Nghiên cứu định hướng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả việt nam và hòan thiện cơ sở dữ liệu để phục vụ cho định hướng xuất khẩu các mặt hàng trên - Pdf 13



Bộ Công thơng
TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIệp và thơng mại
TI NGHIấN CU KHOA HC CP B
Tên đề tài: " Nghiờn cu nh hng xut khu cỏc mt hng rau,
hoa, qu Vit Nam v hon thin c s d liu phc v cho vic
nh hng xut khu cỏc mt hng trờn

Mã số: 07.10.RD/H-KHCN
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thơng mại
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thơng
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Tú Oanh
8332

Năm 2010 Mục lục

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM RAU
HOA QUẢ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2009
43
2.1 Thực trạng xuất nhập khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam giai
đoạn 2005-2009
43
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm
rau, hoa, quả Việt Nam
43
2.1.2 Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam 51
2.2 Thực trạng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam tới các thị
trường chính
54
2.2.1 Chính sách của Việt Nam đối với xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa quả 54 2.2.2 Xuất khẩu mặt hàng rau 56
2.2.3 Xuất khẩu mặt hàng hoa 58
2.2.4 Xuất khẩu mặt hàng quả 61
2.2.5 Đánh giá thực trạng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam 62
2.3 Thực trạng vấn đề cơ sở dữ liệu và vai trò của cơ sở dữ liệu các mặt hàng
rau, hoa, quả đối với xuất khẩu các mặt hàng này của Việt Nam
68
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG RAU
HOA QUẢ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015 VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP THỰC HIỆN
77
3.1 Dự báo thương mại các mặt hàng rau, hoa, quả thế giới giai đoạn 2010-
2015
77

Bảng 1.4. Nhập khẩu các sản phẩm quả (HS08) của các nước nhập khẩu
chủ yếu trên thế giới
19
Bảng 1.5: Các nước nhập khẩu hoa chính trên thế giới 20
Bảng 1.6. Nhập khẩu mặt hàng rau, quả chế biến HS20 22
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu rau, hoa, quả của Việt Nam qua các năm 37
Bảng 2.2: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 38
Bảng 2.3: Bảng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng rau, hoa, quả của Việt
Nam tới 1 số thị trường chính 2007-2009
39
Bảng 2.4: Kim ngạch nhập khẩu rau, hoa, quả của Việt Nam từ một
số thị trường chủ yếu
45
Bảng 2.5: Một số chủng loại rau, hoa quả được nhập khẩu nhiều từ
Trung Quốc năm 2009
46
Bảng 2.6: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau của Việt Nam sang các
thị trường chủ yếu
51
Bảng 2.7: Kim ngạch xuất khẩu hoa của Việt Nam từ 2005 – 2009 53
Bảng 2.8: Kim ngạch xuất khẩu các chủng loại hoa chính giải đoạn
2007-2010
54
Bảng 2.9: Thị trường xuất khẩu hoa chính của Việt Nam năm 2007-2010 55
Bảng 2.10: Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm quả của Việt Nam sang
các thị trường chủ yếu
56

Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi, 70% dân số làm nghề
nông và diện tích canh tác rau, quả khoảng 1.500.000 ha, Việt Nam có tiềm
năng lớn để phát triển sản xuất và xuất khẩu mặt hàng rau, quả, đặc biệt khi
xây dựng được một chiến lược phát triển ngành tầm quốc gia.
Kể từ năm 2007, Việt Nam đã tham gia thị trường quốc tế với tư cách
mộ
t thành viên đầy đủ của WTO, tập trung phát triển xuất khẩu đã trở thành
vấn đề cấp bách hàng đầu. Đối với ngành hàng rau, hoa, quả, Việt Nam được
đánh giá là một nước giàu tiềm năng về cây trái do khí hậu nóng ẩm, mưa
nhiều, các loại nông sản rất phong phú đa dạng, đồng thời rau, quả là ngành
trồng trọt quan trọng trong nông nghiệp Việt Nam từ bao đời nay. Vì vậy rau,
hoa, quả có thể trở thành mặt hàng xu
ất khẩu chủ lực nếu Việt Nam biết khai
thác lợi thế về điều kiện khí hậu, sinh thái đa dạng và nguồn lao động dồi dào.
Đẩy mạnh trồng rau, cây ăn quả trong những năm tới không những sẽ đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trong nước, giảm nhập khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu,
mang lại hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ USD cho đất nước. Không những
thế
, nằm ở vùng Đông - Nam Châu Á, chiều dài trên 15 vĩ độ, có hơn 3.000km
bờ biển và hệ thống giao thông đường bộ, đường biển, đường hàng không
thuận tiện, Việt Nam hội đủ lợi thế so với nhiều nước để đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa nói chung và xuất khẩu rau, quả nói riêng.
Một số mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nông dân hoặc hợp
tác xã với hộ nông dân đã dần xuấ
t hiện và có hiệu quả cao trong sản xuất mặt
hàng rau, hoa, quả. Trong mô hình này, doanh nghiệp và hợp tác xã là đầu mối
tổ chức xuất khẩu, còn hộ nông dân là vệ tinh. Quan hệ giữa doanh nghiệp,
hợp tác xã với hộ nông dân thể hiện trên các hợp đồng được ký kết; theo đó,
hộ nông dân tham gia sản xuất theo quy trình do doanh nghiệp và hợp tác xã
quy định. Cho đến nay, đã xuất hiện một số mô hình phát triển sản xuất và

