BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ THƯƠNG MẠI MIỀN NÚI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
MÃ SỐ: 03.10.RD
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU TIỂU NGẠCH
HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM
SANG TRUNG QUỐC
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Văn Hội
1.3.4. Kinh nghiệm của Myanmar 34
1.3.5. Bài học rút ra cho Việt Nam 36
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TIỂU NGẠCH HÀNG HOÁ
CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC 38
2.1. CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ HỢP TÁC VIỆT - TRUNG 38
2.1.1. Chính sách thương mại biên giới của Việt Nam với Trung Quốc 38
2.1.2. Chính sách biên mậu của Trung Quốc vớ
i Việt Nam 41
2.1.3. Các cơ chế hợp tác thương mại biên giới Việt – Trung 47
2.2. KIM NGẠCH, MẶT HÀNG VÀ CHỦ THỂ THAM GIA XUẤT KHẨU TIỂU
NGẠCH HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC 51
2.2.1. Về kim ngạch và mặt hàng xuất khẩu tiểu ngạch 51
2.2.2. Về chủ thể tham gia kinh doanh xuất khẩu tiểu ngạch 56
2
2.3. CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ XUẤT KHẨU TIỂU NGẠCH TẠI KHU VỰC BIÊN
GIỚI VIỆT – TRUNG 57
2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TIỂU NGẠCH
HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC 63
2.4.1. Những thành tựu đạt được 63
2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân 65
2.4.3. Những vấn đề đặt ra cho việc đẩy mạnh xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá của
Việt Nam sang Trung Quốc 66
CH
ƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU TIỂU NGẠCH
HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC 69
3.1. TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TIỂU NGẠCH
HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG TRUNG QUỐC 69
3.1.1. Một số nhân tố tác động đến sự phát triển hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch
hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc trong thời gian tới 69
1. ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
2. ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
3. CHDCND Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
4. CHND Cộng hoà Nhân dân
5. CHXHCN Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
6. CIS Cộng đồng các quốc gia độc lập
7. C/O Giấy chứng nhận xuất xứ
8. Đvt Đơn vị tính
9. GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
10. GDP Tổng sản phẩm quốc nội
11. GMS Tiểu vùng Mêkông mở rộng
12. MFN Quy chế Tối huệ quốc
13. NDT (CNY) Nhân dân tệ
14. Nxb Nhà xuất bản
15. STT Số thứ tự
16. UBND Uỷ ban nhân dân
17. USD Đôla Mỹ
18. VAT Thuế giá trị gia tăng
19. VND Việt Nam đồng
20. WTO Tổ chức Thương mại thế giới 4
MỞ ĐẦU
Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới đất liền dài khoảng 1.400
km trải dài từ Đông sang Tây qua bảy tỉnh của Việt Nam bao gồm Quảng
Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và hai
tỉnh Vân Nam, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc. Hiện
nay, biên giới đất liền giữa hai nước có 21 cửa khẩu đã được hai bên công
nhận, trong đó có 5 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa kh
khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chiếm khoảng 8,59% tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam thì hàng Việt Nam chỉ chiếm chưa đầy 0,48% tổng
kim ngạch nhập khẩu của Trung Quốc. Điều đó cho thấy rằng, thị trường
Trung Quốc còn những tiềm năng to lớn cho cơ hội xuất khẩu hàng hoá của
Việt Nam nói chung và xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giớ
i đất liền
nói riêng.
Từ khi tiến hành cải cách và mở cửa với bên ngoài, chính sách “mục
lân, an lân, phú lân” luôn có một vị trí quan trọng trong quan hệ với các nước
láng giềng của Trung Quốc. Với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội các địa
5
phương khu vực biên giới, Trung Quốc đã thực thi chính sách biên mậu linh
hoạt, với những ưu đãi dành cho biên giới của Khu tự trị dân tộc Choang
Quảng Tây và tỉnh Vân Nam. Chính quyền Khu tự trị dân tộc Choang Quảng
Tây và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc lại có những áp dụng linh hoạt đối với
các châu, huyện, thị xã, thị trấn biên giới với Việt Nam, hoặc những điều kiện
thuận lợi dành cho các doanh nghiệ
p, các cá nhân, cư dân biên giới trong hoạt
động biên mậu với Việt Nam.
