Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ,
với sự hình thành và phát triển của các ngành nghề sản xuất, sự gia tăng nhu cầu tiêu
dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước. Tuy nhiên, lượng chất thải từ các hoạt động sản xuất cũng ảnh
hưởng đến đời sống cuộc sống và môi trường nếu không được thu gom và xử lý. Do
đó, tìm kiếm các giải pháp thu gom và xử lý chất thải trở thành vấn đề tiên quyết
trong việc bảo vệ môi trường sống cũng như cuộc sống của người dân.
Chất thải rắn (CTR), trong đó có chất thải rắn nguy hại ngày càng gia tăng mà
chưa được xử lý triệt để đang gây sức ép lớn đối với môi trường, sức khỏe và nền
kinh tế Việt Nam
Việt Nam đang gặp những sức ép rất lớn về môi trường nói chung và quản lý
chất thải rắn nói riêng. Trên phạm vi toàn quốc, chất thải rắn phát sinh ngày càng
tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm và dự báo còn tiếp tục tăng mạnh trong
thời gian tới cả về lượng và mức độ độc hại. Trong khi đó, tại thành thị, CTR thường
được phân loại, xử lý bằng cách thu gom lẫn lộn và chủ yếu là đem chôn lấp. Còn tại
nông thôn, việc xử lý chất thải rắn vẫn còn rất thô sơ, lạc hậu và không đảm bảo vệ
sinh môi trường. Chất thải rắn công nghiệp được thu gom với tỷ lệ trên 90%, nhưng
vấn đề quản lý và xử lý sau thu gom lại chưa được kiểm soát tốt. Đặc biệt, về rác thải
y tế, các bệnh viện đều tiến hành thu gom, phân loại chất thải, nhưng phương tiện thu
gom còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn và không có các trang
thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn sẽ có khả năng gây những
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Thành phố Đồng Hới là trung tâm kinh tế - văn hóa, là đầu mối giao thông quan
trọng của tỉnh Quảng Bình. Bên cạnh đó, Đồng Hới có nhiều tiềm năng trong phát
triển du lịch, chằng hạn như Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, bãi biển Nhật
Lệ…. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, áp lực xử lý CTR và ô
nhiễm môi trường ngày càng lớn, nhất là rác thải sinh hoạt. Ví dụ, năm 2011 lượng
rác thải trên toàn thành phố là 27.375 tấn nhưng đến năm 2013 lượng rác thải trên
Đồng Hới.
2
Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
Phạm vi không gian: Nghiên cứu chỉ xây dựng cơ sở dữ liệu CTR thực hiện ở
phạm vi nội thành, nơi có diễn ra hoạt động thu gom, vận chuyển CTR trên địa bàn
TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài đó là:
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan như: Điều kiện tự nhiên; kinh tế - xã hội
của địa phương; hiện trạng rác thải, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải.
Các số liệu này được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ trang thông tin
điện tử tỉnh Quảng Bình, các báo cáo của Công ty TNHH Một thành viên Môi trường
và Phát triển Đô thị Quảng Bình, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình… Ngoài
ra, đề tài còn tổng hợp nhiều tài liệu qua sách, báo, mạng internet, luận văn các khóa
trước…
4.2. Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp nhằm bổ sung số liệu, hoặc kiểm tra lại số liệu mà bản thân
cảm thấy chưa hợp lý hoặc còn thiếu sót trong quá trình thu thập. Phương pháp này
còn giúp cho chúng tôi có được một cách nhìn tổng thể và thực tế về vấn đề rác thải
thành phố. Chúng tôi đã khảo sát những điểm trung chuyển rác trong thành phố, đến
các bãi rác Lộc Ninh, đến các cơ sở sản xuất, các điểm tập trung rác thải tại các khu
vực công cộng, chợ… để kiểm tra đối chiếu với số liệu thu thập được, từ đó chọn ra
những số liệu phù hợp.
