NHÓM 1:
1. Nguyễn Việt Anh CQ530298
2. Nguyễn Văn Dũng CQ
3. Đinh Đức Hóa CQ
4. Lưu Thị Hường CQ531891
5. Lê Văn Kiểm CQ
6. Nguyễn Văn Lâm CQ521956
7. Vũ Thị Việt Linh CQ532297
8. Vũ Thùy Linh CQ532286
9. Bùi Thanh Mai CQ532436 (Nhóm trưởng)
10. Nguyễn Tuấn Tài CQ
11. Meng Li Hour CQ
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
Nội dung Thành viên
Thực trạng huy động vốn của các NHTM hiện nay Nguyễn Việt Anh
Nguyễn Văn Dũng
Vũ Thùy Linh
Giải pháp huy động vốn của các NHTM hiện nay Bùi Thanh Mai
Đinh Đức Hóa
Ví dụ cụ thể (ngân hàng Vietcombank) Vũ Thị Việt Linh
Nguyễn Tuấn Tài
Ví dụ củ thể (ngân hàng Maritimebank) Lê Văn Kiểm
Nguyễn Văn Lâm
Kĩ thuật Lưu Thị Hường
Meng Li Hour
I. Thực trạng huy động vốn của các NHTM
1. Tổng quan nghiệp vụ huy động vốn của các NHTM
Trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay, nhu cầu về vốn
luôn là vấn đề được ưu tiên hàng đầu trước khi bắt đầu một năm tài khóa mới. Đề
cập tới vấn đề này để cho thấy việc phát triển kinh tế xã hội, việc phát triển của các
doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn. Đặc biệt là các NHTM, một chế
gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được thống
đốc NHNN cho phép
- Vay từ NHNN và các tổ chức tín dụng
- Vay bằng các hình thức khác
2. Thực trạng huy động vốn của các NHTM
2.1. Tình hình huy động vốn chung
a) Năm 2012
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, huy động vốn của toàn hệ thống năm 2012
tăng khoảng 16%. Còn theo báo cáo tài chính của các ngân hàng lớn ( ngoại trừ ở
ngân hàng ACB sụt giảm do xảy ra “khủng hoảng” hồi quý 3) huy động vốn năm
2012 tăng khá mạnh, có ngân hàng đạt mức tăng trên dưới 100% so với năm 2011.
Dẫn đầu hệ thống là mức tăng huy động vốn tại ngân hàng SHB. Theo báo cáo hợp
nhất của nhà băng này, huy động vốn đã tăng 123% và đạt 77.598 tỷ đồng. Nguyên
nhân chủ yếu là do nguồn tiền gửi tăng mạnh sau khi hợp nhất với Habubank.
Đứng thứ hai là ngân hàng VPBank. Theo số liệu mà ngân hàng này công bố tại
buổi tổng kết hoạt động năm 2012, huy động vốn đã tăng tới 88% trong năm qua,
lên 60.000 tỷ đồng.
Sacombank cũng là ngân hàng có tốc độ tăng huy động cao, tới 43,5% và đạt
107.746 tỷ đồng.
Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) đạt tốc độ tăng trưởng huy động vốn 31,5%
trong khi tại Eximbank là 30%.
Nhiều ngân hàng khác cũng đạt mức tăng huy động vốn trên 20% như BIDV với
26%; Agribank 21,5%; Techcombank 25,7%; Vietcombank 25,3%. Ngân hàng
Vietinbank trong khi đó chỉ đạt mức tăng 12,1%.
b) Năm 2013
Theo số liệu của NH Nhà nước, tính đến cuối tháng 8-2013, huy động vốn của toàn
hệ thống NH tăng 9,5%/năm, trong khi dư nợ cho vay chỉ tăng 5,4%. Trong đó, dư
nợ cho vay của 4 NH: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ðầu tư và Phát triển,
Lãi suất huy động và cho vay USD trong tháng 8/2012 không thay đổi so với tháng
7/2012. Lãi suất huy động USD phổ biến 2%/năm đối với tiền gửi của dân cư và
0,5% - 1%/năm đối với tiền gửi của tổ chức kinh tế. Lãi suất cho vay USD ổn định
so với tuần trước phổ biến ở mức 5-7%/năm đối với ngắn hạn; 6-8%/năm đối với
trung và dài hạn.
