Điều tra đánh giá hiện trạng , xây dựng định hướng chiến lược và xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng công nghệ trên địa bàn thành phố hải phòng - Pdf 13

TRƯờNG ĐạI HọC BáCH KHOA Hà NộI
TRUNG TÂM NGHIÊN CứU Và TƯ VấN Về QUảN Lý Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nớc

Điều tra, đánh giá hiện trạng, xây dựng định hớng
chiến lợc và xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng
công nghệ trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Ch nhim ti: PGS. TS. Trn Vn Bỡnh

1.3.4 Phương pháp dùng nhiều chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ phân lập 15
1.3.5 Phương pháp luận Atlas công nghệ 16
1.3.6 Tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược 18
1.4 Phương pháp luận Atlas công nghệ và ứng dụng cho đánh giá trình độ công nghệ
các doanh nghiệp trên địa bàn thành ph
ố Hải Phòng 21
1.4.1 Tổng quan về phương pháp luận: 21
1.4.2 Nội dung áp dụng phương pháp Atlas công nghệ cho dự án Hải Phòng 25
1.4.3 Xây dựng hệ tiêu chí, thiết kế mẫu phiếu điều tra, thiết kế thang điểm, các hệ
số tính toán 27
1.4.4 Tổ chức điều tra thu thập và xử lý số liệu 31
1.5 Kết luận 33
Phần 2: Hệ thống phần mềm Cơ sở dữ liệu Quản lý hiệ
n trạng trình độ công nghệ các
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng 34
2.1 Tổng quan 34
2.2 Mục tiêu 34
2.3 Giải pháp 35
2.3.1 Mô hình ứng dụng kỹ thuật 35
2.3.2 Cơ sở dữ liệu (Database) 35
2.3.3 Thành phần hỗ trợ (Business Component) 35
2.3.4 Giao diện cho người dùng cuối (Application Client) 35
2.3.5 Các yếu tố về kỹ thuật 35
2.4 Các chức năng lưu trữ của hệ thống 36
2.4.1 Thông tin lưu trữ trong hệ thống 36
2.4.2 Đối tượng sử dụng 38
2.5 Các quy trình nghiệp vụ 38
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ


ạng cộng nghệ của nhóm ngành Nuôi trồng thuỷ sản: 106
3.4.11 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Chế biến thực phẩm và thức ăn gia súc:
109
3.4.12 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành Thép-Đúc và Luyện kim 113
3.4.13 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành dịch vụ, du lịch, thương mại 116
3.4.14 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành dịch vụ bưu chính viễn thông và CNTT
119
3.4.15 Hiện trạng cộng ngh
ệ của nhóm ngành dịch vụ công ích đô thị: 122
3.4.16 Hiện trạng cộng nghệ của nhóm ngành cơ khí vận tải: 125
Phần 4: Một số đề xuất định hướng chiến lược nâng cao trình độ công nghệ và phát triển
kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng 128
4.1 Những thế mạnh và hạn chế về điều kiện tự nhiên: 128
4.2 Những định hướng kinh tế vĩ mô và cơ hội-thách th
ức cho quá trình phát triển của
Hải Phòng: 129
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ 3
4.3 Những thách thức từ hiện trạng công nghệ các nhóm ngành kinh tế: 129
4.4 Phân tích yếu tố chiến lược : 129
4.5 Một số đề xuất định hướng chiến lược nâng cao trình độ công nghệ các doanh
nghiệp và phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng: 132
4.5.1 Nhóm ngành đóng tàu: 133
4.5.2 Nhóm ngành Dịch vụ vận tải: 135
4.5.3 Nhóm ngành Dịch vụ cảng, giao nhận và bốc xếp hàng hóa: 136
4.5.4 Nhóm ngành Da giầy: 137
4.5.5 Nhóm ngành Dệt may: 139

