Điều tra, đánh giá và xây dựng cơ sở dữ liệu về trình độ công nghệ trên địa bàn tỉnh quảng ninh - Pdf 13

Bộ khoa học và công nghệ
Tổng cục tiêu chuẩn-đo lờng-chất lợng

Báo cáo tổng kết đề tài

điều tra, đánh giá và xây dựng
cơ sở dữ liệu về trình độ công nghệ
trên địa bàn tỉnh quảng ninh
Chủ nhiệm đề tài: KS . nguyễn mạnh ẩm


12. Ths.
Nguyễn Ngọc Thanh
, Sở Công nghiệp Hà Nội, chủ trì ĐG TĐCN các
Doanh nghiệp ngành sản xuất điện; vật liệu xây dựng; sứ, thuỷ tinh và chế bi
ến
thực phẩm.
13. KS. Nguyễn Dương Tý
14. TS. Hoàng Vĩnh Sinh, ĐH. Bách khoa Hà Nội, chủ trì thành lập phần mềm
máy tính và trang WEB.
2
BÀI TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu được Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất
lượng I và Sở KHCN tỉnh Quảng Ninh phối hợp thực hiện theo Quyết định số
2062/QĐ-BKHCN ngày 28/10/2004 về việc phê duyệt danh mục các đơn vị chủ trì

đồng bộ; tính tiên tiến; khả năng còn lại của thiết bị…).
+ Tập chỉ tiêu về quản trị, kinh doanh
(hệ thống và cán bộ quản lý; con người; tin
học hoá; vốn, lợi nhuận; khả năng phát triển, liên doanh, liên kết…).
Để có những dữ liệu cho ĐG TĐCN, đã tổ chức tốt phương pháp tiếp cận
thực tế; phương pháp chuyên gia; hội thảo, tập huấn, chuyển giao. Tất cả các tính
toán, các biểu bảng, hình vẽ… điều được thực hiện bằng phầm mềm máy tính được
thành lập trong quá trình thực hiện đề tài.
3
Kết quả đã thu thập đầy đủ các chủng loại số liệu (với hàng nghìn trang
giấy A4, ảnh số các loại…) của 100 doanh nghiệp; bức tranh TĐCN và những đề
xuất giải pháp đầu tư phát triển công nghệ hợp lý cho 50 DN của 10 ngành trọng
điểm; xây dựng, hoàn thiện phầm mềm máy tính tính toán, xử lý số liệu; trang WEB
về các doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp các DN đó tự đánh giá TĐCN củ
a
mình. Kết quả của đề tài đã khẳng định được tính hợp lý và hiệu quả của tổ hợp
phương pháp đánh giá. Tổ hợp phương pháp này ngoài đánh giá tốt cho các DN
ngành công nghiệp còn có thể áp dụng đánh giá TĐCN các ngành rất đặc thù như
du lịch, chế biến và nuôi trồng thuỷ sản (ngành công nghiệp “có khói” và “không
khói”).


I.2.2. Sơ lược một số tiềm năng chính của tỉnh 23
I.2.3. Đối tượng được đánh giá TĐCN tại Quảng Ninh 27

I.3. QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ 28
I.3.1. Các bước công việc đã thực hiện của đề tài 28
I.3.2- Quy trình đánh giá TĐCN 30
PHẦN THỨ HAI: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ 35
II.1- KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TĐCN NGÀNH THAN 35
II.1.1- Tổng quan tình hình 35

II.1.2- Kết quả đánh giá công nghệ 37
II.1.3- Đề xuất phương hướng đầu tư, phát triển 65
II.2- KẾT QUẢ ĐG TĐCN NGÀNH CƠ KHÍ 67

II.2.1- Kết quả ĐGCN tại các cơ sở 67
II.2.2- Đánh giá chung 76
II.2.3- Đề xuất phương hướng đầu tư, phát triển 80
II.3- KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TĐCN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TÀU THUỶ 81
II.3.1- Tình hình hoạt động sản xuất-kinh doanh 81
II.3.2- Kết quả ĐG TĐCN ngành công nghiệp tàu thuỷ 83
II.3.3- Đánh giá chung và đề xuất các giải pháp 95
II.4- KẾT QUẢ ĐG TĐCN NGÀNH VẬT LIỆU XÂY DỰNG 99
II.4.1- Các doanh nghiệp và sản phẩm được điều tra đánh giá 99
II.4.2- Kết quả ĐG TĐCN ngành Vật liệu Xây dựng 100
II.4.3- Các giải pháp nâng cao trình độ công nghệ 109