Tuy nhiên, trong khi lãi suất đang khá ổn định hiện nay, lãi suất huy động đang
vượt trần trở lại.
2012 là năm đánh dấu lượng tiền gửi tiết kiệm tăng cao
Tăng trưởng huy động tiền gửi của 10 ngân hàng tốp đầu trong năm 2012
Về con số tuyệt đối trong huy động vốn, Agribank dẫn đầu hệ thống ngân hàng với
540.000 tỷ đồng của khách hàng gửi trong năm vừa qua. Đứng thứ hai là BIDV với
360.167 tỷ.
Vị trí thứ 3 và thứ 4 thuộc về Vietinbank và Vietcombank với lần lượt 288.271 tỷ
đồng và 284.514 tỷ đồng.
Trong số các ngân hàng lớn thì ACB chứng kiến luồng tiền rút ra khá mạnh sau sự
cố hồi tháng 8 (bắt một số nguyên lãnh đạo của ngân hàng). So với cuối năm 2011,
lượng tiền của khách hàng gửi tại ACB giảm 11,9%. Dù lượng tiền khách gửi giảm
song xét về tổng huy động vốn thì ACB lại đứng thứ 5 trong số các ngân hàng hút
khách gửi tiền nhất.
Ngân hàng Quân đội đã huy động được 117.747 tỷ đồng từ khách hàng trong năm
2012 trong khi Techcombank là 111.462 tỷ đồng và Sacombank là 107.746 tỷ
đồng.
Ngân hàng Eximbank lại nằm ở tốp dưới so với các ngân hàng khác về huy động
vốn khách hàng. Năm 2012, ngân hàng dự kiến sẽ hợp nhất với Sacombank trong
vòng 3-5 năm tới này chỉ huy động được 70.458 tỷ đồng.
Theo nhận định của các lãnh đạo ngân hàng, huy động vốn tại các ngân hàng đều
tăng từ mạnh đến rất mạnh. Nguyên nhân là do tiền gửi tiết kiệm được xem là kênh
đầu tư hiệu quả nhất trong bối cảnh thị trường chứng khoán sụt giảm, bất động sản
Để chứng minh cho các nhận định này, ta xét đến phản ứng tức thời của người dân
khi ngân hàng giảm lãi suất là hạn chế gửi tiền ngân hàng. Tuy nhiên, các phản
ứng này thường chỉ ngắn hạn và mang tính thời điểm.
Cụ thể: sau khi tốc độ tăng trưởng tiền gửi giảm ở một số thời điểm đầu năm 2012
khi các quyết định hạ trần lãi suất huy động được đưa ra, số lượng tiền gửi lại có
chiều hướng gia tăng trở lại khi lãi suất ổn định ở mức mới. Sau khi người gửi tiền
quen với việc lãi suất giảm, thì từ tháng 7/2012 đến tháng 12/2012, tốc độ tăng
trưởng tiền gửi từ mức 1,33% lên mức 6,25%; hay từ tháng 1/2013 đến tháng
3/2013, con số này tăng từ mức 0,85% lên mức 3,49%
Diễn biến này là do người gửi tiền thường có tâm lý phản ứng ngay lập tức với các
thông tin về lãi suất. Chẳng hạn rút tiền gửi ra hay nghe ngóng chưa gửi thêm
nữa… Nhưng sau một thời gian ngắn, người gửi tiền thích ứng và chấp nhận điều
kiện lãi suất mới nên họ lại có nhu cầu gửi tiền trở lại.
Một lý do quan trọng khác là nền kinh tế đang ở giai đoạn tăng trưởng chậm, các
kênh đầu tư khác như bất động sản, chứng khoán, vàng hoặc èo uột, bấp bênh hoặc
rất khó sinh lời như trước trong khi tiềm ẩn nhiều rủi ro nên người dân vẫn lựa
chọn gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng - một trong những cách đầu tư mang lại nhu
nhập ổn định và “đỡ đau đầu” nhất.