kể. Nhờ đó, thông tin và cơ sở dữ liệu đối với các mặt hàng rau, hoa, quả đã
được chú trọng. Hiện nay ở trong nước có khá nhiều các trang web cung cấp
thông tin chuyên ngành Rau, Hoa, Quả. Ngoài những trang web chính thống
của các bộ ngành và địa phương còn có những trang web của các tổ chức,
doanh nghiệp… với nhiều thông tin được cung cấp từ các bộ, ngành thông qua
các trang web, nhiề
u thông tin có tính chính xác cao. Các nguồn thông tin từ
các tổ chức, doanh nghiệp đa dạng, phong phú rất hữu ích đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất, kinh doanh rau hoa quả. Giúp doanh nghiệp kịp thời nắm bắt thông tin thị trường, xu hướng giá cả, từ đó có quyết
định kinh doanh hợp lý. Bộ Công Thương trong thời gian qua cũng đã dành sự
quan tâm đối với việc cung cấp các thông tin về mặt hàng rau, hoa, quả thông
qua trang web Rauhoaquavn.vn. Trang web Rauhoaquavn.vn là một sản phẩm
của đề án do thứ trưởng Trần Đức Minh chủ trì năm 2007 về mặt hàng rau,
hoa, quả. Tuy nhiên, công tác thông tin, hỗ trợ thông tin phục vụ sản xu
ất và
xuất khẩu mặt hàng rau, hoa, quả tuy đã được đầu tư nhưng hiệu quả vẫn chưa
được như mong đợi.
Tóm lại những năm qua vấn đề phát triển sản xuất rau, hoa, quả cho
tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đã được quan tâm, nhưng chưa có sự gắn kết
chặt chẽ giữa sản xuất và xuất khẩu dẫn đến hiệu quả xuấ
t khẩu chưa cao.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này như:
Hiện trạng phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, Tạp
chí Hoạt động khoa học, Số 12 năm 2007. Bài viết khái quát về hiện trạng
nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, nêu ra những tồn tại, khó khăn trong
hoạt động của các khu nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam, từ đó nêu ra

ản xuất, tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho rau, quả hàng
hoá Việt Nam.
Để đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu rau, quả trong thời gian tới,
Trung tâm Thông tin Thương mại, ngày 23/2/2006. Bài viết đề cập tới những
thuận lợi và khó khăn trong xuất khẩu rau, hoa, quả của Việt Nam, những
điểm yếu của ngành rau, hoa, quả trong việc cung ứng đơn hàng xuất khẩu, từ
đó nêu ra một số giải pháp
đẩy mạnh xuất khẩu rau, hoa, quả trong thời gian
tới.
Giải pháp đầu ra cho ngành rau quả Việt nam, Tạp chí Tin tức, Số
30 (291), 28/7/2004. Những thành công và sự phát triển đi lên của ngành rau,
quả Việt Nam trong nửa đầu chương trình phát triển rau, quả và hoa - cây cảnh
giai đoạn 1999 – 2010, tuy nhiên đầu ra của ngành rau, hoa, quả vẫn còn nhiều
hạn chế, xuất khẩu rau, quả của Việt Nam còn chậm và lúng túng, hiệu quả
chưa cao, nêu các gi
ải pháp nhằm thúc đẩy ngành rau, hoa, quả của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nào tổng kết, đánh
giá được thực trạng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa quả của Việt Nam giai đoạn 2005-2009, cũng như việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đối với mặt hàng
này nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế tác động mạnh mẽ đến xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số
giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này phù hợp với những yêu cầu củ
a
giai đoạn tới (2011-2015).
3. Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu thị trường rau, hoa, quả thế giới và triển vọng xuất khẩu các
mặt hàng này của Việt Nam.

- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
- Lấy ý kiến chuyên gia, hội thảo khoa học về những nội dung đề tài
nghiên cứu.
6. Đóng góp của đề tài
- Về phía Bộ Công Thương: Đề tài là một căn cứ khoa học và thực tiễn
quan trọng để Bộ có thể tham khảo trong việc điều chỉnh chính sách quản lý, điều
hành hoạt động xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt Nam giai đoạn 2011 -
2015 nhằm thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu mặt hàng này.
- Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa, quả Việt
Nam: Kết qu
ả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng,
hoạch định kế hoạch phát triển hoạt động sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng rau,
hoa, quả tới các thị trường chính, các thị trường tiềm năng, giúp doanh nghiệp chủ
động trong công tác xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh phù hợp giai
đoạn mới, đạt hiệu quả trong hoạt động xuất khẩu.
7. Kết c
ấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của đề tài gồm 3 chương như sau: CHƯƠNG 1
THỊ TRƯỜNG CÁC SẢN PHẨM RAU HOA QUẢ VIỆT
NAM VÀ THẾ GIỚI

-Sản lượng
1000 tấn 6.716,2 7.782,5 8.192,8 9.395,9 9.350,0 9.000,0
2. DT Cây rau đậu
1000 ha
861,0 853,5 910,0 919,3 920,0 930,0
2.1 Rau các loại
-Diện tích
1000 ha 676,1 666,7 705,3 722,2 650,0 720,0
-Năng suất
Tạ/ha 152,0 151,9 155,5 159,4 150,0 162,0
-Sản lượng
1000 tấn 10.274,5 10.128,6 10.969,3 11.512,6 9.750,0 11.664,0
2.2 Đậu các loại
-Diện tích
1000 ha 184,9 186,8 204,7 197,5 200,0 210,0
-Năng suất
Tạ/ha 8,9 9,2 9,0 9,5 9,0 9,3
-Sản lượng
1000 tấn 164,6 171,6 183,8 186,9 180,0 195,3
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Đồng Bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long là 2 vùng sản
xuất rau lớn nhất của Việt Nam với tỷ trọng lần lượt là: 24,9% về diện tích với
29,6% sản lượng rau cả nước và 25,9% về diện tích với 28,3% sản lượng.
Nhiều vùng rau an toàn đã được hình thành đem lại thu nhập cao cho người
sản xuất và an toàn cho người tiêu dùng đang được nhiều địa phương chú
trọng đầu tư xây d
ựng mới và mở rộng như: Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng,
TP Hồ Chí Minh, An Giang, Lâm Đồng (Đà Lạt)