Với những chính sách tăng vốn đầu tư cho khu vực biên giới, các
chương trình dự án phát triển khó khăn cho các vùng dân tộc biên giới và nhất
là chính sách ưu đãi phát triển biên mậu và hợp tác khu vực biên giới của
Trung Quốc, Việt Nam đã và đang có nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh
xuất khẩu hàng hoá biên mậu sang Trung Quốc. Mặ
c dù vậy, trong những
năm qua, hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá của Việt Nam sang Trung
Quốc chưa được kết quả tương xứng. Việt Nam chưa có được chính sách hỗ
trợ thương nhân hay chính sách hỗ trợ mặt hàng cụ thể trong hoạt động xuất
khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc. Các thương nhân tham gia xuất khẩu hoạt
xu hướng chung của quan hệ thương mại Việt – Trung.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn thời gian: xem xét thực trạng hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch
hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc trong 5 năm qua (từ 2005 – 2009);
đối với chủ trương, chính sách của Việt Nam và Trung Quốc được nghiên cứu
từ quá trình hình thành và tiến triển.
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hóa của
Việt Nam qua biên giới đất liền sang Trung Quốc của các thương nhân và
quản lý Nhà nước đối với hoạt động này.
- Thương nhân tham gia xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá của Việt Nam
sang Trung Quốc bao gồm doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hộ
kinh doanh, thương lái, tư thương; đề tài không nghiên cứu (có nhắc đến) hoạt
động mua, bán, trao đổi hàng hoá phục vụ cho đời sống và sản xuất hàng ngày
của cư dân biên giới.
Phương pháp nghiên cứu:
- Khảo sát thực tế tại các cửa khẩu biên giới của các tỉnh Quảng Ninh,
Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên.
- Thu thập thông tin, tài liệu về các nghiên cứu có liên quan.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
- Phương pháp chuyên gia.
- Một số phương pháp khác.
Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá của Việt
Nam sang Trung Quốc.
Chương 2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá của
Việt Nam sang Trung Quốc.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu tiểu ngạch hàng
hoá của Việt Nam sang Trung Quốc.
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 115/HĐBT ngày
9/4/1992 về thuế xuất, thuế nhập tiểu ngạch biên giới. Việc phân biệt xuất
nhập khẩu tiểu ngạch với xuất nhập khẩu chính ngạch chủ yếu là nhằm ưu đãi
về thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch. Mặc dù v
ậy, quy định
về “xuất nhập khẩu tiểu ngạch” cũng chỉ được định chế trong pháp luật Việt
Nam cho đến cuối những năm 1990.
Ngày 8/8/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
143/1998/QĐ-TTg về việc sửa đổi chế độ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tiểu
ngạch. Theo đó, bãi bỏ chế độ thuế xuất khẩu, nhập kh
ẩu tiểu ngạch quy định
tại Quyết định số 115/HĐBT ngày 9/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ), áp dụng chế độ thuế hàng hoá xuất nhập khẩu chính ngạch đối
với hàng hoá xuất nhập khẩu tiểu ngạch để thống nhất chế độ thu thuế xuất
khẩu, nhập khẩu. Đồng thời, tại Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ đ
ã giao
Bộ Thương mại xây dựng và ban hành các quy định về xuất nhập khẩu và
buôn bán biên giới. Có thể nói, từ sau Quyết định số 143/1998/QĐ-TTg ngày
8/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 131/1998/TT-BTC ngày
01/10/1998, khái niệm xuất nhập khẩu tiểu ngạch không còn được quy định
trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam nữa.
Thay vào đó, Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thươ
ng mại về hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài đã quy định chung
là mua bán hàng hoá qua biên giới trên bộ. Như vậy, khái niệm “xuất nhập
8
khẩu tiểu ngạch” đã không còn trong các văn bản pháp lý của Việt Nam, mà
chỉ được nêu trong một số tài liệu nghiên cứu, báo cáo… Hiện nay, Việt Nam
ới (“cross-border trade” hay “border trade” hoặc “frontier trade”
hoặc “frontier traffic”). Hiện nay đa số các nước đều khái niệm và quy định
về “frontier traffic” (buôn bán biên giới) theo quy định tại Điều XXIV Hiệp
định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và tại Điều 25 Quy chế Tối
huệ quốc. Hiện nay, buôn bán biên giới đều được các nước hiểu như là sự lưu
chuyển của hàng hoá và dịch vụ qua biên giới đất liền giữa hai quốc gia trong
phạ
m vi địa lý nhất định (có nước quy định là 20 km, có nước quy định là 30
km, có nước lại áp dụng phạm vi huyện/xã biên giới…). Như vậy, buôn bán
biên giới không chỉ bó hẹp trong trao đổi hàng hoá mà còn cả các lĩnh vực
dịch vụ khu vực biên giới. Hầu hết các nước đều có quy định về tạo điều kiện
thuận lợi cho buôn bán biên giới nhằm thúc đẩy sản xuất, đời sống và thịnh
vượng củ
a cộng đồng cư dân khu vực biên giới, đồng thời tăng cường mối
quan hệ thương mại, thúc đẩy trao đổi văn hoá, tăng cường mối quan hệ hữu
nghị và hợp tác với các nước láng giềng.