Hiện nay hệ thống đang dần ổn định
Với chính sách sử dụng trần lãi suất huy động đối với kỳ hạn ngắn (6 tháng trở
xuống) và lãi suất kỳ hạn trên 6 tháng do NHTM tự quyết định, tiền gửi đã được
dịch chuyển sang kỳ hạn dài hơn. Vòng quay vốn huy động thị trường 1 năm 2012
đã giảm từ 21,97 lần (năm 2011) xuống mức 19,16 lần. Điều này cho thấy kỳ hạn
tiền gửi năm 2012 dài hơn năm 2011 – đây là tín hiệu tích cực đối với thanh khoản
của hệ thống, đồng thời cho thấy cấu trúc tiền gửi đã biến động theo hướng ổn định
hơn. Khi nguồn vốn huy động ổn định và dài hạn hơn, cũng giúp các ngân hàng có
cơ sở để chủ động hơn trong sử dụng vốn.
Quan trọng hơn, việc hạ lãi suất liên tục nhưng với các bước đi nhỏ, linh hoạt và
phù hợp của NHNN, dù có tác động nhất định đến người gửi tiền nhưng không quá
mạnh khiến dòng tiền ra khỏi hệ thống. Theo NHNN, tính đến giữa tháng 9/2013,
Các giấy tờ có giá là các công cụ Nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên
thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nào đó.
Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường
cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành gồm kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền
gửi có mệnh giá
Có thể thấy với tính chuyên nghiệp cao với uy tín lớn trên thị trường tài chính và
các mối quan hệ rộng rãi của NHTMm hoạt động phát hành chứng khoán của các
NHTM có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp thông thường khác, bên cạnh đó
NHTM có thể tự đứng ra phát hành làm giảm chi phí huy động vốn. Do vậy, chứng
khoán của các NHTM phát hành dễ dàng được chấp nhận hơn so với các doanh
nghiệp khác
Về thực trạng phát hành huy động vốn của ngân hàng qua phát hành công cụ nợ
được thể hiện qua các sự kiện tiêu biểu của các năm như sau:
Những cổ phiếu ngân hàng tăng giá mạnh nhất nửa năm
Mã
CK
Sàn Giá đóng cửa ngày
28/12
Giá đóng cửa
ngày 1/7
Thay
đổi
SHB HOSE 5.900 6.800 15,25%
MBB HOSE 12.300 13.000 5,64%
VCB HOSE 26.200 27.400 4,47%
EIB HOSE 14.000 14.900 3,6%
ACB HNX 15.600 16.100 3,11%
STB HOSE 17.000 17.500 3%
CTG HOSE 20.700 19.500 -5,7%
công 2.030 tỷ đồng trái phiếu, với kỳ hạn 2 năm và 3 năm. Đây là loại trái phiếu
không có bảo đảm và không phải là nợ thứ cấp của tổ chức phát hành. BIDV cho
biết, số tiền thu được sẽ được ngân hàng sử dụng để bổ sung vào nguồn vốn trung
dài hạn, cơ cấu lại nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay các dự án trung dài
hạn và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Cũng theo BIDV, đợt phát hành đã thu hút sự quan tâm của thị trường, khối lượng
trái phiếu đặt mua của các nhà đầu tư cao hơn so với khối lượng trái phiếu dự kiến
chào bán ban đầu. Đây là giao dịch phát hành trái phiếu thành công đầu tiên của tổ
chức tín dụng từ năm 2011 và cũng là giao dịch phát hành trái phiếu doanh nghiệp
đạt khối lượng lớn nhất từ đầu năm 2012 đến nay.
Trước đó, BIDV đã mời các nhà thầu trong và ngoài nước có đủ điều kiện và khả
năng tham gia dự thầu để lựa chọn tổ chức tư vấn thu xếp phát hành trái phiếu
quốc tế BIDV. Được biết, BIDV cũng vừa thông báo lưu ký trên 2,3 tỷ cổ phiếu,
với mã chứng khoán BID.
