Nghiên cứu tổng hợp những giá trị nghệ thuật của đào tấn - Pdf 13

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HOÁ DÂN TỘC CÔNG TRÌNH

NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP
NHỮNG GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT
CỦA ĐÀO TẤN
Chủ nhiệm
GS HOÀNG CHƯƠNG
Nhóm nghiên cứu
NNC MỊCH QUANG
NNC NGUYỄN THẾ KHOA
GS-VS HỒ SĨ VỊNH
GS TRẦN NGHĨA
NNC VĂN SỬ
7443
10/7/2009

HÀ NỘI - 2008
1

2
2.2. Đặc điểm nhân vật 53
2.3. Đặc điểm ngôn ngữ 57
2.4. Phơng pháp sáng tạo 66
2.5. Phong cách tuồng Đào Tấn 71
II.Kịch bản văn học tuồng Đào Tấn.
1. Kịch bản tuồng di sản nghệ thuật lớn nhất của Đào Tấn. 80
2. Niên biểu sáng tác và giai đoạn đỉnh cao
trong sự nghiệp sáng tác tuồng của Đào Tấn. 82
3. Điểm qua các vở tuồng tiêu biểu của Đào Tấn
3.1. Tân Dã đồn 94
3.2. Cổ thành 96
3.3. Trầm hơng các 99
3.4. Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan 103
3,5. Diễn võ đình 106
3. 6. Hộ sanh đàn 109
4. Những giá trị nổi bật của kịch bản tuồng Đào Tấn
4.1. Khúc tráng ca của ngời anh hùng thời nớc mất nhà tan 116
4.2. Những cách tân biên kịch lớn 125
III.Thơ, từ, câu đối Đào Tấn
1. Nguồn t liệu và giám định t liệu 132
2. Thi d hay mối liên hệ gia từ và thơ 142
3. Nhân sinh quan Đào Tấn qua thơ và từ
3.1. Thái độ với phong trào Cần vơng
143
3.2. Thái độ với phong trào Đông Du 146
3.3. Lễ hành tàng hay cách sống minh triết 149
4. Nghệ thuật thơ và từ Đào Tấn
4.1. Chỗ hữu hạn của ngôn từ hay khoảng trắng cần thiết 150
4.2. Thủ tợng và đàm huyền 152
4
PHẦN MỞ ĐẦU

I. Tính cấp thiết của đề tài:
Đào Tấn (1845-1907) là một tài năng lớn, toàn diện, “một nhân tài
nghệ thuật đặc biệt” (chữ dùng của nhà thơ Xuân Diệu) trong lịch sử văn
học nghệ thuật Việt Nam.
Từ hơn một thế kỷ nay, Đào Tấn đã được coi là “Hậu tổ” của nghệ
thuật tuồng với những đóng góp lớn lao và toàn diện cho bộ môn ngh

thuật sân khấu được coi là “quốc bảo” của nghệ thuật dân tộc từ sáng tác
và nhuận sắc kịch bản, dàn dựng vở diễn, sáng tạo âm nhạc và các kỹ
thuật diễn xuất, đưa nghệ thuật tuồng lên tới những đỉnh cao chói chói lọi.
Đào Tấn còn là một nhà thơ lớn, một nhà từ khúc vô song, một nhà lý luận
nghệ thuật kiệt xuất.
Đào Tấn đã
để lại cho dân tộc một di sản văn hoá phong phú, đồ sộ có
giá trị cao, có sức sống lâu bền với hơn 40 kịch bản, vở diễn tuồng, hơn
1000 bài thơ và từ,
một tập văn xuôi và một tập lý luận nghệ thuật.
Sự nghiệp của Đào Tấn được chú ý nghiên cứu từ khi dưới đường lối
văn hoá văn nghệ đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại,
nghệ thuật tuồng được phục hồi và phát huy tác dụng trong sự nghiệp bảo
vệ và xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Các v
ở tuồng bất hủ của ông
sống lại trên sàn diễn các đoàn nghệ thuật tuồng, một số bài viết về thân
thế và sự nghiệp nghệ thuật Đào Tấn bắt đầu được công bố từ những năm
1960 ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, từ khi đất nước thống nhất,