9
Xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới đất liền là hoạt động
xuất nhập khẩu của những thương nhân kinh doanh vừa và nhỏ. Đặc điểm cơ
bản của hoạt động này là những lô hàng có quy mô vừa và nhỏ, dễ tiến hành,
tiến hành nhanh chóng, có tính linh hoạt cao, nghiệp vụ đơn giản, tiến hành
theo thói quen và tập quán kinh doanh của từng cửa khẩu, khi có tranh chấp
thương mại thường tự
giải quyết với nhau. Xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng
hoá qua biên giới đất liền là hình thức kinh doanh có tính đặc thù tại các khu
vực biên giới, chủ yếu do thương nhân và dân cư tại các khu vực biên giới
tiến hành, nhưng lại giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động thương mại qua
biên giới đất liền ở mọi quốc gia, làm tăng đáng kể kim ngạch xuất nhập
khẩu, thúc đẩ
mặt hàng hoá cụ thể hoặc những thương nhân cụ thể hoặc khu vực địa lý cụ
10
thể hoặc ưu đãi về điều kiện thông quan, tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp phép các
mức thuế và lệ phí.
Sự khác nhau cơ bản giữa xuất nhập khẩu tiểu ngạch và xuất nhập khẩu
chính ngạch hàng hoá qua biên giới là ở chỗ xuất nhập khẩu tiểu ngạch được
hưởng những cơ chế ưu đãi riêng nhằm tạo thuận lợi cho việc giao l
ưu, lưu
thông hàng hoá và dịch vụ qua biên giới của một hoặc hai nước có chung biên
giới. Những ưu đãi này bao gồm các điều kiện về tài chính, về thuế quan, về
thuận lợi lưu thông hàng hoá qua biên giới, về thủ tục hải quan, kiểm nghiệm,
kiểm dịch, kiểm tra xuất xứ hàng hoá… Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp rất
khó phân biệt đâu là lô hàng xuất khẩu tiểu ngạch và đâu là lô hàng xuất kh
ẩu
chính ngạch, có những lô hàng được thông quan xuất khẩu chính ngạch của
quốc gia này nhưng lại nhập khẩu tiểu ngạch vào quốc gia có chung biên giới.
và ngược lại.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hạ tầng giao
thông, vận tải, xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá không còn bó hẹp trong
phạm vi biên giới nữa. Các nước chỉ dành những ưu đãi cho doanh nghiệp
trong phạm vi khu vực biên giới v
ề thuế suất nhập khẩu hàng hoá, hạn ngạch
xuất khẩu hàng hoá, về các loại thuế và lệ phí khác cũng như chính sách ưu
đãi đầu tư. Còn doanh nghiệp cũng như hàng hoá tham gia vào hoạt động xuất
nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá ngày càng được mở rộng về địa bàn, đa dạng,
phong phú về nguồn gốc xuất xứ, chứ không bó hẹp trong phạm vi biên giới
nữa. Thí dụ, trong hoạt độ
ng xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá của Việt Nam
sang Trung Quốc có sự tham gia của tất cả các doanh nghiệp trong cả nước,
các hộ kinh doanh và cư dân các vùng dọc biên giới hai nước có chung đường
biên giới đất liền, đó là các hoạt động mua bán trao tay, thanh toán trực tiếp
bằng tiền mặt và thường không ký kết hợp đồ
ng.
1.1.2.2. Cơ cấu hàng hoá trao đổi trong hoạt động xuất nhập khẩu tiểu
ngạch biên giới thường có tính chất bổ sung cho nhau, phù hợp với trình độ
phát triển và lợi thế của mỗi nước
Trong hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới đất
liền, hàng hoá được trao đổi thường rất đa dạng về chủng loại và phẩm cấp.
Sự đa d
ạng về chủng loại và phẩm cấp hàng hoá chủ yếu xuất phát từ nhu cầu
tiêu dùng rất đa dạng của nhiều tầng lớp cư dân dọc biên giới và các khu vực
sâu trong nội địa của hai nước có chung biên giới. Mặt khác, do mục tiêu của
hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới là trao đổi các
loại hàng hoá có tính chất bổ sung ưu thế và hỗ trợ cho nhau nên cơ cấu hàng
hoá
được trao đổi tại thị trường khu vực biên giới là khá phong phú.