quá trình đánh giá. Tiếp theo là các địa phương tỉnh, thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng và
Quảng Ninh cũng được triển khai trong khuôn khổ chương trình mục tiêu của Bộ. Song song
với chương trình của Bộ, một loạt các địa phương cũng đã triển khai như Bà Rịa – Vũng Tàu,
Bình Dương, Tây Ninh, Khánh Hòa, Vĩnh Phúc. Tháng 6/2005, sở Khoa học và Công nghệ
thành phố Hải Phòng cũng đã triển khai chương trình vớ
i đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện
trạng, xây dựng định hướng chiến lược và xây dựng cơ sở dữ liệu về hiện trạng
công nghệ trên địa bàn thành phố Hải Phòng”.
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về
Quản lý (CRC)
1
, Đại học Bách khoa Hà nội đã được lựa chọn đảm nhận thực hiện. Mục tiêu
của đề tài có thể tóm tắt ở bốn điểm chính sau:
1. Đưa ra báo cáo tổng hợp về thực trạng về trình độ công nghệ của các doanh
nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hải Phòng, dựa trên dữ liệu điều tra
cụ thể và phân tích có hệ thống.
2. Thiết l
ập cơ sở dữ liệu và xây dựng trang Web về trình độ công nghệ của các
doanh nghiệp trong địa bàn phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu hoạch
định chính sách phát triển KT - XH của thành phố
3. Tập huấn chuyển giao phần mềm cơ sở dữ liệu để các doanh nghiệp tự đánh giá
trình độ công nghệ, nhằm mục tiêu phát triển bền vững của dự án sau khi
nghiệm thu.
4. Phân tích, đề xuất ph
ương hướng tiếp tục đầu tư, phát triển công nghệ thành
phố Hải Phòng trong giai đoạn 2006 - 2010. 1
Center for Research and Consulting on Management

chỉ đạo kịp thời trong quá trình thực hiện đề tài. Cảm ơn sự chỉ đạo có hiệu quả của Uỷ ban
nhân dân thành phố Hải Phòng, sự hợp tác chặt chẽ của sở Khoa học và Công nghệ cùng các
Ban, Ngành của thành ph
ố trong quá trình triển khai thực hiện đề tài.
Dưới đây là những nội dung chính mà đề tài đã đạt được trong quá trình 12 tháng triển
khai thực hiện. Ngoài lời nói đầu, kết luận và các phụ lục, bản báo cáo gồm 4 phần minh hoạ
chi tiết kết quả nghiên cứu:
• Phần 1: Phương pháp luận đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ áp dụng cho
các doanh nghiệp Hải Phòng;
• Phần 2: Mô hình hệ thống cơ sở
dữ liệu quản lý và đánh giá hiện trạng trình độ
công nghệ các doanh nghiệp và các nhóm ngành công nghiệp
• Phần 3: Kết quả phân tích đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ các doanh
nghiệp và các nhóm ngành công nghiệp của thành phố Hải Phòng
• Phần 4:
Một số đề xuất định hướng chiến lược nâng cao trình độ công nghệ và
phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ 6
Phần 1: Phương pháp luận đánh giá hiện trạng trình
độ công nghệ áp dụng cho các doanh nghiệp tại
Hải Phòng
1.1 Đặt vấn đề
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, công nghệ phải được xem là biến
số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Đã từ lâu, vai trò quan
trọng của công nghệ trong phát triển đã được thừa nhận một cách rộng rãi. Thật vậy, công


2
Center for Research and Consulting on Management
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ 7
thiện các chính sách và lập kế hoạch phát triển. Trên thực tế, với lĩnh vực nghiên cứu này, đã
có khá nhiều các đề tài, công trình, dự án nghiên cứu, cho ra các phương pháp luận khác nhau,
sử dụng các phương pháp luận, và những kết quả nghiên cứu nhất định. Chính vì vậy, cần
thiết phải lựa chọn và xây dựng một cơ sở phương pháp luận hợp lý cho đề tài công nghệ Hải
Phòng mới có thể đạ
t được kết quả nghiên cứu như mong muốn.
Lựa chọn và xây dựng phương pháp luận cho đề tài là nội dung mà chúng tôi sẽ thực
hiện trong chương này. Rõ ràng là, để xây dựng phương pháp luận cho đề tài và hệ tiêu chí
đánh giá trình độ công nghệ cho từng ngành nghề phải được dựa trên các kết quả nghiên cứu
của từng phương pháp luận được sử dụng trong và ngoài nước và những đóng góp của các
chuyên gia. Chúng tôi sẽ trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu thu
ộc lĩnh vực nghiên cứu
về công nghệ, giới thiệu một cách tổng quan về các phương pháp luận được xây dựng và áp
dụng trên thế giới cũng như ở nước ta. Phần việc cuối cùng nhưng hết sức quan trọng là, dựa
trên các cơ sở lý thuyết mà chúng tôi đã đề cập, những đặc tính, mục đích của đề tài, sau khi
tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà chuyên môn từ các đơn vị
phối
hợp sẽ lựa chọn và xây dựng phương pháp luận có độ nhất trí cao cho đề tài Hải Phòng.
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Việc trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về công nghệ là hết sức cần thiết. Nó cho
phép tổng hợp được các cơ sở lý thuyết đã sử dụng, các kết quả đạt được từ những dự án,
công trình nghiên cứu về công nghệ đã thực hiện, đặc biệt là những kết quả nghiên cứu đạt