4.3. Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp có ý nghĩa quan trọng, dựa vào bản đồ ta có thể biết
được đặc điểm của địa hình, thủy văn, hình dạng và diện tích…của khu vực nghiên
cứu, đồng thời dựa vào bản đồ ta có thể vạch được các tuyến khảo sát hợp lý và có
khoa học chính vì thế trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng bản đồ hành
chính, bản đồ thủy văn, bản đồ địa hình thành phố Đồng Hới…và kết quả nghiên
17’ đến 106
o
24’ kinh độ Đông, cách TP Huế 160 km về phía Nam và
cách Hà Nội khoảng 560 km về phía Bắc, có tổng diện tích là 155,54 km
2
.
Thành phố có vị trí trung độ của tỉnh Quảng Bình, cách khu du lịch di sản thiên
nhiên thế giới vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 50 km, cách khu du lịch suối
Bang 50 km, cách khu cụm Cảng biển Hòn La 60 km và cửa khẩu quốc tế Cha Lo
180 km, Đồng Hới nằm ngay dọc bờ biển, có sông Nhật Lệ chảy giữa lòng thành phố,
bờ biển với chiều dài 12 km về phía Đông thành phố và hệ thống sông, suối, hồ, rừng
nguyên sinh ở phía Tây thành phố rất thích hợp cho phát triển du lịch, nghỉ ngơi, giải
trí.
Phạm vi lãnh thổ tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp Huyện Bố Trạch.
- Phía Nam giáp huyện Quảng Ninh.
- Phía Đông giáp biển Đông.
- Phía Tây giáp huyện Bố Trạch và huyện Quảng Ninh.
1.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.2.1. Địa chất – Địa hình
Đặc điểm địa hình, địa chất của TP Đồng Hới đa dạng bao gồm vùng gò đồi,
vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển.
*Vùng gò đồi: Nằm ở phía Tây thành phố, vắt ngang từ Bắc xuống Nam, gồm
có các xã Thuận Đức, phường Đồng Sơn và có độ cao trung bình 12 - 15m, với diện
tích 6.493 ha, chiếm 41,7% so với tổng diện tích của thành phố. Cư dân ở đây sinh
sống bằng nghề trồng rừng, làm rẫy, chăn nuôi và trồng trọt.
*Vùng bán sơn địa: Là một vòng cung gò đồi không cao lắm (độ cao trung bình
10m), bao bọc lấy khu vực đồng bằng theo hướng Bắc - Đông Bắc đến Tây Bắc - Tây
Nam và Nam - Đông Nam, bao gồm các xã, phường Bắc Lý, Nam Lý, Nghĩa Ninh,
Bắc Nghĩa, Đức Ninh, Đức Ninh Đông, Lộc Ninh và Phú Hải. Diện tích đất tự nhiên
cả năm. Mưa tập trung theo mùa và phân bố không đều giữa các tháng trong năm đã
ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống nhân dân.
Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình 83 – 84%.
Gió: Đồng Hới mang tính chất chung của khí hậu gió mùa: gió mùa mùa Đông
và gió mùa mùa Hè. Gió mùa mùa Đông thổi từ Bắc đến Đông Bắc, tuy nhiên thỉnh
thoảng cũng xuất hiện các hướng gió như gió Nam hoặc gió Tây Nam, nhưng tần
xuất các hướng gió này không đáng kể. Gió mùa mùa Hạ: chủ yếu là gió Tây Nam,
ngoài ra cũng còn xuất hiện các hướng gió khác như Đông – Đông Nam thổi xen kẽ
với tần suất tương đối cao.
1.2.3. Thủy văn
6
Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
Mạng lưới thủy văn của thành phố khá phong phú có cả hồ và sông. Trong khu
vực thành phố có 04 con sông; trong đó sông Nhật Lệ lớn nhất với diện tích lưu vực
22.462 km
2
, dài 96 km, chiều rộng đoạn chảy qua thành phố là 800 m. Sông thường
bị nhiễm mặn tuy nhiên lại có giá trị rất lớn trong việc thoát nước và điều hòa khí hậu
thành phố. Sông Mỹ Cương với thượng lưu là hồ chứa Phú Vinh với trữ lượng 21
triệu km
3
.