Các chủng loại hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường khu vực biên
giới trong hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới đất
liền không phải chỉ được huy động từ cư dân sống dọc biên giới hay các
doanh nghiệp thuộc các địa phương biên giới mà còn được huy động và đầu
tư sản xuất từ các vùng, miền của hai n
ước có chung biên giới và nước thứ ba.
Chất lượng và phẩm cấp hàng hoá được trao đổi ở mức độ cao hay thấp là sự
phản ánh của trình độ phát triển khoa học và công nghệ của mỗi doanh
nghiệp, mỗi địa phương của mỗi nước và mức tiêu dùng của các tầng lớp cư
dân hai nước có chung biên giới đất liền.
1.1.2.3. Hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới
đất liền được tiến hành thông qua nhiều phương thức khác nhau
Hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới đất liền
nước mua, bán hàng hoá phục vụ tiêu dùng và sản xuất dưới hình thức mua
bán, trao đổi dân gian.
Mặc dù vậy, khi một quốc gia áp dụng chính sách ưu đãi xuất nhập
khẩu tiểu ngạch hàng hóa thì chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp, hộ kinh
doanh, tư thương, thương lái và cư dân trong khu vực địa lý biên giới nhất
định. Các ưu đ
ãi xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hóa qua biên giới đất liền
thường nhằm thu hút các chủ thể đến tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh
tại những khu vực biên giới xa xôi với những điều kiện kinh tế - xã hội còn
gặp nhiều khó khăn. Với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội các vùng biên
giới khó khăn, các quốc gia thường thu hút, khuyến khích các thành phần kinh
tế đa dạng tham gia hoạt động xuấ
t nhập khẩu tiểu ngạch hàng hóa qua biên
giới đất liền.
1.1.2.5. Hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới
đất liền thường diễn ra với không gian rộng trên toàn tuyến biên giới, khó
quản lý và kiểm soát
Do địa hình khu vực biên giới trên bộ giữa hai nước phức tạp, thường
được phân chia bởi núi non và sông suối…, các phương thức mua, bán, giao
dịch diễn ra rất đa dạng nên hoạt động xuấ
t nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá
trên toàn tuyến biên giới đất liền rất khó quản lý và kiểm soát. Các hành vi
buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất
lượng, hàng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thường xuất hiện làm
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh trên toàn tuyến, ảnh hưởng đến việc chấp
hành pháp luật của mỗi nước và gây ô nhiễm môi trường biên giới.
13
Bên cạnh các cơ chế hợp tác song phương, chính quyền hai nước có
chung biên giới thường ban hành những chính sách, quy chế quản lý hoạt
ẩu
tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới đất liền giữa hai nước luôn có tiềm năng
phát triển lớn trong tiến trình phát triển hợp tác kinh tế - thương mại của mỗi
nước. Hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới đất liền
chính là những hoạt động giao lưu kinh tế - văn hoá – xã hội giữa hai nước,
thông qua đó mở ra nhiều cơ hội cho hàng hoá và doanh nghiệp của cả hai
nước có chung biên giới đất liền vươn tới thị trường các nước trong khu vực
cũng như các nước khác trên toàn thế giới.
1.1.3. Tính tất yếu khách quan của xuất nhập khẩu tiểu ngạch
Quan hệ láng giềng, quan hệ giao lưu văn hoá – xã hội, quan hệ kinh tế,
mua, bán, trao đổi hàng hoá đã trở thành quan hệ truyền thống và khá bền
vững giữa nhân dân hai nước có chung biên giới. Do gần gũi về địa lý và có
nhi
ều nét tương đồng trong phong tục tập quán, truyền thống, văn hoá, các
hoạt động giao lưu về kinh tế, thương mại và văn hoá được hình thành từ lâu
14
như một tất yếu khách quan không thể thiếu trong lịch sử phát triển của các
nước có chung biên giới mặc dù ở những giai đoạn phát triển khác nhau thì
mức độ và đặc điểm của chúng có những điểm khác nhau.