Đầu tiên là ở Mỹ, những tổ chức đánh giá công nghệ phục vụ cho Quốc hội. Văn phòng đánh
giá công nghệ là cơ quan đảm nhận các hoạt động về đánh giá công nghệ được thành lập từ
năm 1973. Sau đó các cơ quan tương tự cũng được thành lập ở một số nước châu Âu. Hình
thức thể chế thứ hai là nhữ
ng chương trình quốc gia về công nghệ nhằm thúc đẩy những sáng
kiến đánh giá công nghệ. Với thể chế thứ 3, công tác đánh giá công nghệ dần dần được thể
chế tại các trường đại học thành những khoa, bộ môn có chức năng nghiên cứu giữa khoa học,
công nghệ và xã hội. Ở hình thức thể chế thứ tư, đánh giá công nghệ được tiến hành ở quy mô
các doanh nghiệp nhằm hỗ tr
ợ cho việc lập kế hoạch mang tính chiến lược, công việc mà
người ta thường gọi dưới cái tên khác là “lập kế hoạch doanh nghiệp” hay đánh giá công nghệ
ứng dụng.
Hiện nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới coi công nghệ là một biến số làm tăng trưởng
phát triển kinh tế xã hội. Vì thế, nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê
về khoa họ
c và công nghệ (KH&CN) làm căn cứ cho việc xây dựng, hoàn thiện các chính
sách và kế hoạch phát triển công nghệ. Trong số rất nhiều nước này, cần đặc biệt kể đến
những cường quốc công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Nhật, Pháp, Đức Bài học từ các
quốc gia phát triển chỉ ra rằng, đối với các nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước, vấn đề mang tính trọng tâm là xây dựng
được hệ thống cơ sở dữ
liệu về trình độ, năng lực công nghệ. Chúng tôi sẽ giới thiệu một số quốc gia thuộc nhóm các
nước đang phát triển, đặc biệt là trong khu vực Đông nam Á, đã và đang coi KH&CN là một
tác nhân quan trọng phát triển kinh tế. Ở các nước này, nhiều công trình nghiên cứu về công
nghệ đã và đang được thực thi:
Indonesia:
 Dự án xây dựng hệ thống thông tin KH&CN quố
c gia Indonesia dựa trên cơ sở
phương pháp luận atlas công nghệ (1989)
3

Báo cáo ứng dụng Atlas công nghệ của Trung tâm chuyên giao công nghệ châu Á
Thái Bình Dương (APCTT)
Ngoài ra, cần phải kể đến một số những nghiên cứu về công nghệ của một vài quốc gia
khác trong dự án atlas công nghệ (1989)
8
. Các nghiên cứu nêu trên được xem là nền tảng cho
việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ của các quốc gia châu Á này. Đó
là tổng quan tình hình nghiên cứu về công nghệ trên thế giới và trong khu vực. Có thể nói đã
có khá nhiều phương pháp luận được vận dụng đặc biệt là ở các nước đang phát triện trong
khu vực, phương pháp Atlas công nghệ được sử dụng khá phổ biến. V
ậy ở Việt nam, những
nghiên cứu về công nghệ được quan tâm thế nào?
1.2.2 Nghiên cứu về công nghệ ở Việt nam
Đối với nước ta, việc thực hiện đánh giá năng lực công nghệ chỉ được chính phủ quan
tâm từ những năm đầu của thời kỳ mở cửa. Ở các quy mô khác nhau, có thể liệt kê từ đó tới
nay, một số nghiên cứu về công nghệ như sau
9
:
• Năm 1991, uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (nay là bộ Khoa học và Công
nghệ) công bố " Hệ thống chỉ tiêu đặc trưng trình độ công nghệ sản xuất công 4
Tham khảo: STAID (1993): “Science and Technology Indicators, Science & Technology for Industrial
Development (STAID)”, Bandan Penkajian Dan Penrapan Technology (BPPT), Indonesia.
5
Tham khảo: Six Malaysia Plan 1991-1995, Printed by national printing department, Kuala Lumpur, Malaysia,
1995.
6
Tham khảo: Aggarwal J.C. (1993): “Eighth Five Year Planning and Development in India 1993”, Shipra

chủ yếu trên địa bàn tỉnh Bình Dương" của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương.
• Năm 2003, Dự án “Điều tra đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu về năng
lực công nghệ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì
thực hiện.
• Năm 2004, Dự án: “ Xây dựng phương pháp đánh giá trình độ công nghệ sản xuất
trên cơ s
ở phương pháp Atlas công nghệ”, Vụ Khoa học & Công nghệ, Bộ Công
nghiệp.