Ngoài các sông trên thành phố còn có một số hồ như: Hồ Bàu Tró, hồ Phú Vinh,
Đồng Sơn và hồ Hải Thành. Trong đó hồ Bàu Tró là hồ cung cấp nước sinh hoạt
chình cho toàn thành phố.
1.2.4. Hệ thống cây xanh
Cây xanh đóng vai trò lớn trong việc điều hòa không khí, tạo cảnh quan, giữ gìn
môi trường không khí trong lành thoáng mát cho các khu dân cư.
Tính từ năm 2011 đến 2013 thành phố đã quan tâm và đẩy mạnh việc trồng cây
xanh đường phố, đến nay đã trồng được trên 19.490 cây trên toàn thành phố. Trong
hướng phát triển đa dạng các loại hình tổ chức trường lớp. Phát triển mạng lưới
trường học, hoàn chỉnh cơ cấu giáo dục từng xã, phường đảm bảo thu hút hầu hết con
em trong độ tuổi vào học.
Đến nay có 16/16 xã, phường đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và
phổ cập THCS, trong đó có 8 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học
đúng độ tuổi mức độ 2 như phường Hải Đình, phường Đồng Mỹ, phường Hải
Thành, phường Đồng Phú, phường Đồng Sơn, xã Bảo Ninh, xã Đức Ninh, xã
Nghĩa Ninh. 15/16 xã, phường đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi trong đó
có phường Bắc Lý chưa đạt.
Hiện nay toàn ngành có 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên đạt chuẩn trình độ
đào tạo, trong đó có 78,7% có trình độ trên chuẩn tăng 4,6% so với năm 2012. Tỷ lệ
phòng học kiên cố đạt 88% tăng 4,5% so với năm 2012.
Ngành giáo dục thành phố ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất
lượng. Đây là dấu hiệu rất khả quan nhằm góp phần tích cực và công cuộc tuyên
truyền, giáo dục về những vấn đề ô nhiễm môi trường, đặc biệt là vấn đề ý thức xả
thải trong thành phố.
b. Y tế
8
Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
Trên địa bàn thành phố có một bệnh viện lớn, bệnh viện hữu nghị Việt Nam Cu
Ba Đồng Hới, với hơn 400 giường bệnh, phòng khám của thành phố có 30 giường
bệnh và các trạm y tế xã, phường có 106 giường bệnh. Đến nay, có 16/16 xã phường
có trạm y tế, trong đó có trên 8 trạm y tế có bác sĩ.
Nhìn chung, hiện nay chỉ có bệnh viện Việt Nam Cu Ba Đồng Hới là có hệ
thống xử lý rác thải y tế thông qua lò đốt, còn hầu hết rác thải tại các trạm y tế đều
được đổ chung với rác thải sinh hoạt, thậm chí có cả rác thải y tế độc hại, gây khó
khăn cho những người làm công tác thu gom và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.
Vì vậy đây là vấn đề cần được quan tâm của các ban ngành, cần phải co biện
pháo thu gom và xử lý chất thải y tế riêng nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường.
1.3.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật
Theo niên giám thống kê năm 2013 của thành phố, tính chung cả năm giá trị sản
xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố ước tính thực hiện 2.462.273 triệu đồng, tăng
10,9% so với cùng kỳ. Các loại hình kinh tế có sự tăng trưởng nhưng mức tăng chậm
hơn so với cùng ký cụ thể: Công nghiệp Nhà nước thực hiện 1.122.344 triệu đồng tăng
13,8% so cung kỳ; Công nghiệp ngoài Nhà nước thực hiện 1.318.153 triệu đồng tăng
13,9% so cùng kỳ; Loại hình liên doanh thực hiện 21.777 triệu đồng giảm 71,3%.