nh thiu tho ỏng, thm chớ sai lch.
Cho n nm 1963, trờn min Bc, Mch Quang vi tiu lun o
Tn nh son tung kit xut ng trờn tp chớ Nghiờn cu vn hc ln
u tiờn gii thiu tng i y v con ngi v s nghip ngh thu
t
ca o Tn, khi u vic nghiờn cu gii thiu danh nhõn vn húa ny.
Sau ú, Phm Phỳ Tit trong cụng trỡnh Hi thoi v ngh thut tung
ỏnh giỏ cao ti nng v s nghip sỏng tỏc ca o Tn. Nm 1973,
Hong Chõu Ký trong S kho lch s tung cng cú mt s trang vit v
o Tn.
Do hoàn cảnh đất nớc bị chia cắt, nguồn t liệu rất ít ỏi nên việc
nghiên cứu Đào Tấn trên miền Bắc chỉ dừng ở đó. ở miền Nam nhiều
công trình nghiên cứu văn hoá đã có những trang viết về Đào Tấn, nh

6
Danh nhân Bình Định của Bùi Văn Lăng, Nớc non Bình Định của
Quách Tấn, Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên, Nhân vật Bình
Định của Đặng Quý Địch
Mãi đến sau ngày miền Nam thống nhất, Bộ Văn hóa v tỉnh Nghĩa
Bình mới có điều kiện nghiên cứu sâu về Đào Tấn, nhất là sau Liên hoan
Tuồng Toàn quốc (tháng 7/ 1976), di sản nghệ thuật Đào Tấn ngày càng
tỏa sáng rực rỡ, thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của các văn nghệ sĩ, các nhà
nghiên cứu cả nớc. Cũng tại Liên hoan Tuồng Toàn quốc đầu tiên này,
các nghệ sĩ ba miền đất nớc đều đến thăm nhà Từ đờng Đào Tấn, viếng
mộ Đào Tấn trên núi Hoàng Mai, tởng niệm vị Hậu tổ của mình. Tiếp
theo là Hội thảo khoa học về Đào Tấn lần thứ I, đợc tổ chức vào giữa năm
1977 ở TP Quy Nhơn. Tại hội thảo (3 ngày đêm) nhiều vấn đề về con
ngời và sự nghiệp của Đào Tấn đợc nêu ra bàn cãi rất sôi nổi, không ít
vấn đề về nghệ thuật và t tởng của Đào Tấn còn bị nhận định sai lệch,
bởi t duy bảo thủ và xã hội hoá dung tục của một số nhà nghiên cứu.

ông quan thanh liêm, cơng trực, đợc ngời đơng thời ca ngợi là một vị
quan thanh, thận, cần, và một kẻ sĩ bất uy cờng ngự (nh lời phê
tặng của vua Tự Đức). Đào Tấn còn có mối quan hệ mật thiết với các chí sĩ
cách mạng trong phong trào Đông Du, nh mối quan hệ với Phan Bội
Châu, Cờng Để, Việt Nam Quang Phục hội, với các văn thân yêu nớc
chống Pháp xứ Nghệ và nhiều nơi khác trong nớc v.v.
Cũng tại Hội thảo Đào Tấn lần II, vấn đề Hý trờng tuỳ bút đợc đặt
ra khi có ý kiến của hai nhà nghiên cứu Huệ Chi và Hồ Ngọc cho rằng, cần
xét lại nội dung Hý trờng tuỳ bút về mặt văn bản học, trong đó có nhiều
chỗ nguỵ tạo từ sách Trung Quốc? Vì thế mà một Hội nghị giám định về
Hý trờng tuỳ bút gồm nhiều nhà nghiên cứu đợc tổ chức tại Viện Văn
học Việt Nam, do nhà thơ Hoàng Trung Thông, Viện trởng chủ trì. Tại
hội nghị giám định này, các giáo s, các nhà nghiên cứu tên tuổi đã bàn
luận, phân tích rất kỹ và đi tới kết luận: Nội dung cơ bản của tập Hý
trờng tuỳ bút là của Đào Tấn, còn những chỗ nào cha thật rõ, do ngời
ghi chép, trích dẫn cha chính xác thì nên bóc tách ra, hoặc tiếp tục giám