Diện tích cây ăn quả cả nước trong thời gian qua tăng khá nhanh, năm
2005 đạt 766,9 ngàn ha, năm 2009 cả nước có khoảng 790 ngàn ha (tốc độ
tăng bình quân là 8,5%/năm), cho sản lượng 6,5 triệu tấn (trong đó chuối có
sản lượng lớn nhất với khoảng 1,4 triệu tấn, tiếp đến quả có múi: 800 ngàn tấn,
nhãn: 590 ngàn tấn).
Trên địa bàn cả nước, bước đầu đã hình thành các vùng trồng cây
ăn
quả tập trung, cho sản lượng hàng hoá lớn như vùng mận Bắc Hà - Lao Cai;
cam Vị Xuyên - Hà Giang, Bưởi Đoan Hùng, vải tại Lục Ngạn - Bắc Giang,
vải Thanh Hà - Hải Dương; nhãn Hưng Yên Đã có một số vùng sản xuất quả
tập trung cho xuất khẩu như Thanh long của Bình Thuận, Sầu riêng cơm vàng
hạt lép, Vú sữa Lò rèn, Nhãn xuồng cơm vàng của các tỉnh Đồng bằng sông
Cửu long. Trong đó còn nhiều loại quả
ngon, có lợi thế cạnh tranh, có triển
vọng xuất khẩu cao như: xoài cát Hòa Lộc, bưởi năm roi, bưởi da xanh, sầu
riêng Ri- 6, Chín Hóa (ở ĐBSCL); bưởi Phúc Trạch, bưởi Đoan Hùng, nhãn
lồng Hưng Yên, vải thiều (ở miền Bắc); bơ, chôm chôm, măng cụt, thanh long
(ở khu vực Đông Nam bộ, miền Trung và Tây Nguyên)… Tuy nhiên, do sản
xuất manh mún, nhỏ lẻ, chất lượng chưa ổn định, màu sắc, kích cỡ… không
đồng đều d
ẫn đến tính cạnh tranh của trái cây Việt Nam nhìn chung khá thấp.
Sản xuất hoa:
Việt Nam hiện có khoảng 15.000 ha hoa, cây cảnh, tập trung ở Lâm
Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Lào Cai, Sơn
La Hoa của Việt Nam chủ yếu tiêu thụ trong nước, và chỉ xuất khẩu rất ít.
Trong số 15 nghìn ha trồng hoa, cây cảnh, các tỉnh miền Bắc (tập trung
chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng) có 6.400 ha, miền Nam 7.000 ha,
thu nhập bình quân từ
nghề này nằm trong khoảng từ 70 – 80 triệu
đồng/ha/năm. Những nơi có diện tích trồng hoa với quy mô lớn, như: Tây

mà còn được bạn hàng thế giới ưa chuộng với ưu điểm hoa to, cành thẳng,
bền, thơm, sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng kháng bệnh cao…
Trong diện tích gần 136 ha trồng hoa củ
a vùng Trung du và miền núi
phía Bắc, diện tích trồng hoa hồng đã chiếm tới trên 55,27% với sản lượng
26,53 triệu bông/năm. Diện tích trồng hoa cúc lớn thứ hai với 14,5 ha, sản
lượng 5 triệu cành/năm. Với tỷ lệ hoa hồng và hoa cúc khá cao, cơ cấu ngành hoa Việt Nam
tương đối phù hợp với thị hiếu của các thị trường cao cấp trên thế giới như
Nhật Bản, Trung Quốc và Tây Âu. Tuy nhiên, đây đều là những thị trường khó
tính với những yêu cầu về chất lượng, mẫu mã và an toàn thực vật rất cao. Các
tiêu chuẩn về hàm lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ, bảo qu
ản thực vật được
đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó, để có thể thâm nhập các thị trường này, hoa
Việt Nam còn phải cạnh tranh về hình thức, giá cả và độ tươi lâu.
Đặc điểm mặt hàng rau, hoa, quả:
So với các mặt hàng khác, mặt hàng rau, hoa, quả có những đặc điểm
rất khác. Mỗi mặt hàng rau, hoa, quả đều có đặc trưng riêng.
Mặt hàng rau, hoa, quả rất phong phú về chủng loại, chịu sự
tác động
của nhiều yếu tố như mùa vụ, tổ chức các dịch vụ phân bón, thuốc trừ sâu,
thuốc bảo vệ thực vật và tổ chức sử dụng lao động trong sản xuất.
Rau, hoa, quả là ngành sản xuất mang tính hàng hoá cao, là các mặt
hàng có chứa hàm lượng nước cao, khối lượng cồng kềnh, dễ hư hỏng, dập
nát, khó bảo quản và vận chuyển.
Do là sản phảm mang tính thời v
ụ, nên khả năng cung cấp của chúng có
thể dồi dào ở chính vụ nhưng lại khan hiếm ở thời điểm giáp vụ, trong khi nhu

