Công nghiệp hoá-hiện đại hoá.Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện nay - Pdf 14

Tiểu luận Triết
LỜIGIỚITHIỆU
Nước ta đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ
sở vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa cao, quan
hệ sản xuất mới chưa hoàn thiện. Vì vậy, công nghiệp hoá - hiện đại hoá
(CNH-HĐH) là một xu hướng khách quan, phù hợp với xu thế của thời đại và
hoàn cảnh đất nước góp phần tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho Chủ Nghĩa
Xã Hội, hoàn thiện quan hệ sản xuất.
Do CNH-HĐH cóý nghĩa vô cùng to lớn với nước ta nên đã có rất
nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà kinh tế... và cả sinh viên nghiên cứu
vềđề tài này nhằm đưa ra giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH.
Trong số các công trình đó có không ít những công trình có tác dụng lớn đối
với quá trình CNH-HĐH ở nước ta.
Đối với tôi, được sinh ra và lớn lên đúng vào thời điểm đất nước bắt
đầu đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH, tôi mong đóng góp phần nào đó công
sức của mình vào sự nghiệp chung của đất nước. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài
“Công nghiệp hoá-hiện đại hoá.Thực trạng và giải pháp ở nước ta hiện
nay.”
Trong đề tài có sử dụng và tham khảo nhiều tài liệu và quan điểm của
các nhà nghiên cứu khác.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Ngọc Thông đã giúp đỡ em
hoàn thành đề tài này.
Hà Nội. ngày15 tháng 05 năm 2007
Sinh viên: Trần Thị Chúc
Trần Thị Chúc - Kiểm toán 48C
Tiểu luận Triết
GIỚITHIỆUĐỀTÀI
I.QUANNIỆMVỀ CNH-HĐH TRÊNTHẾGIỚIVÀỞ VIỆT NAM
Trên thế giới, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây Âu (ở
các nước Anh, Pháp, Đức...), ở Mỹ vàở Nhật .Khi đó, CNH được hiểu là quá
trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc .Nhưng do

CNH là tất yếu của các nước nhưng với mỗi nước mục tiêu và tính chất của
CNH lại khác. Ở nước ta, CNH nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ Nghĩa
Xã Hội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Thứ ba: CNH trong điều kiện kinh tế thị trường có sựđiều tiết của nhà
nước. Điều này làm cho CNH trong giai đoạn hiện nay khác với CNH trong
Trần Thị Chúc - Kiểm toán 48C
Tiểu luận Triết
giai đoạn đổi mới. Trong cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hoá tập trung-hành
chính, bao cấp, CNH được thực hiện theo kế hoạch, mệnh lệnh của nhà nước.
Trong cơ chế kinh tế hiện nay nhà nước vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình CNH. Nhưng CNH không xuất phát từ chủ quan nhà nước,
nóđòi hỏi phải vận dụng các quy luật khách quan mà trước hết là quy luật thị
trường.
Thứ tư: CNH-HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoá
nền kinh tế. Vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế
là tất yếu đối với nước ta hiện nay.
CNH trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở có thểđi nhanh nếu chúng
ta biết tận dụng, tranh thủđược thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ quốc tế.
Công nghiệp hoá trong điều kiện”chiến lựơc” kinh tế mở cũng gây ra không ít
những trở ngại do những tác dụng tiêu cực của nền kinh tế thế giới, do trật tự
của nền kinh tế thế giới mà các nước tư bản phát triển thiết lập không có lợi
cho các nước nghèo, lạc hậu.Vì thế, CNH-HĐH phải đảm bảo xây dựng nền
kinh tế nước ta là một nền kinh tếđộc lập.
II.ÝNGHĨACỦAĐỀTÀI.
1.ÝNGHĨATRỰCTIẾPCỦAĐỀTÀI
Đối với quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam, đề tài có rất nhiều ý nghĩa và
tác dụng to lớn .Trong đó, một sốý nghĩa nổi bật của đề tài là:
Thứ nhất: đề tài đã phân tích đánh giá chính xác thực trạng xây dựng
CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay. Đó là những đánh giá, phân tích về tiền đề
thực hiện CNH-HĐH ở nước ta, kết quả thành tựu cũng như những mặt hạn