8
định làm rõ, không vì một số hạt sạn mà phủ định hoàn toàn tập sách
này. Cũng trong thời kỳ này, tập Th mục t liệu Đào Tấn đợc Sở Văn
hoá Thông tin Nghĩa Bình công bố.
Hội thảo về Đào Tấn lần thứ III do Viện Nghệ thuật Sân khấu, Bộ Văn
hoá Thông tin phối hợp với sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình tổ chức tại
Quy Nhơn vào tháng 8 năm 1988. Hội thảo này tập trung vào các vấn đề
về t tởng và tài năng nghệ thuật của Đào Tấn. Hội thảo đã đi đến thống
nhất: Đào Tấn là một ông quan yêu nớc thể hiện trong mối quan hệ của
ông với phong trào Cần vơng qua những hành động trong cuộc đời làm
quan và thể hiện qua tác phẩm văn, thơ, câu đối và rõ nhất là trong kịch
bản tuồng của ông. Cùng với những t liệu mới đợc su tầm về Đào Tấn
nh Th mục t liệu về Đào Tấn, Đào Tấn thơ và từ( NXB Văn học

Thông tin, Viện Sân khấu Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Bình Định và
Hội đồng hơng Bình Định tổ chức lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Đào
Tấn tại Nhà hát Lớn Hà Nội với sự có mặt của nhiều vị lãnh đạo của Đảng
và Nhà nớc. Tại lễ kỷ niệm này, nhạc sĩ Trần Hoàn Bộ trởng Văn hoá
Thông tin long trọng đọc diễn văn và đánh giá: Đào Tấn là danh nhân
văn hoá kiệt xuất của dân tộc Nhà hát Tuồng Bình Định chính thức đợc
mang tên Đào Tấn và UBND Thành phố Hà Nội quyết định đặt tên Đào
Tấn cho một con đờng ở trung tâm thủ đô. Khi còn giữ chức Bí th Đảng
đoàn Bộ Văn hoá, đồng chí Hà Huy Giáp từng đề nghị nên thành lập Viện
Đào Tấn. Cũng thời điểm này, Viện Sân khấu VN và Hội đồng hơng Bình
Định đề xuất với UBND tỉnh Bình Định và Bộ Văn hoá Thông tin cho
thành lập giải thởng Đào Tấn. Từ đó đến nay giải thởng Đào Tấn đã trao
cho nhiều văn nghệ sĩ, nhà khoa học trong và ngoài nớc, góp phần nâng
tầm danh nhân Đào Tấn.
Năm 2000, Viện Sân khấu đã phối hợp với Sở VHTT Bình Định tổ
chức Hội thảo lần thứ 4 về Đào Tấn với chủ đề Phong cách tuồng Đào
Tấn nhng do chuẩn bị cha tốt nên vấn đề lớn (phong cách nghệ thuật
Đào Tấn) cũng cha đ
ợc giải quyết làm sáng tỏ đợc tại hội thảo này.
Năm 2007, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Đào Tấn, Trung tâm
Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hoá Dân tộc đã phối hợp với UBND

10
tỉnh Bình Định tổ chức Hội thảo Đào Tấn-Con ngời và sự nghiệp. Một
lần nữa, con ngời và sự nghiệp danh nhân Đào Tấn đợc các nhà nghiên
cứu trong và ngoài nớc đợc nghiên cứu sâu sắc thêm trên nhiều bình
diện. Tại hội thảo này, nhiều ý kiến cho rằng, Đào Tấn không chỉ là danh
nhân văn hoá của dân tộc Việt Nam mà còn xứng đáng tôn vinh là danh
nhân văn hoá thế giới. Vì thế việc nghiên cứu về Đào Tấn còn phải tiếp
tục làm rộng hơn, sâu hơn, có bài bản hơn. GS-TS Nguyễn Thuyết Phong,

vn ny m tp trung ch yu lm rừ cỏc giỏ tr ngh thut ca o Tn
v vic k tha phỏt huy cỏc giỏ tr ny.