miền Nam.
Sự tương phản theo vùng rõ nét nhất có thể thấy với trường hợp su hào với
trên 90% số hộ nông thôn ở miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng tiêu
thụ, nhưng dưới 15% số hộ ở miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long tiêu thụ. Ở các khu vực thành thị, tỷ lệ hộ tiêu thụ đối với tất cả các sản
phẩm đều cao. Đã có mộ
t số nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các loại rau, quả
của Việt Nam trong thời gian qua. Các nghiên cứu cho thấy rau và quả là hai
sản phẩm khá phổ biến trong các hộ gia đình. Theo nghiên cứu của IFPRI
(2002), ICARD (2004): cho đến trước năm nghiên cứu, hầu hết các hộ đều tiêu
thụ rau, và 93% hộ tiêu thụ quả. Các loại rau, quả được tiêu thụ rộng rãi nhất
là rau muống (95% số hộ tiêu thụ), cà chua (88%) và chuối (87%). Hộ gia đình
Việt Nam tiêu thụ trung bình 71 kg rau, qu
ả cho mỗi người mỗi năm, trong đó
tiêu thụ rau chiếm tới 3/4.
Ngoài việc tiêu thụ các mặt hàng rau, hoa, quả sản xuất trong nước,
Việt Nam còn nhập khẩu nhiều mặt hàng rau, quả từ các nước để tiêu thụ. Các
thị trường mà Việt Nam nhập trái cây nhiều nhất là Trung Quốc, Thái Lan,
Hongkong, Lào, Hoa Kỳ và Australia. Chủng loại trái cây nhập khẩu từ thị
trường Trung Quốc gồm 14 loại như táo, quýt, lê, nho xanh, cam Theo thống
kê, hi
ện có khoảng 50 chủng loại trái cây được nhập khẩu vào Việt Nam. Các loại sản phẩm này được nhập khẩu một phần phục vụ đối tượng khách nước
ngoài, một phần phục vụ nhu cầu tiêu thụ của người dân trong nước. Cùng với
xu thế hội nhập, hoạt động nhập khẩu đang đặt ra nhiều thách thức đối với
ngành sản xuất rau, quả Việt Nam.
a. Tình hình tiêu thụ mặt hàng rau
Hiện nay rau chủ yếu phục vụ

nhiên mức độ thương mại hoá khác nhau giữa các vùng: Đồng bằng sông Cửu
Long là vùng có tỷ suất cao nhất với gần 70% sản lượng được bán ra trên thị
trường; tiếp theo là Đông nam Bộ và Nam Trung Bộ với tương ứng là 60% và
58%; các vùng còn lại tỷ suất hàng hoá đạt từ 30-40%. Mức độ
thương mại
hoá cao ở Miền Nam cho thấy xu hướng tập trung chuyên canh với quy mô lớn
hơn so với các vùng khác trong cả nước. Sản xuất nhỏ lẻ, vườn tạp vẫn còn tồn tại
nhiều, đây chính là hạn chế của quá trình thương mại hoá, phát triển vùng chuyên
canh cây ăn trái có chất lượng cao.
Trong xu thế hội nhập, trái cây nước ta không chỉ cạnh tranh trên
thương trường quốc tế mà còn cạnh tranh ngay trên thị trường nộ
i địa bởi trái
cây ngoại nhập tràn vào ngày càng nhiều. Để tránh tình trạng “thua trên sân
nhà”, rất cần sự hỗ trợ của các ngành chức năng và tạo mối liên kết chặt chẽ “
bốn nhà” từ nghiên cứu, tạo giống, sản xuất, tiêu thụ đến xuất khẩu trái cây.
c. Tình hình tiêu thụ sản phẩm hoa
Hiện nay, sản xuất hoa ở nước ta được thực hiên bởi 2 đối tượng chính:
nông dân sản xuất tự
phát theo xu hướng nhu cầu thị trường trong nước và bởi
các doanh nghiệp tư nhân trong nước, liên doanh với nước ngoài hoặc 100%
vốn nước ngoài sản xuất hoa chủ yếu cho xuất khẩu. Hoa tiêu thụ trong nước
chủng loại đa dạng và cung cấp ra thị trường theo mùa vụ chất lượng từ thấp
đến cao, giá cả vừa phải, hiệu quả kinh tế không cao, sản xuất nhỏ lẻ và thiếu
ổn định. Các doanh nghiệ
p sản xuất hoa xuất khẩu với sản lượng hoa nhiều
hơn mang tính hàng hoá, chất lượng hoa cao hơn và được sản xuất trong điều
kiện kỹ thuật cao, sản phẩm được tiêu thụ theo hợp đồng.
Việt Nam đã xuất khẩu được các sản phẩm hoa cắt cành như hồng,
phong lan, cúc, đồng tiền, cẩm chướng, ly ly, sao tím sang Trung Quốc,
Hồng Kông, Đài Loan, Nhật bản, Singapore, Australia, Ả rập; vạ