Trên địa bàn thành phố Đồng Hới có trên 1.300 cơ sở công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp. Trong đó, các cơ sở có khả năng gây ô nhiễm làm ảnh hưởng tới môi
trường khu vực là Nhà máy nhôm Thanh Định Đồng Hới, nhà máy xi măng số 1, Xí
nghiệp chế biến súc sản xuất khẩu… Các chất thải của các nhà máy trên đã gây ô
nhiễm không khí, nước, đất ở khu vực dân cư xung quanh.
b. Ngành sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn thành phố diễn ra trong điều
kiện hết sức khó khăn mặc dù thời tiết năm 2013 cơ bản thuận lợi, song do nạn chuột
và sâu bệnh phát triển nhanh trên diện rộng, làm cho năng suất các loại cây trồng đặc
biệt là cây lúa giảm mạnh; hiện tượng người dân bỏ ruộng ở một số xã phường ngày
càng tăng, điều kiện chăn nuôi gia súc trên địa bàn dần bị thu hẹp. Nuôi trồng thủy
sản nhiều diện tích bị thu hồi để xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch bệnh đối với vật nuôi
diễn biến bất thường khó kiểm soát, làm giảm sản lượng chăn nuôi. Giá trị sản lượng
nông, lâm nghiệp, thủy sản (theo giá so sánh 2010) năm 2013 ước thực hiện 534.300
triệu đồng, tăng 2,6% so với năm 2012.
c. Ngành thương mại và dịch vụ
Hoạt động thương mại và dịch vụ đang có xu hướng phát triển mạnh. Theo số
liệu thống kê của thành phố, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng tháng XII là 534 tỷ đồng. Năm 2013 thực hiện 6.450 tỷ đồng, đạt 92,1% kế
hoạch, tăng 14,2% so với cùng kỳ. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì mức tăng của tổng
mức bán lẻ là 6,9%. Phân theo ngành kinh tế cụ thể: ngành thương nghiệp 5.205 tỷ
đồng chiếm 80,1% là ngành có tỷ trọng lớn nhất; khách sạn, nhà hàng 671 tỷ đồng
chiếm 10,5%; du lịch lữ hành: 9 tỷ đồng; dịch vụ 565 tỷ đồng chiếm 8,8%.
10
- Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, các làng nghề thủ công – truyền thống:
Bao gồm các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, quá trình đốt nhiên liệu, đóng
gói bao bì… Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc.
- Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ cánh đồng
sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây… Rác thải chủ yếu là thực phẩm dư thừa,
phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải rác từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch
sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp.
12
Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
Hình 2.1: Sơ đồ các nguồn phát sinh CTR ở TP Đồng Hới
2.1.2. Đặc điểm chất thải rắn
Khác với rác thải công nghiệp, CTR đô thị là một tập hợp không đồng nhất.
Tính không đồng nhất biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát được của các nguyên liệu
ban đầu dùng cho sinh hoạt và thương mại. Sự không đồng nhất này tạo ra một số đặc
tình rất khác biệt trong các thành phần của rác thải sinh hoạt.
Xác định thành phần của chất thải có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự lựa chọn
phương pháp xử lý, thu hồi và tái chế, hệ thống, phương pháp và quy trình thu gom.
Nó là tiền đề tại điều kiện cho công tác quản lý rác thải diễn ra dễ dàng hơn.
Theo kết quả phân tích của Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình về
thành phần CTRSH, trong những năm gần đây trên địa bàn Thành phố Đồng Hới
thì chất thải rắn hữu cơ chiếm tỷ lệ cao nhất, thành phần chất thải rắn sinh hoạt
được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.1: Thành phần CTRSH tại thành phố Đồng Hới
TT Thành phần CTRSH Tỷ lệ
1
Các loại khác 11,4%
2
Thủy tinh, sành sứ 13,0%
3
Kim loại 0,5%
yếu tố như: mùa và vùng, yếu tố xã hội, trình độ công nghệ và mức sống. Vậy nên
cần có những biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt sao cho phù hợp.
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI Ở THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
Ở nước ta hiện nay, việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn phần lớn do
các công ty Môi trường đô thị ở các thành phố đảm nhận. Công ty chịu sự kiểm soát
của Ủy ban nhân dân Tỉnh, thành phố thông qua các Sở Khoa học Công nghệ, Sở Tài
nguyên Môi trường và Sở Giao thông công chính.