i tng nghiờn cu ch yu l cỏc tỏc phm ca o Tn: kch bn,
v din tung, th v t, lý lun ngh thut v cỏc cụng trỡnh nghiờn cu
ó cú v o Tn.
IV. Cỏc ngun t liu:
- Cỏc kch bn v v din tung truyn thng v hin i.
- Cỏc kch bn v v din tung o Tn.
- Cỏc t liu v
cuc i v hot ng ngh thut ca o Tn.
- Cỏc cụng trỡnh nghiờn cu v o Tn.
- Cỏc tỏc phm ngh thut núi v o Tn v cú liờn quan n cuc
i v sỏng to ngh thut ca o Tn.
V. Phng phỏp nghiờn cu:
Ch yu l phng phỏp phõn tớch, tng hp v h thng hoỏ, vn dng
cỏch tip cn vn hoỏ hc v phng phỏp so sỏnh liờn ngnh.
VI. Mc
ớch v úng gúp ca cụng trỡnh:
Mc ớch chớnh l tng hp, gii thiu mt cỏch ton din, cú h thng
cuc i, s nghip v cỏc giỏ tr ngh thut ni bt m danh nhõn vn hoỏ
o Tn úng gúp vo kho tng vn hoỏ ngh thut dõn tc cho cụng
chỳng rng rói t cỏc nh nghiờn cu, nhng ngi hot ng vn hoỏ
ngh thut n nhng ngi cú nhu cu tỡm hiu sõn khu v vn hoỏ
ngh
thut dõn tc.
VII. B cc ca cụng trỡnh:

12
Ngoi phn m u v kt lun, cụng trỡnh cú 3 chng chớnh sau:

Thân thế, sự nghiệp và thời đại Đào Tấn

Từ lâu, tên tuổi Đào Tấn đã thành niềm tự hào của những ngời hoạt
động văn hoá nghệ thuật và sân khấu Việt Nam. Cụ là nhà soạn tuồng và
ông thầy tuồng kiệt xuất, đợc coi là bậc hậu tổ tuồng. Đào Tấn còn là nhà
thơ, nhà từ khúc tài hoa, độc đáo và nhà lý luận nghệ thuật uyên thâm.

I. Tác phẩm của Đào Tấn:
1. Tác phẩm tuồng:
1.1. Tác phẩm sáng tác:
- Tân dã đồn
- Bình Địch
- Đãng khấu
- Tam bảo thái giám thủ bửu
- Vạn bửu trình tờng (108 hồi. tơng truyền Đào Tấn viết 48 hồi cuối
pho)
- Quần trân hiến thuỵ
- Tứ quốc lai vơng
- Diễn Võ đình
- Trầm hơng các
- Cổ Thành
- Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan
- Hộ sanh đàn
Có ngời nói: vở tuồng Hoa dung đạo cũng là tác phẩm của cụ.
Nhng trong gia phả họ Đào không thấy ghi điều này, không biết có đúng
vậy không?
Cũng có ngời nói: cụ còn viết pho tuồng Tống sử diễn ca gồm 7 vở,
viết tại Hoàng Mai các, tức nơi làm việc của cụ lúc đi tu ở chùa ông Núi,

14

Thời đại Đào tấn sống là một trong những giai đoạn đau thơng và
phức tạp nhất trong lịch sử dân tộc. Sau hơn nửa thế kỷ hoà bình thống
nhất, độc lập, thịnh vơng dới các triều vu Gia Long, Minh Mạng, Thiệu
Trị, Tự Đức, năm 1858, Phpá nổ súng tấn công Đà Nẵng và sau đó xâm
chiếm Sài Gòn, bắt đầu cuộc xâm lợc nớc ta. Năm 1862, vua Tự Đức ký
hiệp ớc nhờng ba tỉnh miền đông Nam bộ cho Pháp. Năm 1867, Pháp
chiếm nốt ba tỉnh miềnTây, tạo thành mọt Nam kỳ thợc Pháp ngay trên
đất nớc ta. Từ 1873 đến 1886, Pháp, chiếm nốt những phần còn lại của
đất nớc, tuyên bố bảo hộ Trung kỳ và Bắc kỳ, nơi họ tiếp tục duy trì triều
đình nhà Nguyễn. Đến năm 1887, Pháp hoàn tất quá trình xâm lợc Việt
Nam và đặt ra bộ máy cai trị hoàn chỉnh từ trung ớng đến địa phơng.
Nh vậy, sau gần 10 thế kỷ bảo về đợc nền độc lập, tự chủ của đất nớc
trớc sự nhòm ngó và tham vọng bành trớng của phong kiến phơng Bắc
láng giềng, đất nớc ta đã rơi vào tay thực dân xâm lợc đến từ phơng
Tây xa xôi. Sau khi vua Tự Đức mất, triều đình nhà Nguyễn rơi vào cảnh
hỗn loạn, trải qua một thời kỳ thờng đợc gọi là tứ nguyệt tam vơng
(bốn tháng ba vua) với các vua Dục Đức (ba ngày), vua Hiệp Hoà (bốn
tháng), vua Kiến Phúc (1 năm). Đến năm 1885, vua Hàm Nghi lên ngôi,
đã lam,f một cuộc binh biến chống Pháp ngay tại kinh thành nhng thất
bại, kéo ra lập kinh đô kháng chiến ở Tân Sở, Quảng Trị, ban hịch Cần
Vơng phát động công cuộc vũ trang chống Pháp trong cả nớc. Phong
trào ứngnghĩa Cần Vơng đã nổi lên mạnh mẽ với các cuộc khởi nghĩa của
Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Mai Xuân
Thởngnh
ng rồi tất cả đều bị dìm trong biển máu. Đồng Khánh lên
ngôi từ năm 1886 đến năm 1888 thì bị bệnh mất. Thành Thái kế vị từ năm
1889 đến năm 1907 thì bị Pháp buột thoái vị vì phát hiện đợc kế hoạch bí
mật phục quốc của ông.
Có thể thấy thời đại Đào Tấn sống có những đặc điểm nổi bật sau:
- Đó là giai đoạn các nhà sử học thờng gọi là điểm chuyển từ Nguyễn