Bắt đầu từ nhu cầu tự nhiên về trao đổi hàng hóa của dân cư các khu
vực dọc biên giới tới các chợ biên giới, hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ng
ạch
hàng hoá qua biên giới dần dần phát triển thêm các hình thức trao đổi khác
trên cơ sở phát triển kinh tế hàng hóa. Như vậy, hoạt động xuất nhập khẩu
tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới là một trong những hình thức kinh tế đối
ngoại được hình thành sớm nhất, trở thành hình thức đặc thù của kinh tế đối
ngoại, tạo thành bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế - thương mại tại
khu vực biên giới với các nước láng giềng. Sự hình thành và phát triển của
hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới là hiện tượng tự
vực biên giới mang tính trao đổi trực tiếp trong các hoạt động trao đổi, mua
bán hàng hoá cũng như trong các hình thức hợp tác kinh tế - thương mại khác,
xuất phát từ sự tương đồng về điều kiện văn hóa, xã hội và tự nhiên, về ngôn
ngữ, tập quán, truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng và mối quan hệ mật thiết
truyền thống. Mặc dù có chính sách phát triển kinh tế - xã hội khác nhau phụ
15
thuộc vào chính sách kinh tế chung của mỗi quốc gia, cư dân biên giới hai
nước trên thực tế thường có mối quan hệ giao lưu lâu dài trong lịch sử. Tính
khác biệt về phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực biên giới các nước láng
giềng quyết định tính đa dạng và mô thức phát triển mang tính đặc thù của các
thị trường khu vực biên giới trên cơ sở phối hợp, bổ sung các lợi thế kinh tế -
thương mạ
i của địa phương khu vực biên giới hai nước.
Sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên
giới tạo điều kiện đưa kinh tế khu vực biên giới phát triển từ kinh tế tự nhiên
lên kinh tế hàng hoá, cho phép huy động, khai thác tối đa các yếu tố sản xuất
nhằm phát triển kinh tế - thương mại tại các địa phương vùng biên giới, trong
đó buôn bán qua cửa khẩu biên gi
ới với ưu thế không gian khu vực cần phải
đi trước một bước. Trước những yêu cầu qua lại biên giới khách quan của cư
dân biên giới giữa hai nước láng giềng với những mục đích của quan hệ họ
hàng hoặc gia đình như thăm viếng, hiếu, hỉ, các quốc gia có chung biên giới
đã có những thỏa thuận nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự
lưu chuyển
người, hàng hóa và phương tiện qua lại biên giới.
Phát triển hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới
là một trong những bước đi đầu tiên của quá trình tự do hoá thương mại khu
vực, tạo những cơ sở ban đầu cho quá trình tiếp cận lẫn nhau của các nền kinh
tế với các khu mậu dịch tự do phát triển dọc theo biên giới các nước. Sự thành
là một nội dung quan trọng của chính sách kinh tế quốc gia, kinh tế địa
phương của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong xu
hướng hợp tác và hội nhập, tự do hóa đầu tư và thương mại. Thương mại biên
giới có ảnh hưởng lớn tới quá trình này bởi tính nhạy cảm và ưu thế trong
giao lưu kinh tế
khu vực biên cương của mỗi quốc qia. Nó có thể là cửa mở
của nền kinh tế nhưng cũng có thể là tác nhân tạo ra sức ép trong cạnh tranh
khi thuế quan giảm, các điều kiện thông thương thuận lợi, hàng hóa giao lưu
qua các cửa khẩu biên giới với số lượng lớn.
Trong giai đoạn hiện nay, nội dung cơ bản của hợp tác thương mại biên
giới là buôn bán, đầu tư, phát triển nguồ
n nhân lực, du lịch, bảo vệ môi
trường và quản lý các nguồn lực thiên nhiên biên giới. Mối quan hệ giữa lợi
ích quốc gia, khu vực, tiểu khu vực gắn bó chặt chẽ với nhau trong mối quan
hệ nhiều tầng, nhiều chiều. Sự liên kết cùng phát triển trong các khu kinh tế -
thương mại cửa khẩu và sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các địa phương hai
bên biên giới, tạo điều kiệ
n phát triển. Hợp tác phát triển thương mại biên giới
bao gồm hợp tác về viễn thông, về du lịch, về đầu tư; hợp tác phát triển hạ
tầng cơ sở cho thương mại và đầu tư; hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân và đào
tạo nhân lực; phối hợp thực hiện chương trình bảo vệ môi trường bền vững
Nói tóm lại, do gần gũi về địa lý và có nhi
ều nét tương đồng, quan hệ
giao lưu, trao đổi văn hóa – xã hội và mua bán đã được hình thành từ lâu đời
và là một tất yếu khách quan không thể thiếu trong lịch sử phát triển của các
khu vực biên giới giữa hai quốc gia láng giềng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, những khu vực cửa khẩu biên giới trở
thành cầu nối hợp tác mọi mặt, đáp ứng yêu c
ầu hợp tác kinh tế - thương mại,
văn hóa – xã hội ngày càng sâu rộng giữa hai quốc gia láng giềng. Hoạt động
qua lại người, phương tiện, hàng hoá và rất nhiều lĩnh vực dịch vụ qua biên
giới. Có những vướng mắc trong hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng
hóa qua biên giới được giải quyết thuận lợi qua hợp tác thân thiện hai bên.