Năm 2013
Các ngân hàng thương mại cũng đang gia nhập vào làn sóng huy động vốn trái
phiếu, nhằm tận dụng thị trường phát hành đang thuận lợi và chuẩn bị cho sự phục
hồi của tín dụng.
Từ đầu tháng này, cả hai ngân hàng VPBank và HDBank đều đã gửi tới nhà đầu tư
các tài liệu về trái phiếu do ngân hàng này phát hành, theo các nguồn tin liên quan
đến đợt phát hành. VPBank dự định phát hành trái phiếu kỳ hạn 3 năm, HDBank
dự kiến phát hành 1.500 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 2, 3 và 5 năm.
Hai đợt phát hành này đều phục vụ cho hoạt động cho vay trung và dài hạn của
ngân hàng. VPBank dự kiến sử dụng số tiền thu được từ việc bán trái phiếu để “gia
tăng nguồn vốn trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, cho vay
các dự án tín dụng trung dài hạn”, còn HDBank “tiếp tục mở rộng cho vay trung
dài hạn nhằm hỗ trợ khách hàng đầu tư phát triển kinh doanh”, theo tài liệu sơ bộ
của hai đợt phát hành.
Thực tế, cả hai ngân hàng VPBank và HDBank đến nay đều có vẻ không bị thiếu
hụt nguồn vốn trung và dài hạn. Tính đến cuối tháng 6/2013, tỷ lệ sử dụng nguồn
nay, việc thiếu vốn trung và dài hạn chưa được bộc lộ rõ, nhưng khi kinh tế hồi
phục trở lại, nguồn cung vốn trung dài hạn sẽ trở nên rất cần thiết”.
Đối với VPBank, ngân hàng này đã tăng nhẹ cho vay trung và dài hạn trong thời
gian gần đây. Năm 2012, Ngân hàng có 38% tổng dư nợ là cho vay trung và dài
hạn, cao hơn so với tỷ lệ 31% hồi năm 2011. Sáu tháng đầu năm 2013, tỷ trọng này
tăng tiếp lên 39%.
Ngược lại, HDBank hiện vẫn tập trung rất nhiều vào các khoản cho vay ngắn hạn.
Tỷ trọng cho vay trung dài hạn của năm 2012 đã tụt mạnh xuống chỉ còn 16,9% so
với tỷ trọng 27,3% năm 2011.
Bên cạnh những ngân hàng phát hành trái phiếu lãi suất thả nổi để tăng vốn trung
và dài hạn, có một vài ngân hàng khác đã hoặc đang phát hành trái phiếu lãi suất cố
định kỳ hạn 10 năm để tăng hệ số an toàn vốn (CAR). VPBank cũng đang phát
hành trái phiếu 10 năm, tương tự đợt của BIDV. Tuy nhiên, hệ số an toàn vốn hợp
nhất 6 tháng năm 2013 của ngân hàng này đã khá cao, đạt 11,4%
2.4. Thực trạng huy động vốn từ NHNN và các tổ chức tín dụng
Lãi suất liên ngân hàng
Thời gian trước, thị trường liên ngân hàng liên tục nổi sóng. Có thời điểm, lãi suất
trên thị trường liên ngân hàng lên đến 25-27%/năm. Sở dĩ như vậy là do, thời gian
qua, việc thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát của NHNN đã khiến một số ngân
hàng nhỏ gặp khó khăn về thanh khoản. Tuy nhiên, do bất lợi về thương hiệu,
mạng lưới, nên những ngân hàng này khó có thể cạnh tranh được với các ngân
hàng lớn trong việc huy động vốn, nhất là khi công cụ cạnh tranh hiệu quả nhất -
lãi suất đã bị phế bỏ do NHNN ấn định trần lãi suất huy động tối đa chỉ là
14%/năm. Việc vay vốn của NHNN trên thị trường mở (OMO) cũng khó phần do
các ngân hàng thiếu giấy tờ có giá để giao dịch; phần do NHNN cũng chủ trương
hạn chế lượng tiền cung ứng để kiềm chế lạm phát. Khó khăn về thanh khoản
khiến các NHTMCP nhỏ thường xuyên phải lên thị trường liên ngân hàng để vay
mượn, "ăn đong từng bữa".
Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu những NHTM lớn thông cảm, chia sẻ với các
NHTMCP nhỏ. Thế nhưng, nhiều ngân hàng dư vốn lợi dụng tình cảnh này, chém
Doanh số giao dịch
Trên thị trường này, có sự tham gia cảu các NHTW và trên 100 TCTD ( trong đó
NHTM chiếm trên 90%). Các TCTD xác định hạn mức tín dụng cho đối tác ( dựa
trên mức độ tín nhiệm, quy mô ). Các giao dịch cho vay, nhận gửi tiền trong
phạm vi hạn mức tín dụng thì không phải thế chấp, ngoài hạn mức thì phải có thế
chấp bằng GTCG hoặc kí quỹ.
Thời hạn cho vay, gửi tiền phổ biến là dưới 3 tháng, chủ yếu là dưois 1 tháng
( chiếm trên 80% tổng số doanh số giao dịch, giao dịch qua đêm khoảng 40-50%
tổng số giao dịch )Hình thức giao dịch chủ yếu là gửi và nhận tiền gửi (khoảng 80-90% tổng doanh số
giao dịch hàng tháng của các TCTD), mang tính mùa vụ cao, đặc biệt vào cuối
năm. Doanh số giao dịch bình quân tháng tang với tốc độ khá nhanh và ổn định
cho thấy một sự tăng trưởng khá ổn định của thị trường cho vay và nhận tiền gửi
liên ngân hàng, và rộng hơn là thị trường tiền tệ VIệt Nam. Có được điều này cũng
nhờ chính sách điều hành khá linh hoạt của NHNN
Trong giai đoạn 2009 – 2011, nhu cầu thanh khoản đã khiến lãi suất trên thị
trường LNH có lúc đã vọt lên 30% cho kỳ hạn 1 tháng. Để ngân hàng tránh bị thua
thiệt lãi suất tín dụng cho vay đói với nền kinh tế ( doanh nghiệp, cá nhân) cũng bị
đảy lên cao hơn. Các DN không thanh toán được làm phát sinh nợ xấu, vốn bị ứ
đọng trong các khoản nợ này làm phát sinh nhu cầu lớn về VKD, và dẫn đến một
cuộc chạy đua lãi suất trên TTLNH.
Trong điều kiện nền kinh tế khó khăn nhưng LS tiền gửi cao, nảy sinh nguy
cơ các TCTD cho nhâu vay để kiếm lời thay vì cung cấp vốn cho nền kinh tế. Do
đó thông tư 21/2012/TT-NHNN được ban hành, theo đó, cấm các TCTD gửi và
nhận tiền giữ của nhau trừ khi tiền đó phụ vụ mục đích thanh toán. Với quy định
này, thị trường liên ngân hàng ít nhiều bị ảnh hưởng khi hoạt đọng gửi tiền lẫn
nhau mang lại nhiều lợi ích cho các bên chính thức bị cấm cửa. Nhiều TCTD dư
thừa vốn cũng không thể sử dụng vốn để kinh doanh, trong khi một số TCTD yếu
xuống 7,5%/năm), lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên sẽ do các TCTD tự
ấn định trên cơ sở cung cầu vốn trên thị trường. Bên cạnh việc giảm trần lãi suất
huy động, trong 6 tháng đầu năm 2013, NHNN đã 2 lần điều chỉnh giảm lãi suất
cho vay ngắn hạn tối đa với một số lĩnh vực ưu tiên thông qua việc ban hành các
Thông tư số 09/2013/ TT-NHNN ngày 25/3/2013 và Thông tư số 10/2013/ TT-
NHNN ngày 10/5/2013.
Do tiền gửi của khách hàng tăng, nên các ngân hàng đã giảm dần sự phụ thuộc vào
thị trường liên ngân hàng
Tuy hoạt động của thị trường liên ngân hàng đã có sự sụt giảm mạnh từ năm 2012
đến nay, song các ngân hàng nhóm 2 vẫn chiếm hơn một nửa số dư của thị trường
này.