Năm 2005, đề tài “Điều tra, đánh giá trình độ công nghệ sản xuất và đề xuất
giải pháp cải tiến, đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhà nước và công
ty cổ phần trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”, sở Khoa học và Công nghệ tỉnh
Quảng Bình.

Có thể nói các dự án nghiên cứu về công nghệ trong và ngoài nước đã trải qua chặng
đường khá phức tạp, với nhiều cơ sở phương pháp luận khác nhau được sử dụng. Để có thể
lựa chọn và xây dựng phương pháp luận cho dự án Hải Phòng, chúng tôi xin được trình bày
một cách ngắn gọn các phương pháp luận đã được sử dụng trên thế giới cũng như ở Việt nam
cho các dự án, đề tài nghiên c
ứu về công nghệ.
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ 11
1.3 Tổng quan về các phương pháp luận cho các dự án đánh
giá công nghệ
Hiện nay, đã có khá nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để đánh giá trình độ
công nghệ với các quy mô khác nhau. Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng
về nội dung cũng như việc triển khai ứng dụng. Xin được nhắc lại rằng, các nghiên cứu về

mô hay các thông số kinh tế của ngành công nghiệp đó. Việc sử
dụng chức năng sản xuất làm cơ sở cho đánh giá trình độ công nghệ chính là hình thức cải
tiến của phương pháp đánh giá giản đơn năng suất lao động.
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ 12
Xét tổng quát, phương pháp này cho phép nhận biết những thông tin cần thiết cho việc
phân tích. Tuy vậy, việc đánh giá công nghệ đơn thuần chỉ bao gồm việc so sánh các đặc tính
vận hành của một dây chuyền sản xuất cụ thể hay so sánh chất lượng các sản phẩm cuối cùng.
Do đó việc phân tích ở cấp ngành công nghiệp phải cần sử dụng thêm một số chỉ tiêu khác.
Ngoài ra, phương pháp này còn tồn tại mộ
t số vấn đề phức tạp trong việc xác định các giá trị
đầu vào mà cốt lõi là phải xác định được số lượng vốn. Thông thường, việc đánh giá trình độ
công nghệ về mặt kinh tế của các nước thường hay được tiến hành đối với công nghệ đặc thù
của các nước đó.
1.3.2 Phương pháp đo lường công nghệ học
Phương pháp này cũng thường được sử dụng để tính toán, so sánh trình độ công nghệ ở
một số nước mà chủ yếu là so sánh các đặc trưng của một quy trình công nghệ hoặc chất
lượng sản phẩm của quy trình công nghệ đó. Phương pháp đo lường công nghệ học nhằm xác
định các đặc trưng kỹ thuật riêng biệt của các sản phẩm và quy trình công nghệ, đồng thời so
sánh chúng trên phạm vi vùng, lãnh thổ, khu vự
c và trên thế giới.
Đo lường công nghệ học sử dụng một số chỉ số phân lập các đặc trưng kỹ thuật của sản
phẩm hay quy trình công nghệ và xem chúng như là các đơn vị vật lý. Đây là phương pháp đã
được sử dụng ở các nước phát triển như CHLB Đức, Nhận bản và Mỹ trong một số lĩnh vực
như mođun điện quang, laze, các chất xúc tác sinh học, ng
ười máy công nghiệp.
Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là rất thích hợp cho việc đánh giá các sản phẩm

của khoa học & công nghệ tới tăng trưởng kinh tế, năng suất, năng lực cạnh tranh v.v.
10