II.5- KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TĐCN NGÀNH CHẾ BIẾN VÀ NUÔI TRỒNG
THUỶ SẢN 112

5

PHÁP 222

III.1- TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TĐCN 222
III.1.1- Nhóm các doanh nghiệp ngành than 222
III.1.2- Nhóm ngành công nghiệp tàu thuỷ Quảng Ninh 224

III.1.3- Nhóm ngành công nghiệp vật liệu xây dựng 227
III.1.4- Nhóm ngành gốm–sứ–thuỷ tinh 229
III.1.5- Ngành sản xuất điện Quảng Ninh 231
III.1.6- Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm 233

III.1.7- Nhóm ngành công nghiệp cơ khí Quảng Ninh 234
III.1.8- Ngành công nghiệp dịch vụ cảng 236
III.1.9- Ngành dịch vụ du lịch Quảng Ninh 238
III.1.10- Ngành chế biến nuôi trồng thuỷ sản Quảng Ninh 242

III.2- ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 244
III.2.1- Sự biến đổi cơ cấu GDP 246
III.2.2- Đối với một số nhóm ngành 247
6
III.2.2.1- Ngành than 247
III.2.2.2- Ngành điện 249
III.2.2.3- Ngành công nghiệp đóng tàu và dịch vụ cảng 249
III.2.2.4- Ngành công nghiệp cơ khí Quảng Ninh 251
III.2.2.5- Ngành dịch vụ du lịch 252
III.2.3- THAY LỜI KẾT LUẬN 254
TÀI LIỆU THAM KHẢO 255
PHỤ LỤC 1: HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CÔNG
NGHỆ 257
PHỤ LỤC 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ

CNTT : công nghệ thông tin
DN : doanh nghiệp
ĐG TĐCN: đánh giá trình độ công nghệ
KH CN MT : khoa học công nghệ môi trường
Phần tiếng Anh
APCTT: Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á-Thái Bình Dương
ESCAP: Uỷ ban Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương

S & T : Khoa học và công nghệ
8
LỜI NÓI ĐẦU Đối với mỗi quốc gia, sự phát triển của nền kinh tế luôn gắn liền với sự
phát triển của công nghệ. Đặc biệt, trong môi trường phát triển ngày càng tăng trên
toàn cầu, trình độ công nghệ của mỗi nước luôn luôn được coi là yếu tố rất quan
trọng, quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế, khả năng cạnh tranh của đất
nước đó trên trường thế
giới.
Trong quá trình đi lên công nghiệp hoá-hiện đại hoá, đất nước chúng ta
không phải là một ngoại lệ. Muốn phát triển kinh tế nhanh và đúng hướng, cần có
sự đầu tư và phát triển công nghệ sao cho phù hợp với điều kiện và khả năng của
mình. Để có định hướng đầu tư một cách đúng đắn, sự phát triển phù hợp cho công
nghệ của đất nước trong tương lai, chúng ta phải bi
ết được khả năng, trình độ công
nghệ hiện tại của mình. Muốn vậy, phải thực hiện công tác điều tra, đánh giá trình
độ công nghệ.
Từ lâu, có nhiều quốc gia đã quan tâm và thực hiện việc đánh giá TĐCN để
phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Cho tới nay, trên thế giới đã áp dụng một số
phương pháp đánh giá công nghệ, trong đó, mỗi phương pháp đều có các ư