Điều đó có nghĩa là, cho dù vấn đề thanh khoản đã được giải quyết, nhưng các
ngân hàng thuộc nhóm này vẫn tiếp tục dựa vào nguồn vốn từ liên ngân hàng để tài
trợ cho các hoạt động cho vay.
Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ (có vốn điều lệ từ 3.500 tỷ đồng đến dưới 5.000
tỷ đồng) lại có tỷ lệ tiền gửi của khách hàng cao hơn 10% tổng tiền gửi của 33
ngân hàng được KPMG tiến hành khảo sát.
Tuy hoạt động của thị trường liên ngân hàng đã có sự sụt giảm mạnh từ năm 2012
đến nay, song các ngân hàng nhóm 2 vẫn chiếm hơn một nửa số dư của thị trường
này.
Điều đó có nghĩa là, cho dù vấn đề thanh khoản đã được giải quyết, nhưng các
ngân hàng thuộc nhóm này vẫn tiếp tục dựa vào nguồn vốn từ liên ngân hàng để tài
trợ cho các hoạt động cho vay.
Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ (có vốn điều lệ từ 3.500 tỷ đồng đến dưới 5.000
tỷ đồng) lại có tỷ lệ tiền gửi của khách hàng cao hơn 10% tổng tiền gửi của 33
ngân hàng được KPMG tiến hành khảo sát.
2.5. Huy động bằng các nguồn vốn nợ khác
Ngoài các nguồn trên, ngân hàng còn thực hiện vốn thông qua nguồn ủy thác,
Thêm và đó, do đặc thù nghiệp vụ ủy thác vừa mang tính chất của công cụ huy
động vốn và công cụ cho vay nên Thông tư phải đảm bảo mục tiêu quản lý chặt
chẽ hoạt động nhận uỷ thác và uỷ thác của TCTD, hạn chế và kiểm soát vi phạm
các quy định của pháp luật về giới hạn tăng trưởng tín dụng, huy động vốn, lãi
suất, quy định về hoạt động trên thị trường liên ngân hàng, cho vay đầu tư kinh
doanh chứng khoán cũng như các giới hạn đảm bảo an toàn khác.
Để thực hiện hoạt động ủy thác, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
cần phải tuân thủ các nguyên tắc, điều kiện tại dự thảo Thông tư nhằm đảm bảo
hoạt động ủy thác được thực hiện an toàn, hiệu quả và kiểm soát rủi ro.
Ngoài ra, các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành tiền
trong thanh toán ( séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C …) Các khoản
nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả … cũng góp phần làm tang nguồn huy
động trong công tác huy động vốn của NHTM. Hiện nay, hầu hết các công ty, tổ
chức, trường học, siêu thị, đều thực hiện thanh toán qua tài khoản ngân hàng hay
thanh toán trực tiếp bằng visa.
II. GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong bối cảnh hiện nay, các NHTM đang gặp không ít khó khăn trong việc huy
động vốn:
- Theo nhận định của một số chuyên gia thì có khoảng trên 90% tỷ trọng vốn của
ngân hàng hiện nay là nguồn vốn ngắn hạn, điều này gây khó khăn cho các ngân
hàng thương mại trong việc quản trị nguồn vốn, khó bảo đảm cân đối kỳ hạn. Kỳ
hạn huy động vốn bình quân có xu hướng rút ngắn trong khi kỳ hạn cho vay bình
quân dài, tạo nguy cơ rủi ro kỳ hạn và lãi suất. huy động vốn trung và dài hạn
không đủ để tài trợ cho các hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Điều này dẫn tới
việc các ngân hàng buộc phải chuyển một phần vốn ngắn hạn sang để đáp ứng cho
nhu cầu dài hạn. Tỷ trọng vốn trung và dài hạn quá thấp, mất cân đối trong tổng
nguồn vốn huy động. sự mất cân đối kỳ hạn vốn của ngân hàng hiện nay cũng là
một trong những nguyên nhân khiến nhiều ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu
phải chi tiêu nhiều hơn, dẫn đến nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư và doanh nghiệp
giảm đi, trong điều kiện đó, các Ngân hàng khó có thể gia tăng được nguồn tiền
huy động.