Để xây dựng hệ thống các chỉ số đặc trưng trình độ S&T, cách tiếp cận của các nhà
nghiên cứu OECD là đánh giá hiện trạng công nghệ trên hai phạm trù là đầu vào và đầu ra.
Đầu vào (input indicators) bao gồm tất cả các các nguồn lực về vốn và nguồn lực con người
của cả khu vực công cộng cũng như của khu vực tư nhân cần thiết dành cho các lực lượng
Nghiên cứu và Phát triển (R&D). Các lực l
ượng R&D này là đầu vào của các hoạt động S&T
được theo đuổi. Đầu ra phần lớn được xác định từ lợi ích các ứng dụng của S&T. Đầu ra đo
lường giá trị các sản phẩm trực tiếp của các hoạt động S&T
11
. Về cơ bản đầu ra bao gồm: cán
cân thanh toán về công nghệ nảy sinh từ việc chuyển giao công nghệ, phản ánh mức độ phụ
thuộc của một quốc gia vào công nghệ của nước ngoài; thống kê các loại phát minh sáng chế
phổ biến; và chuyển giao công nghệ. Với việc xác định các thông số đầu vào và đầu ra của
các hoạt động công nghệ, thông qua việc so sánh input và output indicators, hiệu quả của các
chính sách về công nghệ của mỗ
i quốc gia được xác định.
Bảng 1. 1: OECD S&T Indicators
OECD S&T
Indicators
Input Indicators Output Indicators
1 Nguồn lực về vốn cho R&D ở khu
vực công cộng
Cán cân thanh toán về công nghệ
2 Nguồn lực con người cho R&D ở
khu vực công cộng
Thống kê các phát minh, sáng chế
3 Nguồn lực về vốn cho R&D ở khu

Tuy nhiên hệ thống các chỉ số mà OECD xây dựng tồn tại những hạn chế lớn, đặc biệt
là trong việc lập các chính sách phát triển công nghệ. Trước hết, cách tiếp cận của OECD dự
a
trên cơ sở của các phân tích đầu vào và đầu ra (inflow-outflow), nên không có chỉ số mô tả
công nghệ có tính kế thừa, biến số chính yếu để xác định sự thay đổi, tiến bộ về công nghệ.
Ngoài ra, một yếu tố khác của tiến bộ về công nghệ cũng nằm ngoài các hoạt động R&D
những đổi mới được thực hiện bởi các xí nghiệp nhỏ. Đặc biệt, hệ thống các chỉ tiêu S&T
được xây dựng trên điều kiện xã hội, kinh tế, kỹ thuật, cán cân thanh toán về công nghệ của tổ
chức các nước OECD, nhìn chung không thể áp dụng cho các dự án về công nghệ được thực
hiện ở các nước đang phát triển.
1.3.3.2 Phương pháp luận UNESCO
Các nhà nghiên cứu của UNESCO cũng xây dựng phương pháp luận theo cách tiếp
cận đầu vào và đầu ra. Cũng như OECD, UNESCO xây dựng hệ thống các chỉ số để đánh giá
trình độ công nghệ. Trên thực tế, các chỉ số S&T của UNESCO bắt đầu được thảo luận trong
kỳ họp thứ 20 tại Paris vào tháng 11 năm 1978, nhằm giúp cho các nước thành viên xây dựng
và cải thiện các thống kê về S&T của họ. Bằng việc chỉ ra các h
ạn chế của phương pháp luận
OECD, UNESCO đã phát triển một bộ chuẩn các chỉ số S&T mà phạm vi ứng dụng lớn
hơn
13
.
Hệ thống các chỉ số S&T của UNESCO là bộ các chỉ số S&T được xây dựng cho các áp
dụng ở các nước đang phát triển. Trong hệ thống các chỉ số S&T của UNESCO, các chỉ số
đầu vào bao gồm : Chỉ số đầu vào chính là R&D được xây dựng bởi NAF (National Science
Foundation) và OECD; thêm nữa là giáo dục đào tạo cho S&T cũng được xây dựng bởi NAF;
dịch vụ cho khoa khoa học công nghệ. Còn các chỉ số đầu ra của quá trình bao gồm: số l
ượng
các công trình về khoa học công nghệ được công bố, số lượng các sáng chế phát minh đã đăng
ký v.v.