2.2.1. Công tác thu gom và vận chuyển chất thải rắn
a. Công tác thu gom
Hệ thống thu gom rác áp dụng hiện nay là thu gom bằng thùng kết hợp với xe
đẩy tay. CTRSH được thu gom bằng xe đẩy tay đến từng nhà hoặc thu gom bằng
thùng đặt nơi công cộng. Tiếp đến là chất lên xe ép rác và kết thúc tại bãi rác chung
Đồng Hới – Bố Trạch.
14
Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
Địa bàn phục vụ thu gom là toàn thành phố Đồng Hới, trong đó thu gom toàn
diện tại các phường nội thị, tại các xã chủ yếu thu gom tại các khu vực ven trục
đường chính và các chợ.
Hình 2.3: Sơ đồ thu gom và vận chuyển rác
Hình 2.4: Hình ảnh thu gom và vận chuyển CTRSH tại TP. Đồng Hới
(Nguồn: Tác giả tự chụp)
b. Phương tiện thu gom
Phương tiện lao động của tổ thu gom trên địa bàn thành phố Đồng Hới là thùng
đựng rác 240l và 660l, xe đẩy tay, và xe ép rác…các phương tiện thu gom và vận
chuyển tuy đầy đủ nhưng chất lượng không tốt vì đã quá cũ…
Bảng 2.2: Thiết bị thu gom của cty TNHH MTV Môi trường và PT ĐT Quảng Bình
STT Thiết bị Tính chất Số lượng
15
Rác thải gia đình,
5 Giày 2 đôi/người/năm
6 Nón 2 cái/người/năm
7 Áo mưa 1 cái/người/năm
8 Khẩu trang 12 cái/người/năm
(Nguồn: Công ty TNHH MTV Môi trường và PT ĐT Quảng Bình)
16
Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
Công nhân của Công ty TNHH MTV Môi trường và PT ĐT Quảng Bình
theo khu vực mà đội vệ sinh môi trường giao cho trên địa bàn Thành phố (tiến hành
thu trong hẻm trước, đường lớn sau). Sau đó đưa đến điểm tập kết để xe ép rác vận
chuyển đến bãi rác để xử lý.
d. Thời gian và địa điểm giao rác
- Thời gian lấy rác được thực hiện theo ca:
+ ca 1: từ 3h – 6h sáng
+ ca 2: từ 14h 30 – 17h chiều
e. Địa điểm giao rác
Xe vận chuyển lấy CTRSH tại điểm tập kết. Điểm giao nhận rác thường thay
đổi, không cố định do sự phản ánh của các hộ dân sống gần khu vực tập kết rác về
mùi hôi và kém vệ sinh.
Các điểm tập kết nằm rải đều theo lộ trình thu gom. Tuy nhiên, do CTR thường
có mùi hôi thối, đồng thời ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan nên thường gặp phải sự phản
ánh của người dân tại địa điểm tồn tại điểm hẹn.
Do vậy, các điểm hẹn thường không tồn tại ở một vị trí cố định mà chỉ do công
nhân quy định với nhau, không có điểm hẹn cụ thể và cố định. Thành phố Đồng Hới
có 16 Phường xã thì trung bình mỗi Phường xã có khoảng 15 điểm tập kết rác. Nhìn
chung thì các điểm hẹn này không đồng nhất về khoảng cách,vị trí các điểm tập kết
rác nằm xa khu dân cư, đặt ở những chỗ thuận lợi cho xe ép vào lấy.