nghiệp lạc hậu, bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư sống ở nông thôn có
mức thu nhập thấp, sức mua hạn chế. Vì vậy, quá trình CNH là quá trình tạo
điều kiện vật chất kĩ thuật cần thiết về con người và về khoa học công nghệ
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả
mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế
tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống văn hoá cho nhân dân, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Quá trình CNH tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng
sản xuất nhờđó nâng cao vai trò của người lao động-nhân tố trung tâm trong
nền kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa. Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá
mang lại là cơ sởđể củng cố khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công
nhân, nông dân vàđội ngũ trí thưc trong sự nghiệp cách mạng Xã Hội Chủ
Nghĩa. Đặc biệt là góp phần tăng cường quyền lực sức mạnh và hiệu quả của
bộ máy quản lí kinh tế của nhà nước.
Sự nghiệp CNH tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tếđộc lập,
tự chủ vững mạnh trên cơ sởđó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác
quốc tế.
Sự nghiệp CNH đất nước thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát
triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên
canh tập trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống
nhất cao hơn.
CNH không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát
triển cao mà còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hoá
nền quốc phòng và an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hoá kinh tế
xã hội.
Trần Thị Chúc - Kiểm toán 48C
Tiểu luận Triết
NỘIDUNG

yếu, mối liên hệ về bản chất, mối liên hệ tất nhiên... là các mối liên hệ giữ vai
trò quyết định. Song, tuỳ vào điều kiện cụ thể, hoàn cảnh cụ thể các mối liên
hệ tương ứng với chúng có thể giữ vai trò quyết định.
- Nguyên lí về sự phát triển:
Khác với các quan niệm trước đây, triết học theo quan điểm duy vật
biện chứng đãđưa ra quan điểm đúng nhất về sự phát triển: “phát triển là một
phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp tới cao,
từđơn giản tới phức tạp, từ kém hoàn thiện tới hoàn thiện hơn”.
Sự phát triển có những đặc trưng sau:
Trần Thị Chúc - Kiểm toán 48C
Tiểu luận Triết
Thứ nhất: phát triển không chỉ là sự biến đổi về lượng mà trên cơ sở
những biến đổi về lượng để thực hiện những biến đổi về chất ở trình độ cao
hơn.
Thứ hai: phát triển còn là những biến đổi làm thay đổi cấu trúc, cơ chế
hoạt động, phương thức tồn tại, chức năng vốn có của sự vật, hiện tượng theo
chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn.
Như vậy, sự phát triển là trong đó có sự vật mới ra đời thay thế cho sự
vật cũ, là quá trình không ngừng trong tự nhiên và trong xã hội, trong bản
thân con người, trong tư duy... Nếu xét từng trường hợp cụ thể thì có cả vận
động đi lên và vận động đi xuống, vận động tuần hoàn. Nhưng xét cả quá
trình vận động với thời gian dài và không gian rộng thì vận động đi lên là xu
hướng chung của mọi sự vật.
Các tính chất của sự phát triển:
Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Do nguồn gốc của sự
phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục
những mâu thuẫn phát sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật. Nhờđó mà
sự vật phát triển. Vì vậy, sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ
thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngươi dù con người có muốn hay không.
Sự phát triển bao giờ cũng mang tính phổ biến. Vì sự phát triển xảy ra