“UNESCO S&T indicators” không tránh khỏi những hạn chế đặc biệt là khả nă
ng hỗ trợ quyết
định trong các chính sách về S&T của các nước đang phát triển. Đó cũng chính là yếu điểm
lớn nhất của phương pháp luận được xây dựng trên cơ sở của việc chuyển hoá đầu vào thành
đầu ra của S&T.
1.3.4 Phương pháp dùng nhiều chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ
phân lập
Đây là phương pháp mà tổ chức UNIDO đã ứng dụng để nghiên cứu, đánh giá trình độ
công nghệ của một số ngành công nghiệp trong một vài năm gần đây. Về mặt cơ sở lý luận,
phương pháp hỗn hợp này kết hợp cả phương pháp đo lường công nghệ học và phương pháp
phân lập theo từng thành tố công nghệ. Ở Việt nam, phương pháp này cũng được ứng dụng
cho các nghiên cứ
u đánh giá về công nghệ. Từ năm 1991-1995, Uỷ ban Khoa học, kỹ thuật
nhà nước ban hành áp dụng nhiều bộ chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ để đánh giá trình
độ công nghệ với các chỉ tiêu được phân thành 4 nhóm:
 Trình độ công nghệ của các yếu tố vật chất của sản xuất
 Về chất lượng sản phẩm,
 Về tổ chức và quản lý sản xuất,
 Về hiệu quả chung của sản xuất
Cho tới nay, các cơ quan chức năng ở nước ta vẫn chưa thống nhất được phương pháp
đánh giá trình độ công nghệ chung để có thể tiến hành đánh giá trong cả nước vì có rất nhiều
bất cập trong việc định tính và tính toán định lượng. Ngay cả khi, một số đơn vị trong nước
tiến hành những nghiên cứ
u về công nghệ thì việc sử dụng các phương pháp luận còn khá
phân tán, và chỉ phù hợp, khả thi khi đánh giá trình độ công nghệ cấp cơ sở, chưa có tính khái
quát cao.
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ 14
Tham khảo chi tiết: UN-ESCAP (1989): “Technology Atlas Project Tokyo Program On Technology for
Development in Asie and Pacific”, Bangalore, India.
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ 17
Hình 1. Lập kế hoạch phát triển dựa trên công nghệ trong phương pháp luận Atlas công nghệ

 Ở cấp doanh nghiệp:
Các các chỉ số công nghệ được xem xét là: các thành phần công nghệ (thành phần kỹ
thuật, thành phần thông tin, thành phần con người, thành phần tổ chức), kết quả đóng
góp trực tiếp của bốn thành phần này xác định hàm lượng công nghệ gia tăng, đây là
Các khía cạnh phát
triển kinh tế xã hội
kinh điển
Tình trạng cơ sở
hạ tầng và dịch
v

hỗ tr

Đội ngũ cán bộ
KHKT và chi phí
cho NC-TK
ĐÁNH GIÁ MÔI
TRƯỜNG CÔNG

góp của công
Tổng hợp các
đóng góp của
Mức độ đổi mới
Các chuỗi
phát triển
Các tác nhân
thúc đẩy công
ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC
CÔNG NGHỆ
Các mặt của
cơ sở hạ tầng
Các ngu
ồn
Kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội quốc gia
Cấp bậc
tinh xảo
Các thành
ph

n của
công nghệ
Giá trị
kinh t
ế

gia tăng
Cấp ngành

 Ở cấp độ của một ngành công nghiệp:
Thông thường ở quy mô của một ngành công nghiệp, các đặc trưng công nghệ được
đánh giá là các nguồn lực công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ.
 Ở quy mô một quốc gia
15

Với quy mô là một quốc gia, những chỉ số công nghệ được xem xét là môi trường công
nghệ và nhu cầu công nghệ
Để việc hợp nhất các xem xét công nghệ với quá trình kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã
hội có ý nghĩa, thì điều kiện cơ bản là các nhà nghiên cứu về kinh tế và công nghệ phải hỗ trợ
lẫn nhau khi tiến hành các phân tích. Nếu sử dụng 4 hình thực biểu hiện của công nghệ theo
cách phân chia theo phương pháp Atlas (thành phầ
n kỹ thuật - Technoware, thành phần con
người - Humanware, thành phần thông tin - Infoware, thành phần tổ chức- Orgaware) ở trên
làm cơ sở để điều tra, thì có thể đạt được sự bổ sung cho nhau giữa kế hoạch hoá kinh tế
thông thường và kế hoạch hoá dựa trên công nghệ ở cấp công ty, phân ngành, ngành, tỉnh,
quốc gia tuỳ theo mức độ dự án thực hiện.
Với những ưu điểm lớ
n trong việc đánh giá, quản lý và hoạch định chiến lược công
nghệ, phương pháp luận Atlas công nghệ đã được sử dụng làm cơ sở cho khá nhiều dự án về
công nghệ đặc biệt là các dự án ở các nước đang phát triển.
1.3.6 Tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược
Hầu hết các định nghĩa về chiến lược đều có thể được mô tả từ sự kết hợp giữa điểm
mạnh và điểm yếu của yếu tố bên trong công ty với cơ hội và thách thức của yếu tố bên ngoài.
Phát triển cách tiếp cận này, phương pháp luận cho quản lý chiến lược công nghệ của Sharif
(1995)
16
xem xét nguồn lực công nghệ và năng lực công nghệ có thể được xem như điểm
mạnh và điểm yếu của xí nghiệp, trong khi đó môi trường công nghệ và cơ sở hạ tầng công
nghệ có thể được xem như là cơ hội và thách thức. Trên cơ sở đó Sharif xây dựng các chỉ số