quanh vùng Gò Bồi. Ngay khi ấy, Đào Tấn đã bộc lộ t chất thông minh và
chí khí hơn ngời. Đặc biệt, cậu bé Tấn rất yêu văn chơng và mê hát bội,

17
không bao giờ bỏ sót các đám hát diễn ra trong vùng và thờng rủ bạn bè
bắt chớc sắm tuồng khi vui chơi cùng nhau.
Đến năm 14 tuổi, Đào Tấn đã nổi tiếng là một thiếu niên học thông
nghĩa sách, gia đình cho ông đến theo học thầy Nguyễn Diêu (thờng gọi
là cụ tú tài Nhơn Ân) một nhà nho giỏ cả Hán văn và Pháp văn và là một
thầy tuồng tài ba, tác giả của các vở tuồng Ngũ Hổ, Liệu đố (chữa
bệnh ghen), Võ Tam T chém cáo, Nhạc Phi phá bi Do chịu ảnh
hởng của thầy học, năm 19 tuổi Đào Tấn viết vở tuồng đầu tay Tân dã
đồn (còn gọi là Từ Thứ quy Tào).
Năm 18 tuổi, Đào Tấn đã cho thấy một khí phách khác thờng khi làm
thơ và vẽ tranh hài hớc đem dán taih chợ Gò Bồi bài xích cờng hào, nhất
là nhằm vào Hơng thân thôn Tùng Giản. Theo tờng truyền khi ấy, vua
Tự Đức có ban bố thập điều và hơng ớc bắt dân học tập, Hơng thân là
chức lớn nhất của thôn chủ trì việc giảng dạy, Đào Tấn đã có thơ nhạo
báng việc này nh sau:
Thập điều là cái chi chi
Hàng đêm nói mãi ra gì mà nghe
Hơng thân giảng giải lè nhè
Bắt dân hội họp màn nghe thập điều
Vậy có thơ rằng:
Cả làng đều sợ một Hơng thân
Ông cũng ngời ta không phải thần
Ông giảng thập điều không phải gián
Khác ông Văn Trọng gián hôn quân
Gò Bồi dân chúng đã kêu vang
Hết việc quan gia đến việc làng

nhà Minh nói tới việc vua sai Trịnh Hoa đi bang giao với các nớc khác để
hợp sức chống ngoại xâm.
Chỉ ít lâu sau, trên thực tế, biến cố nớc nhà dồn dập, các ý đồ của Tự
Đức về đảng, bình, thủ đều thất bại. Giặc Pháp đã nuốt trọn Nam