ánh giá TĐCN theo phương pháp ATLAS-
CN. Cụ thể là nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá của 4 thành phần công nghệ T,
H, I, O và các chỉ tiêu đạc thù phù hợp với tỉnh Quảng Ninh.
+ Nghiên cứu xây dựng phần mềm máy tính tính toán và trang WEB về
TĐCN các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
+ Tập huấn cho các chuyên gia của các đơn vị về nội dung và phương pháp
đánh giá TĐCN và tiến hành đánh giá tại từng Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
+ Thành lập báo cáo tổng kết
đề tài với đầy đủ các nội dung cần thiết.
Đối tượng đánh giá TĐCN là 100 DN của 10 ngành công nghiệp trọng điểm
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (khai thác, chế biến than; cơ khí; CN tàu thuỷ; vật
liệu xây dựng; chế biến và nuôi trồng thuỷ sản; sản xuất điện; chế biến thực phẩm;
sành, sứ, thuỷ tinh; cảng biển; và du lịch).
Đề tài được Bộ KH và CN cho phép triển khai từ tháng 07 n
ăm 2005 với
tổng kinh phí 920 triệu đồng từ vốn ngân sách.
Báo cáo tổng kết đề tài được bố cục làm 3 phần:
Phần thứ nhất: Cơ sở, phương pháp luận và chu trình đánh giá trình độ công nghệ.
Phần thứ hai: Kết quả đánh giá trình độ công nghệ của từng doanh nghiệp
Phần thứ ba : Tổng hợp kết quả và đề xuất định hướng, giải pháp.
Đ
i kèm với báo cáo này là 10 tập báo cáo tổng kết nghiên cứu đánh giá 50
DN của 10 ngành công nghiệp tiêu biểu trên địa bàn tỉnh; trang Web giới thiệu tình
hình hoạt động và năng lực công nghệ của các DN; các loại dữ liệu và phần mềm
máy tính; băng đĩa ghi hình…đầy đủ các sản phẩm đã đăng ký của đề tài.
Đề tài được Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng 1 (sau đây
gọi tắt là Trung tâm Kỹ thuật 1) và S
ở KH và CN Quảng Ninh phối hợp thực hiện
với sự tham gia của tập thể các chuyên gia chuyên ngành, các nhà quản lý, sản xuất
thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều cơ quan nghiên cứu, đào tạo, sản suất, như Đại học

học. Thuộc lĩnh vực nghiên cứu, trên thế giới đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu
bằng nhiều phương pháp khác nhau và kết quả cũ
ng khác nhau. Tại Việt Nam
hướng nghiên cứu này đã được triển khai song chưa nhiều (chúng tôi sẽ đề cập đến
ở những phần sau). Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ của đề tài là lựa chọn
và trình bày một cở sở phương pháp luận hợp lý áp dụng đánh giá TĐCN trên địa
bàn của một tỉnh với nhiều đặc thù như Quảng Ninh góp phần hoàn thiện phương
pháp luận đánh giá T
ĐCN của Bộ KH và CN.
Ngoài nội dung chính là lựa chọn và đề xuất được cơ sở phương pháp luận,
quy trình đánh giá TĐCN hợp lý; trong chương này còn đề cập đến tổng quan về
tình hình đánh giá TĐCN trên địa bàn tỉnh.
I.1- TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TĐCN
I.1.1-Trên thế giới
Từ năm 1960, tại một số nước công nghiệp phát triển, việc đánh giá TĐCN
đã được nghiên cứu và triển khai, chủ yếu để đáp ứng cho các nhu cầu về dự báo
sớm, phục vụ cho công tác hoạch định chính sách. Đến năm 1980, khái niệm mới về
đánh giá TĐCN ra đời, đã có các nghiên cứu khác nhau về việc đánh giá TĐCN để
đáp ứng cho nhiều mục đích khác nhau. Tại các nướ
c đó, người ta chú trọng từ dự
báo TĐCN sang việc làm sao và khi nào những thông tin công nghệ sẽ được các nhà
hoạch định chính sách và những tổ chức ứng dụng vào quá trình phát triển và sử
dụng công nghệ. Công tác đánh giá TĐCN, một mặt giúp tăng cường mối quan hệ
giữa nghiên cứu, triển khai về phát triển sản phẩm, mặt khác tăng cường phạm vị
ứng dụng công nghệ.
Hiện nay, rất nhiề
u quốc gia coi công nghệ là một động lực giúp thúc đẩy
phát triển kinh tế-xã hội. Do vậy, tại các nước Mỹ, Canađa, Pháp, Đức, Nhật… đã
khá hoàn thiện các chính sách ngắn và dài hạn cho phát triển công nghệ. Bài học rút
ra cho các nước đang phát triển là, trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá

các chỉ tiêu riêng rẽ, không thể giúp đánh giá tổng quát v
ề TĐCN, vì vậy sẽ không có
bức tranh đầy đủ và sát thực về TĐCN, rất hạn chế trong việc sử dụng các kết quả đánh
giá phục vụ cho công tác quản lý, hoạch định chính sách
Phương pháp ATLAS-CN đã khắc phục được hạn chế này, do vừa đánh giá
các chỉ tiêu thành phần (phân lập), vừa đánh giá được một cách tổng hợp về TĐCN
(bằng biểu đồ hình thoi 4 thành phần).
13
+ Năm 2003, dự án “Điều tra khảo sát TĐCN một số ngành sản xuất công
nghiệp tỉnh Đồng Nai” của Sở KHCN và MT tỉnh Đồng Nai.
+ Năm 1999, dự án “ĐG và thẩm định CN” của Bộ KHCN và MT.
+ Năm 2002, dự án “ĐG hiện trạng CN Quận 8” của Uỷ ban nhân dan Quận
8, TP. Hồ Chí Minh.
+ Năm 2002, dự án “ĐG thực trạng TĐCN của các cơ sở sản xuất thuộc tỉnh
Bà R
ịa-Vũng Tàu và đề xuất phương án đổi mới trong giai đoạn 2005 - 2010”.
+ Năm 2003, dự án “Điều tra, ĐG thực trạng CN một số ngành sản xuất chủ
yếu trên địa bàn tỉnh Bình Dương”
+ Năm 2004, dự án “Xây dựng Phương pháp ĐG TĐCN sản suất trên cơ sở
phương pháp ATLAS-CN” của Vụ KH và CN, Bộ Công Nghiệp.
+ Năm 2005, đề tài “ĐG TĐCN ngành khai thác, chế biến than Việt Nam”
củ
a Viện KHCN Mỏ.
Có thể nhận định; cho đến nay, công tác nghiên cứu, đánh giá TĐCN ngoài
nước cũng như trong nước đã trải qua chặng đường phức tạp, có nhiều phương pháp
khác nhau. Mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm riêng. Trong khuôn khổ báo
cáo, chúng tôi xin giới thiệu khái lược về một số phương pháp điển hình, bao gồm:
ĐG TĐCN về mặt kinh tế, ĐG TĐCN bằng cách phân lập, ph
ương pháp phân tích
chiến lược, phương pháp đa chỉ tiêu và phương pháp ATLAS-CN.

phương pháp khác ra đời để tính toán và so sánh TĐCN ở một số nước là so sánh
các đặc tính của một quy trình công nghệ hoặc chất lượng sản phẩm của quy trình
công nghệ đó. Cách tiế
p cận này được gọi là đo lường công nghệ học, nhằm xác
định các đặc tính kỹ thuật riêng biệt của sản phẩm và quy trình công nghệ, đồng
thời so sánh chúng trên phạm vi vùng lãnh thổ, khu vực và toàn thế giới.
Đo lường công nghệ sử dụng một số chỉ số phân lập về các đặc tính kỹ thuật của
sản phẩm hay quy trình công nghệ và xem chúng như là các đơn vị vật lý. Phương
pháp được s
ử dụng để ĐG TĐCN ở các nước CHLB Đức, Nhật Bản và Mỹ. trong
một số lĩnh vực như laze, môdul quang điện, các chất xúc tác sinh học, người máy
công nghiệp, các bộ cảm biến, các thuốc sản xuất theo công nghệ gen. Ưu điểm
chính của phương pháp là thích hợp cho việc đánh giá các sản phẩm hoặc quy trình
công nghệ đang ở giai đoạn sản xuất thử và chuẩ
n bị đưa ra thị trường. Tuy nhiên,
chỉ các nhà công nghệ học và các nhà lập kế hoạch công nghệ ưa sử dụng phương
pháp này còn các nhà hoạch định chính sách quốc gia hay các nhà xây dựng kế
hoạch kinh tế không ưa chuộng.
I.1.3.3- Đánh giá TĐCN theo phương pháp phân tích chiến lược
Phương pháp này được sử dụng để ĐG TĐCN ở cấp ngành công nghiệp chủ
yếu nhằm đáp ứng với chiến lược qu
ản lý định hướng công nghệ. Hướng tiếp theo
15
của phương pháp chủ yếu nhằm vào các chiến lược quản lý để nâng cao tính cạnh
tranh về mặt công nghệ, tài chính và cơ cấu tổ chức.
Trong những năm thập kỷ 70 thể kỷ XX, cách tiếp cận này đã được ứng dụng
vào một số nghiên cứu nhằm đánh giá ưu thế của công nghệ Nhật Bản so với các
nước khác. Tuy nhiên, những nghiên cứu này không xét tới những thay đổi về công
nghệ sẽ thay đổi trong tương lai. Phương pháp này không được chấp nhận bởi các
nhà kinh tế. Một số nghiên cứu tiếp theo chỉ đơn thuần là những nghiên cứu điển