đem lại hiệu quả cao. Vì vậy, để có thểđưa ra các giải pháp phù hợp với
CNH-HĐH ở Việt Nam thì chúng ta phải phân biệt được tất cả các mối liên
hệ giữa các yếu tố với CNH-HĐH.
Trong thực tế theo quan điểm này khi tác động vào sự vật, ta phải chúý
tới những mối liên hệ của nó với sự vật khác. Phải biết sử dụng đồng bộ các
biên pháp, phương tiện khác nhau đểđem lại hiệu quả cao nhất. Vì vậy, khi
thực hiện CNH-HĐH ta phải sử dụng nhiều biện pháp, giải pháp cùng một lúc
để giải quyết một vấn đề.
Để quá trình CNH-HĐH ở nước ta thu được nhiều kết quả thì chúng ta
phải sử dụng quan điểm toàn diện.
+Quan điểm phát triển
Mọi sự vật đều nằm trong quá trình vận động và phát triển nên trong
hoạt động thực tiễn và nhận thức ta phải có quan điểm phát triển để vạch ra xu
hướng biến đổi, chuyển hoá của chúng.
Theo quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta không chỉ nắm bắt được cái
đang tồn tại ở sự vật mà còn thấy được khuynh hướng phát triển trong tương
lai của chúng, phải thấy rõ những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi đi
xuống. Song điều quan trọng là phải khái quát được những biến đổi để vạch
ra khuynh hướng biến đổi của sự vật. Vì vậy, ta phải thấy rõ xu hướng vận
động, phát triển, của quá trình CNH-HĐH ở nước ta trong tương lai và cả
những cái đang tồn tại.
Xem xét sự vật theo quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải phân chia quá
trình phát triển của sự vật thành những giai đoạn. Trên cơ sởđó tìm ra phương
pháp nhận thức và tác động phù hợp thúc đẩy sự vật phát triển nhanh hơn
hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật. Tuỳ theo sự phát triển đó có lợi hay có
hại. Vì vậy, khi xây dựng CNH-HĐH ta phải chia thành những giai đoạn và
trong mỗi giai đoạn ta thực hiện các biện pháp, phương pháp để giải quyết các
vấn đề sao cho hiệu quả nhất.
Để thực hiện sự phát triển trên thì trên cơ sở tích luỹ dần về lượng rồi
tiến tới sự biến đổi về chất. Đối với sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta cũng phải

thuật cho chính Chủ Nghĩa Tư Bản vàđã thu được nhiều thành công. Đó là lực
lượng sản xuất phát triển cao, trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến, năng suất
lao động cao.
Do Chủ Nghĩa Xã Hội có phương thức sản xuất tiên tiến hiện đại dựa
trên trình độ khoa học kĩ thuật của lực lượng sản xuất phát triển cao. Vì nước
ta đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiêp lạc hậu nên nước ta phải
xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội. Trong đó, nền nông
nghiệp và công nghiệp hiện đại, khoa học công nghệ phát triển cao. Muốn
thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng đó chúng ta phải tiến hành CNH
tức là chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu sang nền công nghiệp hiện
đại.
+CNH-HĐH là quá trình tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền kinh tế
quốc dân Xã hội chủ nghĩa
Xã Hội Chủ Nghĩa muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có một nền
kinh tế tăng trưởng, phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chếđộ công hữu về tư liệu sản xuất. Cơ sở vật chất kĩ thuật của Chủ nghĩa xã
hội cần phải xây dựng trên cơ sở thành tựu mới nhất, tiên tiến nhất của khoa
học và công nghệ. Cơ sở kĩ thuật đó phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
CNH-HĐH chính là quá trình tạo ra nền tảng cơ sở cho nền kinh tế quốc dân.
+ CNH-HĐH là lựa chọn phù hợp với nước ta hiện nay
Việt Nam đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
cơ sở vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất chưa phát triển,
quan hệ sản xuất Xã Hội Chủ Nghĩa mới được thiết lập chưa được hoàn thiện.
Trần Thị Chúc - Kiểm toán 48C
Tiểu luận Triết
Vì vây, quá trình CNH-HĐH sẽ xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc
dân. Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá là một bước tăng cường cơ
sở vật chất cho Chủ Nghĩa Xã Hội, làm phát triển mạnh lực lượng sản xuất,
góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất Xã Hôi Chủ Nghĩa.
+ CNH-HĐH ở Việt Nam hiện nay phù hợp với xu hướng thời đại