+Khi lạm phát tăng cao, mặc dù mặt bằng lãi suất huy động của các Ngân hàng
cũng đã tăng theo nhưng nếu vẫn chưa thể ngang bằng với tốc độ trượt giá, thì
người gửi tiền vào Ngân hàng phải chịu thiệt hại do lãi suất thực âm, từ đó không
khuyến khích các dòng vốn chảy vào Ngân hàng.
-Một khó khăn nữa đặt ra cho các NHTM trong nước đó là sự xâm nhập cảu các
ngân hàng nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu,
việc chúng ta mở cửa tạo điều kiện kinh doanh cho các ngân hàng nước ngòa là
điều tất yếu. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra thách thức cho các NHTM trong nước, khi
mà ngân hàng nước ngoài vốn rất nhanh nhạy trong việc đưa ra các loại hình dịnh
vụ, chiến lược truyền thông, quảng bá rầm rộ…Các ngân hàng trong nước khi ấy
đứng trước nguy cơ bị cạnh tranh về thị phần, dẫn đến nguồn vốn huy động càng
trở nên khó khăn hơn.
2. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CÁC HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN.
2.1. Áp dụng các hình thức huy động mới.
Để góp phần đáp ứng được nhu cầu về vốn tín dụng ngày càng cao của nền kinh tế
mở cửa, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, cần phải đa
dạng hoá các hình thức huy động vốn. Bên cạnh việc duy trì và nâng cao chất
lượng của các hình thức huy động vốn truyền thống, cần phải liên tục tìm kiếm và
đưa vào sử dụng các phương pháp huy động vốn mới nhằm hướng tới mọi đối
tượng khách hàng, thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu của họ.
- Hình thức gửi hẹn rút: Trong thực tế, có rất nhiều khách hàng không thể có kế
hoạch cụ thể cho các khoản tiền sẽ chi tiêu trong tương lai của mình. Nếu như họ
đem gửi không kỳ hạn thì sẽ rất thiệt thòi vì lãi suất không kỳ hạn là rất thấp, còn
nếu đem gửi có kỳ hạn xác định thì khoản tiền đó tuy được hưởng lãi suất cao hơn
nhưng lại mất đi tính chủ động về thời gian.
Từ thực tế trên, để có thể đáp ứng được nhu cầu của đối tượng khách hàng này,
Ngân hàng nên tìm ra một phương thức sao cho có thể tiện dụng cả hai bên, vừa
doanh. Chính vì vậy nó có tính cạnh tranh cao, ngân hàng nào có mức giải thưởng
nhiều thì dù lãi suất có thấp hơn một chút cũng có thể được khách hàng lựa chọn.
- Tiết kiệm vị thành niên: Mỗi năm nước ta tăng khoảng 1,5 triệu người và có
khoảng 10 triệu người ở tuổi vị thành niên, ở lứa tuổi này bản thân các em chưa có
thu nhập để gửi tiết kiệm, thay vào đó, các bậc phụ huynh chấp nhận gửi tiền cho
con mình với mục đích để dành cho việc học hành và tìm việc làm sau này,
….Trong xã hội hiện nay, cùng với sự tiến lên của nền kinh tế, thu nhập của từng
người dân dần dần được tăng lên thì quả thật đối với các ngân hàng, đây là một thị
trường rất tiềm năng.Với hình thức này, đòi hỏi ngân hàng phải có lực lượng cán
bộ đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng để dễ dàng xâm nhập được thị trường.
- Tiết kiệm nhân thọ: người có tuổi thường lo cho bản thân, lo cho con cái về cuộc
sống hàng ngày, về những rủi ro bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong lúc tuổi
già,… chính vì vậy họ thường có nhu cầu tích luỹ một phần thu nhập của mình
nhằm đáp ứng các nhu cầu của chính họ khi già yếu.