nghiên cứu về TĐCN của một số ngành công nghiệp, trong đó chủ yếu sử dụng
cách tiếp cận đa chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ phân lập. Thực tế cho thấy,
các nghiên cứu ở cấp ngành, trong đó kết hợp sử dụng các chỉ số kinh tế và công
nghệ sẽ rất có ích đối với người ra quyết định liên quan đến lĩnh vự
c kế hoạch hoá
công nghiệp. Tuy nhiên, hệ thống các chỉ số do OECD xây dựng còn những hạn chế
lớn, nhìn chung rất không phù hợp cho các dự án về công nghệ được thực hiện ở
các nước đang phát triển.
Nhận xét: Mỗi phương pháp nêu trên có những, ưu nhược điểm riêng.
Những nhược điểm cơ bản có thể rút ra được là:
• Đối với phương pháp đánh giá dựa vào kinh tế v
ĩ mô, chúng ta không thể
xác định được các yêu tố yếu kém về công nghệ một cách tổng hợp.
• Đối với việc sử dụng các số liệu đầu vào cho KH và CN, chúng ta khó
xác định được mức độ thay đổi CN của một số ngành công nghiệp.
• Số lượng ấn phẩm xuất bản, số lượng các bằng sáng chế hoặc các chỉ số
khác về nguồn lực cho KHCN cũng chỉ phần nào ph
ản ánh được TĐCN
vì hiệu quả sử dụng chúng có thể khác nhau.

Những chỉ số truyền thống dễ bị bóp méo và không hữu dụng lắm đối với
việc xây dựng các kế hoạch chi tiết.

Phương pháp phân tích chiến lược quản lý chỉ đáp ứng được trong phạm
vi của một doanh nghiệp.
• Phương pháp đa chỉ số kết hợp với các chỉ số kinh t
ế vĩ mô không giúp
nhà nghiên cứu đưa ra được các kiến nghị mang tính chất giải pháp.
• Cách tiếp cận đa chỉ số cũng như cách tiếp cận kinh tế cho chúng ta biết
trình độ hiện thời của CN nhưng không thể cho chúng ta biết đâu là yếu

ng pháp ATLAS-CN xem công ngệ như tổ
hợp gồm 4 thành phần cơ bản (thành phần kỹ thuật-technoware-T, thành phần con
người-humaware-H, thành phần thông tin-infoware-I, thành phần tổ chức-
orgaware-O), tương tác với nhau một cách năng động, cùng tham gia vào quá trình
chuyển đổi.
Trong phương pháp ATLAS-CN, phương pháp phân tích hàm lượng công
nghệ tập trung vào khía cạnh công nghệ là cách tiếp cận định lượng để đo mức độ
đóng góp của mỗi thành phần công nghệ
trong 4 thành phần T, H, I, O tại một
phương tiện chuyển đổi.
Phần Kỹ thuật
là hình thức biểu hiện về mặt vật thể của công nghệ, bao
gồm các năng lực cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, như các thiết bị máy móc…
Phần Con người là hình thức biểu hiện về mặt con người của công nghệ,
bao gồm các năng lực cần thiết mà con ngườ
i đã tích luỹ được cho các hoạt động
chuyển đổi.
Phần Thông tin là hình thức biểu hiện về mặt tư liệu của công nghệ, bao
gồm toàn bộ dữ liệu và các số liệu cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, như các bản
thiết kế, bản tính toán; các phương trình, biểu đồ; phần cứng, phần mềm máy tính…
18
Phần Tổ chức là hình thức biểu hiện về mặt thể chế của công nghệ, bao gồm
các cơ cấu tổ chức cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, như hệ thống tổ chức, đều
hành sản xuất; phân chia trách nhiệm…
Trong bất cứ một hoạt động chuyển đổi nào, tất cả 4 thành phần của công
nghệ đều phải có mặt đồ
ng thời. Sự chuyển đồi này có thể lý giải như sau:

Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ chuyển động nào, được triển khai lắp
đặt bởi Con Người.