vật nuôi, cây ăn quả, cây công nghiệp ... Thứ hai,đối với công nghiệp nhẹ Bác
từng nói:” Mọi chính sách của Đảng và nhà nước ta đều nhằm xây dựng chủ
nghĩa xã hội và cải thiện đời sống cho nhân dân. Ngành công nghiệp nhẹ quan
hệ khăng khít với đời sống hằng ngày của nhândân. Vì vậy nhiệm vụ của
ngành là rất quan trọng.” Từ quan điểm đó Bác luôn quan tâm tới phát triển
công nghiệp nhẹ. Thứ ba, đối với ngành công nghiệp nặng Bác luôn đặt ra yêu
cầu phải xây dựng ngành sao cho phù hợp với đất nước và phải thực hiện
được yêu cầu đãđề ra. Thứ tư, Bác rất quan tâm tới thương nghiệp và thủ công
Trần Thị Chúc - Kiểm toán 48C
Tiểu luận Triết
nghiệp. Bác từng nói:” mối quan hệ giữa công – nông- thương nghiệp sẽ tạo
nên cái chân bền vững của nền kinh tế”.
Trong cơ chế quản lí Bác luôn yêu cầu phải thường xuyên đổi mới cơ
chế quản lí cho phù hợp với nền kinh tế. Bác đặc biệt quan tâm tới hoạt động
của hệ thống ngân, tài chính, tiền tệđối với nền kinh tế.
Tư tưởng của Bác làánh sáng soi đường cho dân tộc ta đi từ thắng lợi
này sang thắng lợi khác.
- Tư tưởng của Đảng ta về tiến hành C NH-HĐH:
Đường lối, mục tiêu, tư tưởng phát triển kinh tế của Đảng:
+Đường lối kinh tế của Đảng ta làđẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng nền
kinh tếđộc lập tự chủ, đưa nước ta thành một nước công nghiệp tiên tiến, hiện
đại, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Phát huy cao độ nội lực đồng
thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủđộng hội nhập với nền kinh tế
khu vực và trên thế giới. Tăng trưởng kinh tếđi đôi với công bằng xã hội, cải
thiện đời sống cho người dân, cải thiện môi trường, phát triển an ninh, quốc
phòng.
+Mục tiêu phát triển kinh tế của nước ta từ 2001 dến 2010 làđưa nước
ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh
thần của người lao động tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành

đi nhanh vào một số ngành và lĩnh vực có công nghệ hiện đại . Phát triển
mạnh công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, da giày, cơ khí, điện tử , phần
mềm... Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng để
sản xuất tư liệu lao động. Khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên dầu khí,
khoáng sản, vật liệu xây dựng... Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Xây dựng một số tập đoàn doanh nghiệp đi đầu trong cạnh tranh. Phát
triển mạnh và nâng cao chất lượng ngành dịch vụ, thương mại, các loại hình
vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, ngân hàng, tài chính, kiểm toán... sớm
phổ cập sử dụng tin học và mạng thông tin quốc tế trong nền kinh tế và trong
đời sống xã hội.
Xây dựng đồng bộ và từng bước tiến hành hiện đại hoá hệ thống cơ sở
hạ tầng giao thông, điện lực, thông tin, cấp nước, thoát nước.
Phát triển mạng lưới đô thị phân phối hợp lí trên các vùng. HĐH dần
các thành phố lớn. Thúc đẩy quá trình đô thị hoáở nông thôn, không tập trung
quá nhiều khu công nghiệp và dân cưở các khu đô thị lớn. Khắc phục tình
trạng ùn tắc giao thông vàô nhiễm môi trường, tăng cường công tác quy
hoạch và quản líđô thị, nâng cao thẩm mĩ kiến trúc.
Về chiến lược phát triển các vùng, phát huy vai trò của các vùng kinh tế
trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ lớn. Đồng thời tạo điều kiện phát
triển các vùng khác trên cơ sở phát huy sức mạnh của từng vùng, liên kết với
các vùng trọng điểm tạo mức tăng trưởng khá. Quan tâm phát triển kinh tế xã
hội gắn liền với tăng cường quốc phòng an ninh ở vùng núi, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, biên giới hải đảo. Có chính sách hỗ trợ các vùng khó khăn để
có thể phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, xoáđói
giảm nghèo. Đưa các vùng kinh tế này vượt qua tình trạng kém phát triển.
Phát huy và phát triển vai trò chiến lược của kinh tế biển, kết hợp với bảo vệ
vùng biển. Mở rộng nuôi trồng vàđánh bắt, chế biến thuỷ sản tiến ra xa biển
khai thác chế biến dầu khí, phát triển công nghiệp đóng tàu và vận tải biển, du
lịch dịch vụ. Phát triển các vùng dân cư trên biển, giữ vững an ninh trên biển.
Từng bước hiện đại hoá công tác nghiên cứu dự báo khí tượng thuỷ văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status