1.1.4.2. Xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá phát triển sẽ thúc đẩy
hoạt động kinh tế, thương mạ
i và dịch vụ qua biên giới giữa hai nước có
chung biên giới đất liền
Hoạt đông xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hóa qua biên giới đất liền
góp phần tăng cường quan hệ thương mại, đóng góp tích cực trong kim ngạch
thương mại giữa các nước láng giềng. Hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch
hàng hóa qua biên giới đất liền góp phần thúc đẩy sản xuất tại khu vự
c biên
giới, đồng thời khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ như dịch vụ kho
bãi, điều kiện bảo quản, dịch vụ thông quan, dịch vụ vận tải, bốc xếp, thu đổi
ngoại tệ… đến các dịch vụ bổ trợ như ăn uống, vui chơi, giải trí, y tế… Hoạt
động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hóa phát triển tạo điề
u kiện cho các địa
phương giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ vào nội địa nước láng
giềng, góp phần thu hút đầu tư vào những cửa khẩu lớn, từ đó hình thành nên
những khu hợp tác kinh tế vùng biên năng động.
Được hình thành và phát triển do nhu cầu phát triển sản xuất và tiêu
dùng giữa nhân dân các địa phương hai bên biên giới, hoạt động xuất nhập
khẩu tiểu ngạch hàng hoá giữa hai nước có chung biên giớ
i đất liền đã có từ
lâu đời và trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Tuy vậy, mục tiêu cơ
bản của hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới là đáp
ứng một cách có hiệu quả nhu cầu của cư dân và doanh nghiệp vùng biên giới
cũng như trong thị trường nội địa của hai nước. Thông qua hoạt động xuất
nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên gi
ới đất liền, các địa phương biên
hiện đại hoá và hội nhập của bất kỳ quốc gia nào. Thông qua hoạt động xuất
khẩu tiểu ngạch hàng hoá tại các cửa khẩu biên giới, có thể gián tiếp hoặc trực
tiếp mở rộng buôn bán củ
a một quốc gia với các quốc gia khác, đặc biệt là
những quốc gia có chung đường biên giới hoặc có quan hệ thương mại tốt với
nước có chung đường biên giới, từ đó có thể mở rộng hoạt động buôn bán của
một quốc gia với các nước trong khu vực và thế giới.
Phát triển hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá tại các cửa khẩu
biên giới góp phần tích cực trong việ
c phát triển hoạt động thương mại quốc
tế của nước đó, làm tăng kim ngạch xuất nhập khẩu. Với điều kiện kinh doanh
thuận lợi tại các cửa khẩu làm tăng đáng kể hiệu quả của hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu. Với tính linh hoạt, tính đa dạng của hoạt động xuất
khẩu tiểu ngạch hàng hoá tại các cửa kh
ẩu góp phần mở rộng thị trường quốc
tế, phát triển sản xuất trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ổn định và phát
triển kinh tế. Thực hiện xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá tại các cửa khẩu biên
giới, giúp doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn, nhạy bén hơn, buộc
các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới để thích nghi với điều kiện thị
trường ngày càng yêu cầu cao hơn và đòi hỏi khắt khe hơn trong tiến trình
phát triển của thương mại biên giới.
1.1.4.3. Hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hóa phát triển sẽ
góp phần bảo đảm ban ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội khu vực biên
giới giữa hai nước láng giềng
Thông qua hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá tại các cửa khẩu
để mở rộng và phát tri
ển tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, góp phần
thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại một nhà nước, góp phần bảo vệ an
ninh, quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ của chính quốc gia đó.
khu vực biên giới, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Cuối cùng, hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hóa qua biên giới
đất liền mang ý nghĩa đối với các dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa. Các
dân tộc thiểu số tham gia tích cực trong các hoạt động xuất nhập khẩu tiểu
ngạch hàng hóa qua biên giới, đó có thể là bán hàng trong các chợ biên giới,
tham gia vào dị
ch vụ bốc xếp, vận chuyển hàng hoá qua các cửa khẩu biên
giới. Nhiều thương nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hoặc
chủ các tiệm hàng hoá và chủ các cơ sở dịch vụ như ăn uống, cắt tóc, thu đổi
ngoại tệ, sửa chữa… tại khu vực biên giới là người dân tộc thiểu số.