CN

τ
λ
= (1) hoặc QT
CN

τ
λ
=

Trong đó, λ : hệ số đặc trưng của môi trường sản xuất kinh doanh
VA: tổng giá trị gia tăng
19
Q : tổng doanh thu của sản phẩm
τ : hệ số đóng góp công nghệ, được xác định theo giá trị của 4 thành
phần công nghệ T, H, I, O như ở công thức 2. 0

ββββ
τ
OIHT
lhi
=
(2)

)(
1

i
i
II

=
=
α
(Infowere) (5)

)(
1
O
l
N
i
i
O

=
=
α
(Orgawere) (6)

[
]






b. Hệ thống quản lý doanh nghiệp và cán bộ quản lý chủ chốt (Executive
Managers)
c. Năng suất nội sinh
d. Lợi nhuận, thuế, luơng, và phúc lợi người lao động
e. Vốn các loại, khả năng quay vòng vốn,…
f. Marketing
g. Khả năng liên kết phát triển, liên doanh n
ước ngoài, mở rộng và phát triển
sản phẩm.
h.Các chỉ tiêu riêng, dạng dưới luật có thể phát sinh khi đánh giá từng cơ sở
20
Chi tiết hoá về hệ thống các chỉ tiêu đặc thù này như sau:
1. Nhóm các chỉ tiêu kỹ thuật bao gồm:
a. Tính tương thích của công nghệ và thiết bị-sản phẩm, hiện trạng và những
khả năng phát triển.
b. Tính đồng bộ của công đoạn sản xuất về năng xuất và những khả năng
đồng bộ hoá.
c. Tính tiến bộ của công nghệ, trang thiết bị và hướng sản xu
ất tự động linh
hoạt cơ-điện tử-tin học ứng dụng.
2. Nhóm quản trị-kinh doanh bao gồm:
a. Vốn
b. Tiếp thị
c. Lợi nhuận và phúc lợi người lao động
d. Năng lực nội sinh và phát triển liên doanh, cổ phần hoá…
e. Tỷ suất đầu tư đổi mới thiết bị trong dây chuyền công nghệ.
Phương pháp đánh giá theo nhóm các chỉ tiêu kỹ thuật đầu
tiên được các
chuyên gia cho điểm theo bảng đã được xây dựng sau đó tính toán theo các công thức
(8).

ld
Q
S =
1
[VNĐ] (9)
Trong đó: Q: Giá trị tổng doanh thu
ld: Tổng số lao động
- Mức sinh lời cho một lao động – P
2
:

ld
P
P =
2
[VNĐ] (10)
Trong đó: P : Lợi nhuận.
ld : Tổng số lao động.
- Sức sản xuất của tài sản cố định – S
3
:

2
3
K
Q
S =
[lần] (11)
Trong đó, K
2

* VA = Doanh thu thuần (trong đó có lương) – Tổng chi phí mua ngoài
(vật tư, bảo trì thiết bị, phụ tùng thay thế, điện nước…).
Chi tiết hơn cho cách tính toán được chúng tôi thể hiện ở phụ lục số 1 và 2.