loại và có tốc độ tă
ng bình quân tuy không cao nhưng khá ổn định. Cụ thể,
giao dịch các sản phẩm quả (HS08) có dung lượng thị trường đạt cao nhất, quy
mô thị trường đạt trên 60 tỷ USD/năm trong cả giai đoạn 2006-2009 với tốc độ
tăng trưởng bình quân là 4%. Năm 2006, dung lượng thị trường đạt 60,2 tỷ
USD, tăng lên 69,1 tỷ USD trong năm 2007 và lên mức 79,5 tỷ USD trong
năm 2008. Năm 2009, do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, quy mô thị
trường này giảm còn 69,2 t
ỷ USD.
Thị trường rau, củ thế giới (HS07) cũng là thị trường có quy mô khá
lớn với giá trị giao dịch 45,6 tỷ USD trong năm 2009, với mức tăng trưởng
bình quân cũng đạt 4%. Quy mô thị trường các năm 2006, 2007 và 2008 lần
lượt là 39,6 tỷ USD, 46,7 tỷ USD và 79,6 tỷ USD. Thị trường rau, quả chế biến (HS20) cũng là thị trường có quy mô rất
lớn. Năm 2009, quy mô thị trường đạt 42,1 tỷ USD, có tốc độ tăng trưởng bình
quân hàng năm là 5%. Quy mô thị trường này cũng tăng dần trong những năm
gần đây. Nếu như năm 2006 mới chỉ đạt 35,5 tỷ USD thì năm 2007 con số
này là 43,4 tỷ USD và tăng lên mức 48,9 tỷ USD trong năm 2008. Năm 2009,
quy mô thị trường này giả
m so với 2008 còn 42,1 tỷ USD.
Thị trường hoa, cây cảnh thế giới (HS06) có quy mô thị trường nhỏ
nhất trong số các loại rau, hoa, quả nhưng cũng đạt trên 10 tỷ USD/năm. Năm
2006 quy mô thị trường đạt 14,5 tỷ USD và tăng lên mức 16,5 tỷ USD trong
năm 2007, đạt mức cao nhất trong năm 2008 với 17,8 tỷ USD và giảm còn
15,1 tỷ USD trong năm 2009. Đây là thị trường khá ổn định, có tốc độ tăng
trưởng thấp nh
ất trong số các thị trường rau, hoa, quả với mức tăng trưởng bình
quân cả giai đoạn 2006-2009 chỉ là 1%.

hoặc điều kiện để xuất khẩu.
Một yếu tố khác tác động đến nhu cầu tiêu thụ mặt hàng rau, quả là yếu
tố mùa vụ. Mặc dù, kỹ thuật bảo quản rau, quả
đã đạt được những tiến bộ nhất
định, các loại rau xanh có thể bảo quản hàng tháng, rau, quả chế biến lên đến
hàng năm, quả chín cũng lên đến hàng tháng, thậm chí hàng năm. Tuy nhiên,
yếu tố mùa vụ vẫn có vai trò hết sức quan trọng đối với tiêu thụ mặt hàng rau,
quả. Các loại rau, quả sau khi thu hoạch được tiêu thụ trực tiếp không qua xử
lý thường có chất lượng tốt, giữ được h
ương vị tự nhiên. Tuy nhiên, để tham gia
vào thị trường thế giới cần có biện pháp xử lý thích hợp, để bảo quản được lâu,
điều này cũng ảnh hưởng nhất định đến chất lượng sản phẩm.
Xu hướng tiêu thụ gần đây ở hầu hết các nước phát triển là hướng vào
tiêu thụ các loại rau, củ, quả tươi giàu Vitamin có lợi cho sức khoẻ. Bên cạnh
đó, nhu cầu c
ũng có xu hướng tăng đối với các loại rau được chế biến sẵn hoặc
ở dạng đông lạnh vì một bộ phận lớn dân cư thành thị có nhu cầu rút ngắn thời
gian chế biến khi làm bếp. Xu hướng này mở ra cơ hội lớn cho các nhà xuất
khẩu ở các nước đang phát triển.
Xu thế ăn kiêng cũng là một xu hướng đáng kể đối với tiêu thụ các mặt
hàng rau, củ, quả tươi và qua chế biến, đây chính là nguyên nhân làm tăng
nhập khẩu nhiều loại rau, quả tại các nước phát triển, thậm chí các loại trước
đây ít phổ biến ở thị trường như Nhật Bản, Hoa Kỳ,
Vài năm gần đây, một xu hướng khác cũng làm tăng thương mại mặt
hàng rau, quả ở nhiều nước phát triển là các nhà cung cấp thực phẩm ở nhiều
n
ước phát triển tích cực tìm kiếm các nguồn nhập khẩu trái vụ, đồng thời, sức tiêu thụ mạnh của hệ thống siêu thị nhằm đáp ứng khẩu vị món ăn ngày càng