1.1.5. Các phương thức kinh doanh trong hoạt động xuất khẩu ti
ểu
ngạch hàng hoá qua biên giới
Trong hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới
thường áp dụng các phương thức kinh doanh như sau:
1.1.5.1. Phương thức xuất nhập khẩu tiểu ngạch trực tiếp
Phương thức xuất nhập khẩu tiểu ngạch trực tiếp là phương thức kinh
doanh mà người nhập khẩu và xuất khẩu trực tiếp quan hệ với nhau (thường
20
tại khu vực cửa khẩu biên giới đất liền) để tiến hành thương lượng mua, bán
và trao đổi hàng hoá. Do người xuất khẩu và người nhập khẩu trực tiếp quan
hệ với nhau, cho nên dễ dàng đi đến thống nhất và làm cho thương vụ tiến
hành nhanh chóng hơn. Mặt khác, thực hiện xuất nhập khẩu tiểu ngạch trực
tiếp, tạo điều kiện cho thương nhân xuất khẩu và nhà nh
ập khẩu trực tiếp tiếp
xúc với thị trường, nắm bắt được những sự thay đổi của môi trường để có thể
đưa ra những quyết định kịp thời, đối ứng với những biến động của thị
trường, tạo cho họ những khả năng nắm bắt và phản ứng linh hoạt với thị
trường để phát triển hoạt
kiện để thương nhân mở rộng thị trường, mở rộng mặt hàng, đặc biệt có hiệu
quả khi xâm nh
ập vào những mặt hàng mới hoặc thị trường mới của nước có
chung biên giới; thứ hai, sử dụng được những kinh nghiệm và các cơ sở vật
chất của các trung gian tại khu vực biên giới, tạo điều kiện cho thương nhân
chiếm lĩnh thị trường bên kia biên giới nhanh, hạn chế được những rủi ro và
chi phí ban đầu; thứ ba, tối ưu hoá được quá trình vận chuyể
n, giao nhận hàng
hóa tại khu vực các cửa khẩu biên giới.
21
Nhưng mặt khác, sử dụng phương thức này có những hạn chế: thứ nhất,
người kinh doanh mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường, thiếu thông tin,
thông tin không chính xác, kịp thời của thị trường bên kia biên giới, ảnh
hưởng đến các quyết định kinh doanh của thương nhân; thứ hai, nhiều khi
không kiểm soát được các hoạt động của trung gian khu vực biên giới và lợi
nhuận bị
chia sẻ.
Phương thức mua bán qua trung gian được áp dụng phổ biến trong hoạt
động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch
hàng hoá qua biên giới đất liền nói riêng. Khi áp dụng phương thức này, các
nước thường có các chính sách khuyến khích phát triển cũng như biện pháp
kiểm soát các trung gian thương mại. Nhưng khi lựa chọn các trung gian
thương mại, các thương nhân thường không căn cứ vào các tiêu thức như khả
năng kinh doanh, khả năng tài chính, kinh nghiệm và uy tín của trung gian
trên thị trường mà là những mối quan hệ đã có trong buôn bán.
1.1.5.3. Phương thức kinh doanh tái xuất khẩu qua biên giới
Kinh doanh tái xuất khẩu qua biên giới là xuất khẩu tiểu ngạch trực tiếp
sang nước có chung biên giới những hàng hoá đã nhập khẩu vào trước đây
Phương thức kinh doanh đối lưu là phương thức kinh doanh mà xuất
khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua,
lượng hàng hoá trao đổi là tương đương nhau. Phương thức kinh doanh đối
lưu cho phép khắc phục được hiện tượng lệch cán cân thanh toán, và nếu có
biện pháp tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu. Hai quốc gia láng giề
ng
thường có những thỏa thuận khuyến khích các doanh nghiệp khu vực biên
giới hai bên thực hiện kinh doanh đối lưu, nhất là hình thức hàng đổi hàng tại
các cửa khẩu biên giới nhằm hạn chế sử dụng ngoại tệ trong thanh toán.
Điều kiện thuận lợi của các khu vực biên giới đất liền, trong đó có các
điều kiện về dịch vụ hỗ trợ cùng với chính sách ưu đãi củ
a các Chính phủ
hoặc chính quyền các địa phương biên giới sẽ khuyến khích các doanh nghiệp
thực hiện phương thức kinh doanh đối lưu trong hoạt động xuất nhập khẩu
tiểu ngạch hàng hóa. Các hình thức mua bán đối lưu thường sử dụng: một là,
hàng đổi hàng; hai là, mua đối lưu; ba là, hình thức bù trừ; bốn là, hình thức
mua lại sản phẩm; và năm là, giao dịch bồi hoàn.
1.1.5.5.
