- Phương tiện truyền thông được phủ sóng khắp vùng miền, kể cả
vùng sâu vùng xa, giúp người dân tiếp cận được những kiến thức
văn hóa mới nhất
- Trình độ văn hóa của người dân đang ngày càng nâng cao
- Văn hóa doanh nghiệp, yếu tố vàng của thành công:
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng văn
hoá doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít
khó khăn.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá. Theo E.Heriôt thì “Cái gì
còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi - cái đó là văn hoá”. Còn
UNESCO lại có một định nghĩa khác về văn hoá: “Văn hoá phản ánh và
thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi
cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang
diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành một hệ
thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng
dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Vậy văn hoá doanh nghiệp là gì? Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các
giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát
triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập
quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối
tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp
trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.
Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng

doanh nghiệp qua văn hoá của doanh nghiệp đó.
Sự thành công của mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là ở các nước châu á
thường được dựa trên mối quan hệ cá nhân của người lãnh đạo, còn các
nước Tây Âu thì thành công của doanh nghiệp lại được dựa trên các yếu
tố như khả năng quản lý các nguồn lực, năng suất làm việc, tính năng
động của nhân viên… Ngoài những yếu tố chủ quan, để xây dựng văn
hoá doanh nghiệp còn phải chú trọng tới những yếu tố khách quan. Đó là
việc tạo lập thị trường, lợi ích của người tiêu dùng, được thể hiện qua
“Các nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ người tiêu dùng”, là quá trình hội
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trước hết chúng ta phải có quan điểm cụ thể về vai trò của văn hoá doanh
nghiệp. Sự thắng thế của bất cứ một doanh nghiệp nào không phải ở chỗ
là có bao nhiêu vốn và sử dụng công nghệ gì mà nó được quyết định bởi
việc tổ chức những con người như thế nào. Con người ta có thể đi lên từ
tay không về vốn nhưng không bao giờ từ tay không về văn hoá. Văn hoá
chỉ có nền tảng chứ không có điểm mốc đầu cuối. Do vậy, xuất phát điểm
của doanh nghiệp có thể sẽ là rất cao nếu như nó được xây dựng trên nền
tảng văn hoá. Các doanh nghiệp khi xây dựng đều phải có nhận thức và
niềm tin triệt để, lúc đó văn hoá sẽ xuất hiện. Mọi cải cách chỉ thực sự có
tính thuyết phục khi nó tách ra khỏi lợi ích cá nhân, còn văn hoá doanh
nghiệp thì phải bảo vệ cho mọi quyền lợi và lợi ích của cá nhân.
Khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần phải có những biện pháp cụ thể.
Biện pháp đầu tiên là phải xây dựng một hệ thống định chế của doanh
nghiệp, bao gồm: Chính danh, tự kiểm soát, phân tích các công việc, các
yêu cầu. Sau đó xây dựng các kênh thông tin; xây dựng các thể chế và
thiết chế tập trung và dân chủ như: Đa dạng hoá các loại hình đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực; tiêu chuẩn hoá các chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn; xây dựng cơ chế kết hợp hài hoà các lợi ích để doanh nghiệp
trở thành ngôi nhà chung, là con thuyền vận mệnh của mọi người.
- Các hạt nhân văn hóa doanh nghiệp

mạnh khó có thể cạnh tranh cao trên thị trường. Đồng thời, doanh nghiệp
có thể tạo ra và tăng uy tín của mình trên thị trường thông qua việc xây
dựng và phát triển một nền văn hóa doanh nghiệp mạnh.
- Văn hóa tập đoàn đa quốc gia
Các tập đoàn đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều nước trên
thế giới, thường phải đối mặt với môi trường kinh doanh đa sắc tộc, đa
quốc tịch và đa văn hóa. Để tăng cường sức mạnh và sự liên kết giữa các
chi nhánh của các công ty đa quốc gia ở các nước khác nhau, các tập
đoàn phải có một nền văn hóa đủ mạnh. Hầu như tập đoàn đa quốc gia
nào cũng có bản sắc văn hóa riêng của mình và đây được coi là một trong
những điều kiện sống còn, một loại vũ khí cạnh tranh lợi hại. Các công ty
đa quốc gia có mục đích kinh doanh chiến lược, nhãn hiệu hàng hóa nổi
tiếng và danh tiếng cao về chất lượng sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
thế giới. Những kết quả này có thể coi là sản phẩm của quá trình vận
động của văn hóa tập đoàn. Tuy nhiên, để đạt được những đỉnh cao của
sự thành công đó, các tập đoàn phải mất nhiều thời gian và tiền bạc.
Chẳng hạn, để có nhãn hiệu Pepsi Cola nổi tiếng với màu xanh tươi trẻ,
Tập đoàn Pepsi phải chọn cách tiếp cận văn hóa phương Đông - sản xuất
loại đồ uống mang nhãn hiệu Pepsi Cola với biểu tượng thiếu âm và thiếu
dương (biểu tượng của những người theo Phật giáo) để đến với khách
hàng là những tín đồ của Phật giáo. Để bảo hộ cho biểu tượng này, Tập
đoàn phải chi tới 500 triệu USD và giá của nhãn hiệu Pepsi đã lên tới 55
tỷ USD. Đối thủ cạnh tranh của Pepsi Cola là Tập đoàn Coca Cola. Tập
đoàn này có nền văn hóa hùng mạnh và với những ưu thế về danh tiếng,
uy tín cũng như nghệ thuật kinh doanh đã chiến thắng Pepsi Cola trên
thương trường mặc dù đồ uống Coca Cola chỉ được xếp thứ 7 trong số 12
loại đồ uống hàng đầu của nước Mỹ về chất lượng và đồ uống này đã bị
người tiêu dùng châu Âu tẩy chay vào năm 1999.
- Văn hóa doanh nghiệp gia đình
Các doanh nghiệp gia đình được xem là một loại định chế độc đáo trong

- Số người dùng mạng Internet đã vượt ngưỡng 22 triệu.
- Hơn 50% dân số đang dùng điện thoại di động.
Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp. Các yếu
tố công nghệ thường biểu hiện như phương pháp sản xuất mới, kĩ thuật
mới, vật liệu mới, thiết bị sản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần
mềm ứng dụng...Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện
ứng dụng các thành tựu của công nghệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có
chất lượng cao hơn nhằm phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh
tranh. Tuy vậy, nó cũng mang lại cho doanh nghiệp nguy cơ tụt hậu, giảm
năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp không đổi mới công nghệ kịp thời.
Khoa học kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng to lớn tới sản xuất,
kinh doanh và cả sự tiêu thụ. Các phát minh mới, các tiến bộ của khoa
học kỹ thuật sẽ làm ra các sản phẩm mới, đồng thời làm này sinh các nhu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status