đây là một rào cản khá lớn đối với các nước xuất khẩu rau nói chung và đặc biệt là
đối với các nước có sản xuất rau chưa đạt trình độ cao như Việt Nam. Bảng 1.3: Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng rau của các nước nhập khẩu
chính trên thế giới (đvt: triệu USD)
Thị trường 2009 2008 2007 2006
Tăng trưởng
bình quân
Thế giới 45.631 79.457 46.702 39.652 4%
Hoa Kỳ 5.832 8.609 5.731 5.264 3%
Đức 5.187 8.405 5.184 4.861 2%
Anh 3.585 5.462 4.385 3.682 -1%
Pháp 2.906 4.886 3.024 2.448 5%
Canada 2.138 3.253 2.025 1.788 5%
ấn Độ 2.067 1.171 1.280 875 34%
Nga 1.660 4.463 1.389 934 19%
Bỉ 1.629 4.408 1.717 1.361 5%
Italia 1.622 2.756 1.478 1.290 6%
Nhật Bản 1.467 2.513 1.757 1.925 -6%
Hà Lan 1.133 4.741 2.162 1.702 -8%
Trung Quốc 1.053 1.238 800 756 10%
Thị trường khác 45.631 79.457 46.702 39.652 -4%
Nguồn: ITC
Sản phẩm Quả
Các nước xuất khẩu sản phẩm quả chủ yếu trên thế giới là Hoa Kỳ, Tây Ban
Nha, Chile, Bỉ, Italia, với kim ngạch xuất khẩu hàng năm của mỗi nước đều lên
tới trên 3 tỷ USD. Năm 2009, Hoa Kỳ là nước xuất khẩu các loại quả lớn nhất thế
giới với giá trị xuất khẩu đạt 8,7 tỷ USD chiếm 13,8% thương mại sả
n phẩm quả

Hà Lan 2.741 4.741 4.033 3.458 -5%
Italy 2.697 2.756 2.503 2.340 4%
Hồng Kông 1.992 1.543 1.254 1.059 22%
Trung Quốc 1.720 1.238 915 739 33%
Nhật Bản 1.481 2.513 2.283 2.223 -8%
Tây Ban Nha 1.410 2.295 1.981 1.638 -3%
ấn Độ 1.102 1.171 834 780 10%
Thuỵ Sỹ 942 1.043 870 805 4%
Thuỵ Điển 893 1.064 965 866 1%
Thị trường khác 16.755 79.457 69.099 60.174 -18%
Nguồn: ITC
Thị trường quả thế giới chủ yếu bị chi phối bởi các nước phát triển, nơi có
ngành nông nghiệp đạt được nhiều tiến bộ, công nghệ chế biến bảo quản ở trình độ
cao. Một nguyên nhân khác là hoạt động tái xuất đối với các loại quả cũng giúp
thương mại sản phẩm quả đạt kim ngạch ở mức cao.
Các sản phẩm hoa:
Trên th
ế giới hiện có trên 300.000 ha sản xuất hoa, phân bố tại 27 nước
chủ yếu, trong đó EU chiếm 12%. Các nước châu Á và Thái Bình Dương
chiếm 70% với 70% trong số diện tích này tập trung ở Trung Quốc và 15% ở
Ấn Độ. Nhật Bản, Thái Lan và Đài Loan cũng là những nước sản xuất hoa
quan trọng ở châu Á và Thái Bình Dương với tổng diện tích chiếm 10%. Hoa
Kỳ (7%), Mexico (5%), Brazil (2%) và Colombia (2%) là các nước sản xuất
hoa chủ yếu ở châu Mỹ, chiế
m tổng số 16 % diện tích hoa của thế giới. Công
nghệ nhà kính là yếu tố quan trọng tạo ra hiệu quả sản xuất cao trong ngành
hàng hoa thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status