22
I.2. ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHỆ TẠI QUẢNG NINH
I.2.1. Bối cảnh chung
Qua các phân tích trên, phương pháp đánh giá trình độ công nghệ các ngành
công nghiệp bằng phương pháp ATLAS-CN có nhiều ưu việt so với các phương
pháp đánh giá công nghệ khác. Phương pháp này đã được một số tỉnh và doanh
nghiệp trong nước triển khai áp dụng có kết quả nhất định song cũng còn những hạn
chế. Vấn đề đặt ra là áp dụng phương pháp ATLAS-CN có kết hợp với tổ hợp các
thông số khác như đã nêu để ĐG TĐ
CN cần được áp dụng như thế nào cho phù hợp
với tình hình thực tế hiện nay ở Quảng Ninh nói riêng và Việt Nam nói chung.
Đất nước Việt Nam, sau công cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách thực dân-
phong kiến, vốn là một đất nước có nền kinh tế lạc hậu và phụ thuộc. Sau khi giành
được độc lập, lại phải tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước. Sau giải phóng, đất
nước lại phải trải qua giai đ
oạn với nhiều thập kỷ vừa xây dựng đất nước (làm kinh
tế) vừa phải chiến đấu (chiến tranh bảo vệ tổ quốc, giành thống nhất đất nước). Tình
hình trên bắt buộc chúng ta phải tự lực cánh sinh (tận dụng nguồn nội lực) và tranh
thủ sự giúp đỡ của các nước bạn, không thể có sự đầu tư đồng bộ và hoàn chỉnh cho
các ngành kinh tế đất n
ước. Cho đến nay, có thể nói đặc điểm chung của nền công
nghiệp Việt Nam: Trong mỗi ngành công nghiệp (và ngay cả trong từng đơn vị sản
xuất) các máy móc, trang thiết bị, dây chuyền công nghệ hầu hết đều có nguồn gốc
từ nhiều nước, cũ kỹ, lạc hậu xen kẽ với các máy mới, hiện đại của nước ngoài
(thuộc nhiều thế hệ (kiểu-model), năm sản xuấ
t với các trình độ kỹ thuật khác nhau,

huyện đảo: Cô Tô và Vân Đồn) với diện tích 980 km
2
.
Quảng Ninh có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú (như tài
nguyên khoáng sản có trữ lượng lớn: than đá, sét cao lanh, đá vôi ). Với vị trí địa
lý thuận lợi, có rừng, có sông biển, đồng bằng, thuận lợi cho giao lưu kinh tế giữa
các vùng trong nước và với ngoài nước, Quảng Ninh có nhiều tiềm năng phát triển
các ngành công nghiệp khai thác, chế biến và đặc biệt là “công nghiệp không
khói”: du lịch và dịch vụ.
Với các tiềm năng và ưu thế
nêu trên, Quảng Ninh có nhiều ưu thế để phát
triển công nghiệp. Quảng Ninh vốn có các ngành nghề truyền thống và rất đặc thù
đã phát triển: Sản xuất gốm sứ, khai thác than, đánh bắt thuỷ hải sản Quảng Ninh
đã đầu tư phát triển các ngành du lịch, dịch vụ cảng biển, đóng tàu Tại tỉnh, đã
hình thành các khu công nghiệp tập trung (Cái Lân…) và đang lập dự án quy hoạch
khu công nghiệp Việt Hưng (Hạ
Long), Ninh Dương (Móng Cái), Chạp Khờ, Dốc
Đỏ (Uông Bí), Đông Mai (Yên Hưng), Kim Sơn (Đông Triều) và Mũi Chùa (Tiên
Yên). Sau đây là một số tiềm năng chính của Quảng Ninh.
+ Tiềm năng phát triển công nghiệp khai thác, chế biến than:
Là vùng “vàng đen” lớn nhất của tổ quốc, Quảng Ninh có trữ lượng đã tìm kiếm
thăm dò khoảng 3,6 tỷ tấn. Than đá Quảng Ninh hầu hết thuộc dạng antraxit, tỷ lệ
24
carbon ổn định 80 - 90%, nhiệt lượng cao (7.350 - 8.200 kCal/kg) và tập trung tại 3
khu vực chính là Hòn Gai, Cẩm Phả - Dương Huy và Uông Bí - Mạo Khê. Sản lượng
than tiêu thụ năm 2005 là 27,3 triệu tấn, trong đó xuất khẩu 15 triệu tấn.
Chỉ tính riêng tại Quảng Ninh, trong vài năm tới với sự ra đời của một loạt cơ sở
công nghiệp lớn (các nhà máy xi măng, nhiệt điện, phân bón, hóa chất, gạch chịu lửa ),
nhu cầu về than nhiên liệ
u và than chế biến sẽ rất lớn (dự kiến khoảng 7 triệu tấn/năm).

phát triển cảng biển. Đặc biệt Cái Lân và Cửa Ông là hai c
ảng được các dãy núi đá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status