Hình 2.5: Hình ảnh điểm tập kết CTRSH tại Thành phố Đồng Hới
(Nguồn: tác giả tự chụp)
Các tàu, thuyền tại bến
Đồng/tháng/chiếc 15.000
4
Văn phòng cơ quan LLVT, trụ sở doanh
nghiệp
Đồng/tháng 100.000
5 Chợ Nam Lý, chợ Đồng Hới, ga Đồng Hới Đồng/ m
3
160.000
6 Các chợ khác Đồng/ m
3
120.000
7 Trường mầm non, trường mẫu giáo tại các xã Đồng/ m
3
70.000
8 Trường mẫu giáo tại các phường Đồng/tháng 100.000
9 Các trường học còn lại Đồng/tháng 100.000
10 Bệnh viện, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, TP Đồng/tháng 140.000
11 Trạm xá các xã, phường Đồng/tháng 100.000
Phí dịch vụ vận chuyển rác thải
12 Xe ép rác 2,5 - 3 tấn (trong Thành phố) Đồng/chuyến 400.000
Phí vệ sinh tại các chợ thành phố Đồng Hới
13 Chợ Ga, chợ Đồng Hới
a
Các hộ kinh doanh có kiốt,địa điểm kinh
doanh diện tích không quá 4m
2
Đồng/hộ/tháng 12.000
b
Các hộ kinh doanh có kiốt, địa điểm kinh
phương tiện vận chuyển lớn hơn. Có 3 loại trạm trung chuyển:
- Trạm trung chuyển chất tải trực tiếp: CTR từ các xe thu gom nhỏ được đổ
trực tiếp vào xe vận chuyển lớn hoặc bị nén để nén chất thải vào xe lớn, hay nén
thành kiện để thuận tiện chuyển đến bãi chôn lấp.
- Trạm trung chuyển kiểu tích lũy CTR được đổ trực tiếp vào hố chứa. Từ các
hố chứa này, CTR sẽ được chuyển lên xe vận chuyển nhờ các thiết bị khác. Trạm
trung chuyển tích lũy khác biệt so với trạm trung chuyển 4 tải trực tiếp ở chỗ nó
được thiết kế sao cho có thể lưu trữ CTR trong khoảng 1 – 3h.
- Trạm trung chuyển kết hợp tải trực tiếp và tải tích lũy: Đây là những trạm
trung chuyển đa chức năng. Tất cả các xe thu gom khi đến trạm trung chuyển đều
phải qua khâu kiểm tra tại trạm cân. Các xe thu gom sẽ được cân, sau đó đến sàn dỡ
tải và đổ chất thải trực tiếp sang xe vận chuyển trở lại trạm cân, cân xe và tính lệ phí.
2.2.2. Công tác xử lý chất thải rắn
a. Sơ đồ xử lý tại bãi rác
Bãi chôn lấp nằm ở xã Lý Trạch, huyện Quảng Trạch, phía Tây thành phố
Đồng Hới. Bãi rác có 02 tuyến đường vào: phía Đông Bắc từ Bố Trạch và phía Tây
Nam từ Đồng Hới lên, cách TP Đồng Hới 12 km.
Bãi chôn lấp CTR có tổng diện tích mặt bằng là 22,5 ha, gồm các hợp
phần chính:
- Khu chôn lấp rác thải: bao gồm bãi chôn lấp rác và hệ thống thu gom nước
mưa, nước thải (7 ha).
- Hồ xử lý nước thải: bao gồm hồ kỵ khí, hồ tùy nghi, hồ hiếu khí: 1 ha.
- Đường giao thông xung quanh bãi rác và hệ thống thu gom nước mưa vòng
ngoài: 1.1 ha.
20
Xe vận chuyển
rác
Đổ rác tại ô
chứa rác
Đầm nén
%
3
%
3
%
3%
3% 3%
2.5%
1%
1%
M
Ư
Ơ
N
G
T
H
O
A
ÙT
N
Ư
Ơ
Ù
C
1.2
50
10
V
E
Ä
+
G
A
R
A
6
x
1
2
m
1.2
1
A
1
4
0
Hình 2.7: Sơ đồ tổng thể bãi chơn lấp CTRSH Đồng Hới – Bố Trạch
22
Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
b. Quy trình vận hành xử lý rác thải
Rác thải được xe ép rác chở vào vị trí ô chôn lấp, qua quá trình xử ý bằng các chế
phẩm sinh học bokashi, chế phẩm EM thứ cấp, vôi bột, thuốc diệt ruồi, muỗi… Sau đó
được xe san ủi tạo thành từng lớp và phủ đất chôn theo đúng quy trình. Nước rỉ rác được
chảy vào hệ thống thu gom và tập trung về khu xử lý trước khi xả ra môi trường.