của năng lực công nghệ đó là: Năng lực thu nhận công nghệ, năng lực biến đổi, năng lực bán
hàng, năng lực sửa chữa, năng lực thiết kế, năng lực sản sinh công nghệ.
Ngoài ra vi
ệc đánh giá năng lực công nghệ còn có thể dựa trên phương pháp chiết trung
của Bộ khoa học công nghệ và môi trường Việt nam. Theo đó phương pháp chiết trung xếp
năng lực công nghệ của doanh nghiệp thành ba thành phần sau:
 Năng lực tiếp thu
 Năng lực vận hành
 Năng lực đổi mới
Nguồn lực công
nghệ
Năng lực công
nghệ
Cơ sở hạ tầng
công nghệ
Môi trường công
nghệ
Thông tin công nghệ
bên trong
Thông tin công nghệ
bên ngoài

Quản lý chiến
lược công
nghệ
Hồi qui
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ
sở của phương pháp luận Atlas công nghệ và đã đạt được các kết quả rất khả quan. Ngay ở
Việt nam, mới đây dự án “Đánh giá hiện trạng công nghệ Quận 8”, Thành phố Hồ Chí Minh,
dựa trên cơ sở phương pháp luận Atlas cũng thu
được những kết quả rất khả quan. Rõ ràng là
với những tiêu chí về lựa chọn được thoả mãn: nội dung phương pháp luận chặt chẽ, chi tiết 17
8 phương pháp luận khác nhau để đánh giá năng lực công nghệ được chiết trung bao gồm của: Fransman và
King (1984), tham khảo: Fransman M. & King K (1984, eds): “Technology Capability in the Third World: An
Overview and Introduction to Some Issues”, London, MacMilan; của Dore (1984), tham khảo: Dore R. (1984):
“Technological Self-Reliance Ideal of Self-Serving Rhetoric”, in Technological Capability in the Third World,
1984; của Desai (1984), tham khảo Desai A.V.(1984): “Achievements and Limitatión of India’s Technologie
Capability”, In Fransman M. & King K (1984, eds); của Ngân hàng thế giới (1984, 1987), của Lall (1987), tham
khảo: Lall S. (1987): “Learning to Industrialize: the Acquisition of Technological Capability by India”, London,
MarcMilan Press; và của Viện nghiên cứu phát triển Thái lan-TDRI (1989, 1992),
Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) – ĐHBK HN
Báo cáo tổng hợp hiện trạng công nghệ 21
và logic, và nguyên bản, dễ dàng áp dụng, phù hợp ở những nước đang phát triển, phù hợp ở
các cấp độ quy mô nghiên cứu khác nhau, ứng dụng và kết quả của các ứng dụng. Trên thực
tế nhóm nghiên cứu thuộc trung tâm CRC của trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã triển khai
ứng dụng phương pháp Alast công nghệ cho các dự án đánh giá trình độ công nghệ tại các địa
phương Đồng Nai và Hải Phòng
18
. Qua các Hội thảo về phương pháp luận do Trung tâm CRC
tổ chức tại Biên Hòa (4/2004), Hà Nội (7/2004) và Hải Phòng (10/2004) cho thấy các đại biểu
đều hoàn toàn nhất trí với việc áp dụng phương pháp Alast công nghệ cho việc đánh giá trình

QUỐC GIA)
TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ (NGÀNH)
TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ (NGÀNH)
HÀM LƯỢNG CÔNG NGHỆ (DN)
HÀM LƯỢNG CÔNG NGHỆ (DN)
Phiếu điều tra Ngành/Địaphương
Đóng góp CN
TCC (DN70)
Đóng góp CN
TCC(DN2)
Phiếu điều tra DN
10 ngành khác
Điện, điện tử
Da, dệt may
Cơ khí
Vật liệu XD
Chế biến
H
O
I
Q1
Q30
Q1
Q30