Phương thức gia công quốc tế
Phương thức gia công quốc tế là phương thức kinh doanh mà một bên
(gọi là bên nhận gia công) gia công nguyên liệu, bán thành phẩm, thiết bị máy
móc của một bên (gọi là bên đặt gia công) để tiến hành gia công thành sản
phẩm trả lại cho bên đặt gia công. Hoạt động gia công quốc tế trong xuất nhập
khẩu tiểu ngạch hàng hóa qua biên giới có thể là do người nhận gia công
trong khu vực biên giới làm gia công cho bên đặt gia công của địa phươ
ng
bên kia biên giới hoặc các địa phương khác của nước có chung biên giới.
Có hai hình thức gia công quốc tế cơ bản là: thứ nhất, hình thức nhận
nguyên liệu trả lại sản phẩm: người đặt gia công giao nguyên liệu cho bên
nhận gia công ở bên kia khu vực biên giới nhưng quyền sở hữu nguyên vật
, được tổ chức vào
một thời gian và địa điểm trong khu vực biên giới đất liền trong một thời gian
nhất định, tại đó người bán đem trưng bày hàng hoá và tiếp xúc với người
mua để ký kết hợp đồng mua bán. Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu thành
tựu của một nền kinh tế hoặc một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật –
thường là của các đị
a phương của hai nước có chung biên giới – thông qua đó
để trưng bày hàng hoá quảng cáo và xúc tiến bán hàng. Có nhiều hình thức
hội chợ, triển lãm biên giới như: hội chợ và triển lãm tổng hợp, hội chợ và
triển lãm chuyên ngành về hàng tiêu dùng, điện tử, nông sản, thực phẩm…
Hội chợ và triển lãm là nơi giới thiệu, quảng cáo và tiến hành giao dịch
ký kết các hợp đồng mua bán hàng hoá không chỉ giữa các thương nhân khu
vực biên giớ
i mà còn có thương nhân đến từ các địa phương khác của hai
quốc gia có chung biên giới cũng như thương nhân quốc tế. Hai nước có
chung biên giới thường có những thỏa thuận cho phép các địa phương hai bên
biên giới luân phiên định kỳ tổ chức hội chợ hoặc triển lãm thương mại biên
giới nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới nói chung và hoạt
động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hóa nói riêng. Hàng hóa c
ủa nước láng
giềng khi tham gia hội chợ hoặc triển lãm thương mại biên giới thường được
hưởng những chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu cũng như bán cho cư dân
biên giới và khách du lịch.
1.1.5.8. Phương thức kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu và
hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới.
Chợ biên giới, chợ cửa khẩu (gọi chung là chợ biên giớ
i) là những chợ
được lập ra trong khu vực biên giới đất liền hoặc tại các khu vực cửa khẩu
biên giới đất liền giữa các nước có chung biên giới. Chợ biên giới có thể do
một nước đơn phương thiết lập, nhưng thông thường do hai nước có chung
thông qua các chính sách, các biện pháp và các công cụ quản lý. Trong một
chừng mực nhất định, khi các cơ quan chức năng xây dựng một hệ thống các
chính sách kinh tế hoàn chỉnh phù hợp với các yêu cầu của các quy luật kinh
tế khách quan và đ
iều kiện thực tế về hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và
hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới đất liền nói riêng,
đồng thời áp dụng hữu hiệu các biện pháp, các công cụ quản lý kinh tế và mô
hình sẽ có tác động thúc đẩy hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá tại các
khu vực cửa khẩu biên giới.
Theo quy định của Tổ chức Thương mại th
ế giới (WTO), hoạt động
xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá hàm ý như một cơ chế thương mại đặc
biệt, một ngoại lệ không bị ràng buộc và được quy định rõ ràng trong các điều
khoản riêng rẽ của WTO. Điều XXIV Hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại (GATT) nêu rõ: “Các điều khoản của Hiệp định này sẽ không
được diễn giải nhằm ngă
n cản các ưu đãi mà một bên ký kết dành cho các
quốc gia láng giềng nhằm tạo thuận lợi cho buôn bán biên giới”. Trong Quy
chế Tối huệ quốc (MFN), “Điều 25 Điều khoản Tối huệ quốc về ưu đãi nhằm
tạo thuận lợi cho thương mại biên giới: quốc gia được hưởng mà không phải
là nước láng giềng thì không được hưởng những ưu đãi thuận lợi mà quốc gia
kia dành cho một nước láng giềng thứ ba để nhằm tạo thuận lợi cho buôn bán
biên giới.”
Điểm khác biệt là hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá cần
phải xem như một cơ chế dành “ưu đãi” với mục đích tạo thuận lợi cho việc