Bãi rác được phân chia thành 2 khu vực, rác được chôn theo thứ tự các ô chứa từ
phía Bắc đến phía Nam gần hồ xử lý, kích thước mỗi ô chứa rác theo chiều dài bãi rác là
20m, theo chiều ngang là 50m. Mỗi ô chứa rác được phân chia thành nhiều lớp. Mỗi lớp
có chiều dày không quá 2,5 m được phủ một lớp đất sét dày 10-15cm và nén chặt.
Đổ và ép rác
Công tác đổ rác được thực hiện sau khi cân rác lần đầu tiên, đổ rác phải thực
hiện đúng vị trí các ô đổ rác.
Việc ép rác được thực hiện bằng cách cho máy ủi rác chạy qua nhiều lần (ít nhất
4 – 5 lần) chiều dày ép rác không quá 30cm.
Sau thời gian một tuần khi rác được ép chặt đủ chiều dày và đầy ô chứa rác thì
tiến hành phủ rác bằng đất, ép chặt bằng máy ủi.
Xử lý hóa chất:
Nhằm giảm thiểu mùi hôi phát tán từ quá trình phân hủy rác và hạn chế sự sinh
sôi phát triển của ruồi nhặng, Tiến hành phun hóa chất theo đúng định kỳ cụ thể:
Phun khử mùi hôi 3 ngày/lần. (Bokashi, chế phẩm EM thứ cấp). Phun thuốc diệt ruồi:
1 tuần/1 lần. Vôi bột rải 1 tuần/1 lần.
Lớp phủ bề mặt:
Lớp phủ bề mặt được thực hiện khi một phần nào đó của bãi rác được sử dụng
- Chưa có điểm tập kết rác cố định, nên gặp sự phản ánh của người dân gần
điểm tập kết rác tạm.
- Quá trình giao rác giữa xe đẩy và xe ép chưa đồng bộ nên vẫn còn tình trạng
rơi vãi xuống đường làm ô nhiễm, mất vệ sinh và mỹ quan đô thị.
- Phương tiện thu gom và vận chuyển tuy đầy đủ nhưng chất lượng không tốt vì
đã quá cũ kỹ.
- Công tác thu gom rác tại các điểm hẹn cũng còn rất nhiều bức xúc, thời gian
thu gom chưa hợp lý, thời gian các xe ép tới lấy rác tại các điểm hẹn cũng chưa khớp
với thời gian giao rác của các xe thu gom, với lý do đó công nhân thu gom rác đợi ở
điểm hẹn một thời gian rất lâu (có khi mất cả giờ đồng hồ) hoặc đôi lúc các xe ép
cũng phải chờ công nhân đến giao rác.
- Ngoài ra tình trạng nước rò rỉ từ các xe ép rác chảy dọc theo các tuyến thu gom
và mùi xe bốc ra ảnh hưởng đến người đi đường.
24
Trần Thị Ngọc Ánh – Địa lý K35
- Qua thực tế cho thấy nhiều tổ thu gom chưa làm hết trách nhiệm thậm chí có
lúc thu xong lại vùi ngay dưới cát ngay tại chỗ đó như khu vực dọc bờ biển Hải
Thành – Quang Phú (Nguồn:báo Quảng Bình online)
c. Về công tác xử lý
• Thuận lợi:
- Quá trình vận hành và xử lý rác thải tại bãi rác chung Đồng Hới - Bố Trạch
được thực hiện tương đối hợp vệ sinh, đúng quy trình.
- Cơ sở đã thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động do quá trình vận
hành bãi rác gây ra đối với môi trường xung quanh bằng cách phối hợp với Trung
tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường định kỳ giám sát 06 tháng/lần để theo dõi diễn
biến các thông số môi trường nhằm kịp thời xử lý.
• Khó khăn:
- Việc xử lý chủ yếu chất thải sinh hoạt, rác thải CN và y tế không được xử lý.
- Do thiếu kinh phí nên tại bãi rác vẫn chưa được đầu tư các hạng mục như: bể
xử lý nước rác, hệ thống chống thấm nền…