- Tiết kiệm gửi một nơi, rút nhiều nơi: Ngày nay, cùng với vòng quay đến chóng
mặt của cuộc sống thường nhật, đặc biệt là trong quá trình kinh doanh, các doanh
nghiệp cũng như các cá nhân đều muốn thuận lợi trong quá trình sử dụng số tiền
mà mình đã gửi ngân hàng, chính vì vậy họ luôn mong muốn bất kỳ thời điểm nào
mà mình có nhu cầu thì đều được đáp ứng đầy đủ. Các khách hàng sẽ yêu cầu một
loại hình dịch vụ mà họ có thể rút tiền tại bất kỳ chi nhánh nào của hệ thống ngân
hàng mà không nhất thiết là tại nơi họ đã gửi tiền. Để làm được điều này, ngân
hàng cần phải trang bị hệ thống công nghệ thông tin thật hiện đại, đồng nhất cả về
thiết bị và con người, phải có phần mềm quản trị đảm bảo tính chính xác, an toàn
và tiện lợi. Đội ngũ nhân viên phải có trình độ cao, đồng đều.
- Tiết kiệm xây dựng nhà ở: Hình thức này hiện nay đã có nhưng chưa phát triển ở
nước ta, đây cũng là một thị trường tiềm năng, cần được đẩy mạnh hơn nữa nhằm
phát huy tác dụng hỗ trợ đời sống của nhân dân. Việc này được thực hiện theo cách
ngân hàng có thể tiến hành các hoạt động cho vay bổ sung cùng với số tiền mà
người dân đã gửi tiết kiệm tại ngân hàng để họ có đủ số tiền cần thiết để mua nhà
theo một mức lãi suất thoả thuận, điều kiện với các khách hàng đảm bảo được khả
Chính sách lãi suất của ngân hàng được xây dựng nhằm mục đích chính là:
- Huy động đủ vốn cho các mục đích sử dụng.
- Đảm bảo tính cạnh tranh của ngân hàng so với các ngân hàng khác trong
việc thu hút vốn và cho vay tín dụng.
- Đảm bảo được lợi nhuận kỳ vọng của khách hàng.
Chính sách lãi suất của ngân hàng tác động trực tiếp đến khối lượng vốn huy động
cũng như chi phí của khoản vốn đó. Đồng thời việc hoạch định chính sách lãi suất
cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài. Khi xây dựng các mức lãi
suất cho các loại hình huy động khác nhau, các kỳ hạn khác nhau ngân hàng luôn
cần phải xem xét đến các yếu tố đó.
- Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
- Chính sách lãi suất của các ngân hàng khác
- Tình hình tăng trưởng, biến động lạm phát, biến động tỷ giá.
- Các yếu tố tâm lý, thị hiếu của khách hàng.
Việc ấn định lãi suất của ngân hàng trước hết phải tuân thủ đầy đủ các qui định về
lãi suất của ngân hàng Nhà nước đưa ra cho các tổ chức tín dụng.Lãi suất cũng
phải tuân theo qui luật cung cầu về vốn trên thị trường. Lãi suất đầu ra quyết định
lãi suất đầu vào, thể hiện việc huy động vốn phải được thực hiện trên cơ sở sử
dụng vốn. Ngân hàng phải đưa ra một mức lãi suất cạnh tranh, hấp dẫn với khách
hàng, tạo được lợi thế so sánh đối với các NHTM khác. Nếu lãi suất được thay đổi
tự do theo cung cầu thị trường thì sự cạnh tranh này cũng không nên hiểu là mức
lãi suất cao hơn mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố có liên quan: hình thức trả
lãi linh hoạt, phương thức xử lý đối với số tiền lãi chưa lĩnh, áp dụng lãi suất hợp
lý đối với các khoản rút trước hạn…. Bên cạnh đó thì ngân hàng cũng nên áp dụng
mức lãi suất khác nhau tại các vùng miền khác nhau trên cả nước.
Một yếu tố rất quan trọng trong chính sách lãi suất của ngân hàng là phải đảm bảo
yếu tố thực dương của lãi suất, đảm bảo quyền lợi lâu dài của người gửi tiền.
Trong điều kiện kinh tế nước ta gần đây tuy đã có được những bước tăng trưởng
nhất định tuy nhiên người dân vẫn lo lắng về lạm phát, về sự mất giá của đồng
tiền. Vì vậy, để người dân có thể yên tâm gửi tiền, ngân hàng cần có sự đảm bảo về