19
kỳ, tiếp tục uy hiếp miền Bắc và dòm ngó miền Trung. Binh triều khắp nơi
tung cờ trắng trớc xâm lợc Pháp. Các cuộc nổi dậy chống ngoại xâm,
chống triều đình chủ hòa ngày một lan rộng.
Năm Tự Đức 27 (1874), Đào Tấn đợc thăng Biện tu, lãnh chức tri phủ
Quảng Trạch (Quảng Bình). Lúc này tiếng tăm Đào Tấn đã rất nổi, đợc
vua chú ý. Năm 1876, thăng Thừa chỉ nội các, đợc triệu lại về kinh. Năm
1878 (Tự Đức 31), ông đợc thăng Thị độc, phụng sắc viết các tuồng Tứ
quốc lai vơng, Quần trân hiến thuỵ và viết tiếp pho tuồng Vạn bửu
trình tờng (pho tuồng này tơng truyền gồm 108 hồi, do Diên Khánh
Vơng đã viết đợc 2 phần, Đào Tấn viết tiếp 48 hồi phần cuối cho đủ
pho). Năm Tự Đức 34, phụng sắc soạn mấy bài Nhạc chơng khúc điệu.
Lúc bấy giờ, Tự Đức rất mê hát bội nên nội cung có tổ chức chuyên về dạy
và tập nghệ nhân diễn tuồng gọi là đội võ can hay thanh binh và có
rạp hát Duyệt thị đờng chuyên diễn tuồng cho triều đình xem. Vua sắc
cho 3 ông Đào Tấn, Ngô Quý Đồng (Quảng Bình), Võ Đình Phơng (Bình
Định) cùng soạn thảo tuồng. Tuy vậy, kỳ thực chỉ có Đào Tấn là ngời
soạn tuồng chính.
Năm Tự Đức 34, Đào Tấn đợc thăng Hồng lô tự khanh và năm sau
(1882), đợc bổ nhiệm Phủ doãn Thừa Thiên lần thứ nhất. Thời kỳ này,
Đào Tấn đạt nhiều thành tích đợc triều đình tặng ba chữ thanh, thận,
cần (trong sạch, thận trọng, chuyên cần) và đợc vua Tự Đức phê tặng
bất úy cờng ngự (không sợ uy mạnh của vua). Không nhiều quan lại
trong triều có đợc vinh dự này. Lúc đứng đầu 6 huyện tỉnh Thừa Thiên,
Đào Tấn có cứu trợ nạn đắm thuyền cho hơn 400 ngời Hải Nam, đợc họ

Cho tới lúc này, trong lịch trình làm quan của Đào Tấn có điều rất lạ:
từ năm Tự Đức 24 đến năm Tự Đức 34, suốt 10 năm ròng, chỉ ở chức
thuộc viên, thuộc quan. Tuy vậy chỉ từ năm Tự Đức 35 (1882) và đặc biệt
là từ năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) khi đợc tái bổ quan đến năm Thành
Thái thứ nhất (1889), chỉ trong vài năm, ông đã đợc thăng quan vợt bậc,
nhận nhiều chức vụ quan trọng có thực quyền của triều đình. Nhiều ý kiến
cho rằng việc thăng quan này vì Đào Tấn là một mắt xích quan trọng của

21
phái chủ chiến, yêu nớc chống Pháp trong triều Nguyễn lúc bấy giờ đang
chiếm đợc quyền do Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tờng chủ xớng.
Thời kỳ này, Đào Tấn nhuận sắc tuồng Tam nữ đồ vơng, lấy tên là
Khuê các anh hùng, các tuồng Sơn hậu, Đào Phi Phụng và viết
Diễn Võ đình. Đào Tấn đã tập hợp các nghệ sĩ tuồng Bình Định ra Vinh
để vừa học nghề vừa trình diễn. Ông lập tại đây rạp hát Nh Thị quan
để diễn tuồng và Học bộ đình để dạy tuồng.
Năm Thành Thái thứ 6 (1894), Đào Tấn đợc triệu về kinh lãnh Thợng
th Bộ Công lần thứ nhất. Năm Thành Thái thứ 8 (1896) qua làm Thợng
th Bộ Binh và năm sau giữ chức Thợng thu Bộ Hình. Năm Thành Thái
thứ 11, Đào Tấn đợc thăng Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh Nam Ngãi Tổng
đốc. Tại đây, Đào Tấn đã có quan hệ mật thiết với các chí sĩ Ngũ Hành
Sơn, biệt đãi các thanh niên yêu nớc nh ấm Hàm, Trần Quý Cáp, Phan
Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. Một tài liệu của Cờng Để ghi rằng:
Cách đó vài tháng thì Việt Nam Quang Phục hội thành lập do ông Phan
cùng nhóm Nguyễn Hàm tổ chức theo kế hoạch đã bàn cùng bỉ nhân. Hội
đồng thành lập họp tại Nam Thành sơn trang tức là nhà Nguyễn Hàm ở
Quảng. Những ngời nhập hội đầu tiên là () Đào Tấn, () đều là những
ngời trong quan trờng có đầu óc trung quân ái quốc.
Cũng theo tài liệu này thì có lẽ đây là cuộc họp chuẩn bị cho phong trào
Đông du của một tổ chức chính trị tiền thân Việt Nam Quang Phục hội.