Q1
Q30
Q1
Q30
T

(ĐỊA PHƯƠNG,
QUỐC GIA)
NĂNG LỰC
CÔNG NGHỆ
(ĐỊA PHƯƠNG,
QUỐC GIA)
NĂNG LỰC
CÔNG NGHỆ
(ĐỊA PHƯƠNG,
QUỐC GIA)

Quá trình đánh giá được tiến hành thông qua việc điều tra khảo sát nhằm thu thập các
thông tin cho phép lượng hóa các thành phần Kỹ thuật (Technoware – T), thành phần Con
người (Humanware – H), thành phần Thông tin (Inforware – I) và thành phần Tổ chức
(Orgaware – O) của từng doanh nghiệp. 120 câu hỏi thu thập thông tin được đặt ra cho từng
doanh nghiệp.
Phần Kỹ thuật có thể coi như hình thức biểu hiện về mặt vật thể của công nghệ. Nó
bao gồm tất cả các phương ti
ện vật chất cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ như các
dụng cụ, thiết bị, máy móc, các kết cấu và các xưởng máy…
Phần Con người là hình thức biểu hiện về mặt con người của công nghệ. Nó bao gồm
các năng lực cần thiết mà con người đã tích luỹ được cho các hoạt động chuyển đổi.
Phần Thông tin là hình thức biểu hiện về mặt tư
liệu của công nghệ. Nó bao gồm toàn
bộ các dữ kiện và các số liệu cần cho các hoạt động chuyển đổi, ví dụ: các bản thiết kế, các
bản tính toán, các đặc tính, các quan sát, các phương trình, các biểu đồ, các lý thuyết….
Phần Tổ chức là hình thức biểu hiện về mặt thể chế của công nghệ. Nó bao gồm các cơ
cấu tổ chức cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ
: sự phân chia nhóm, phân trách nhiệm,
hệ thống các tổ chức, các mạng lưới quản lý….

. I
βi
. O
βo
(phương trình 1)
Trong đó T,H,I,O là mức độ đóng góp riêng tương ứng của từng thành phần công nghệ.
β
t
, β
h
, β
i
, β
o

là cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ tương ứng. Để tính được
TCC người ta tiến hành theo các bước sau:
Bước1: Đánh giá cấp bậc tinh xảo của 4 thành phần công nghệ
Thông qua thu thập thông tin từ doanh nghiệp và thủ tục cho điểm bởi các chuyên gia
tiến hành xác định mức độ tinh xảo của các thành phần công nghệ
Mức độ tinh xảo xếp từ thấp đến cao của 4 thành phần công nghệ có th
ể được mô tả ở
bảng sau:

Thành phần Kỹ thuật
(T)
Thành phần Con
người (H)
Thành phần Thông
tin (I)

thập được từ doanh nghiệp với hệ thống thang điểm đánh giá được xây dựng cho nhóm ngành
tươ
ng ứng, chúng ta có thể tính toán lượng hóa các thành phần công nghệ của doanh nghiệp
nghiên cứu.
Bước 4: Đánh giá cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ: ở đây đề xuất
phương pháp đánh giá bằng cách sử dụng cách tiếp cận ma trận so sánh từng đôi một
19
. Việc
xác định các hệ số β sẽ được thực hiện cho từng ngành với sự trợ giúp của phần mềm Expert
Choice cũng như sự tham gia đóng góp của các chuyên gia đầu ngành.
Bước 5: Tính toán hệ số TCC
Sử dụng các giá trị T,H,I,O và các cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ

T,H,I,O
) có thể tính được TCC bằng phương trình 1 ở trên. TCC của công ty cho biết sự đóng
góp của công nghệ của toàn bộ hoạt động chuyển đổi vào đầu ra của công ty.
Việc phân tích hàm lượng công nghệ có thể cho ta biết được điểm mạnh, điểm yếu của
doanh nghiệp liên quan đến công nghệ và các động lực chuyển đổi ở cấp công ty. Nó cho
phép xác định các ưu tiên trong phân bổ nguồn lực nhằm nâng cấp các thành ph
ần công nghệ.
Nó không ảnh hưởng bởi sự không hoàn chỉnh của thị trường công nghệ và có thể bổ sung
cho việc phân tích tài chính thông thường. Hơn nữa, việc phân tích hàm lượng công nghệ có
thể làm tăng khả năng sàng lọc kho công nghệ quốc gia và nâng cao năng lực quốc gia về mặt
đánh giá công nghệ khi hợp tác với nước ngoài. 19
Xin xem chi tiết trong tập II tài liệu của dự án Atlas công nghệ có tựa đề: Đánh giá hàm lượng công nghệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status