thiên tâm mạc trợ; Độc thử Tùng Mai khí tiết, nhất tử tinh thần quán đẩu
ngu!
(Theo tài liệu của cụ Lê Thớc)
(Tạm dịch:
- Anh hùng thành bại chớ bàn, lòng trung ấy, nghĩa lớn kia, thề chung
thủy trọn tình cùng chiến hữu. Anh linh Son Mực đạo sách đèn nên phải
trọng cơng thờng. Khá hận bấy! Ngôi nhà nghiêng đổ, một cây biết
chống làm sao! Cung lạnh khói tan, tiếng oán dậy rừng ai chẳng xót!
Huống đơng lúc rồng bay mây tối, lại thêm tráo trở việc ngời! Thơng
thay La Việt giang sơn, văn hiến trăm năm trơ chiến địa!

23
- Trời đất cổ kim còn mãi, núi ngất cao, sông chảy xiết, vũ trụ nầy là
của đấng trợng phu. Gió tuyết Lam Hồng, ngạo giá rét cũng hao mòn
tùng bách. Biết sao đây! Sóng cả dâng trào, cột đá giữa dòng khó vững.
Sao dời vật đổi, chạnh tình vờn cũ nghĩ càng đau! Lại gặp cơn gió thốc
nhạn lìa, trách bấy lòng trời chẳng giúp! Rõ thật Tùng Mai khí tiết, tinh
thần một thác sáng trăng sao!)
Tơng truyền thời làm Tổng đốc An Tĩnh, Đào Tấn rất đợc giới sĩ phu
xứ Nghệ cảm phục. Sự thông cảm bắt đầu từ câu đối đề trớc cửa Tiền,
thành Vinh. Từ khi thành Nghệ An đợc thực dân Pháp cho xây dựng theo
kiểu vô - băng xong, đôi khung câu đối ở đây để trống. Các thời tổng
đốc trớc không ai dám đề, vì e ngại Nghệ An là đất học vấn, đề câu đối
kém thì không khỏi bị d luận chê cời.
Nhận chức lần thứ nhất đựơc ít lâu, Đào Tấn cho đề ngay câu đối vào
cổng thành cửa Tiền:
Hồng sơn Lam giang nh tại tả hữu
Hoàng đồng bạch tẩu di nhiên vãng lai.
Tại sao câu đối ấy lại làm cho sĩ phu Nghệ An thông cảm và kính phục
Đào Tấn? Khi cung cấp cho chúng tôi câu đối này, cụ Nguyễn Đình Ngân,

thành Nghệ An. Ngày hôm ấy (14-7-1901) đã họp ở trong thành, nhng
cánh nội ứng sai hẹn, thành ra việc phải đình chỉ. Vì thế cơ mu bị tiết lộ
nên Nguyễn Điềm là mật thám của Pháp dò biết, mật báo với công sứ,
may lúc bấy giờ tổng đốc Nghệ An là Đào Tấn cho công việc của tôi làm
là phải nên hết sức che chở, vì thế tôi không bị bắt. Từ đấy tôi chuyên chú
về việc ngầm tìm nội ứng. Mùa thu năm Nhâm Dần (1902) tôi uỷ Tán
Quýnh và một số học trò của tôi đến Phồn Xơng, huyện Yến Thế, Bắc Kỳ
để yết kiến tớng quân Hoàng Hoa Thám, nhng Hoàng tớng quân thấy
đều là ngời lạ không tin, thành ra đi không lại trở về không.
Tháng 11 tôi muốn thân hành yết kiến ông. Lúc ấy chính phủ Pháp mở
hội khánh thành cầu sắt Nhị Hà (cầu Long Biên), tôi mới xin tổng đốc
Đào Tấn cấp cho một giấy thông hành để đi xem hội. Nhân dịp này tôi đi
khắp bắc Kỳ để tìm xem những đảng nhân khởi nghĩa trớc có còn sót lại
ngời nào không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status