Giải pháp tài chính chủ yếu nhằm khai thác lội thế đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng của việt nam thời kỳ đến năm 2020 - Pdf 13

-1-
BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ TÀI CHÍNH
___________________ BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ Tên đề tài:
Giải pháp tài chính chủ yếu nhằm khai thác lợi thế
để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu
tiềm năng của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020
Mã số: 263.10.RD/HD-KHCN
Chủ nhiệm đề tài: Th.s Nguyễn Minh Thành

8676

Hà Nội, tháng 12 năm 2010
-2-
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất
khẩu nói riêng luôn được coi là động lực cho phát triển kinh tế xã hội của Việt
Nam. Kể từ năm 2000 đến nay, hoạt động xuất khẩu đã đạt được những thành
tựu đáng kể: quy mô và tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu đã được mở rộ
ng và
tăng trưởng ở mức khá cao; cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đã có những chuyển dịch

để tạo ra những “đầu tàu” trong việc gia tăng kim ngạch và quảng bá cho hàng
hóa xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng
phải cam kết tương đối đầy đủ và mạnh mẽ đối với tổ chức này, bao gồm những
cam kết có liên quan đến chính sách khuyến khích xuất kh
ẩu nói chung và cơ
chế, chính sách tài chính nói riêng. Các chính sách này phải phù hợp với những
quy định của WTO và cam kết của Việt Nam. Mặt khác, các chính sách này phải
đảm bảo hiệu quả cao, giúp chúng ta tận dụng được các cơ hội và vượt qua các
thách thức.
Do đó, đề tài nghiên cứu khoa học “Giải pháp tài chính chủ yếu đẩy mạnh xuất
khẩu các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020”.
Có ý ngh
ĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.

2. Mục tiêu của đề tài
Đề xuất các giải pháp tài chính chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng
xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020.
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung, nghiên cứu lợi thế về nguồn lực, lợi thế v
ị trí địa lý đối với
một số mặt hàng xuất khẩu tiềm năng, tập trung vào các giải pháp tài chính để
thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng xuất khẩu tiềm năng thuộc nhóm này.
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng từ 2005 trở lại đây; nghiên cứu giải pháp
tài chính cho giai đoạn đến năm 2020.
- Về phạm vi: nghiên cứu một số doanh nghiệp điển hình của Vi
ệt Nam, các bộ
ngành có liên quan.
- Về cơ chế chính sách tài chính để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu
tiềm năng.

-5-
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI
CHÍNH TÀI CHÍNH NHẰM KHAI THÁC LỢI THẾ ĐỂ ĐẦY MẠNH
XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CÓ TIỀM NĂNG CỦA VIỆT NAM
1.1. Lợi thế xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng
Lợi thế so sánh là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi
các quốc gia tập trung hóa sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nh

nhất loại những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều có lợi
Mặt hàng xuất khẩu tiềm năng là mặt hàng xuất khẩu có vai trò ngày
càng quan trọng trong tương lai. Theo báo cáo “Đánh giá tiềm năng xuất khẩu
của Việt Nam” của UNCTAD-WTO (ITC) và Cục xúc tiến Bộ Công thương,
thì tiềm năng xuất khẩu lớn nhất thuộc về các ngành hàng: hạt điều, dầu lửa,
đồ
gỗ, than đá, da giầy tiép đó là sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thủy hải sản, cao su,
đống tầu, thủy tinh, cà phê, máy móc nông nghiệp, hạt tiêu, đồ gia dụng, đồ gỗ
và hàng may mặc. Trong đó theo các chuyên gia ngành hàng may mặc, giầy
dép, dầu lửa, thủy hải sản, đồ gỗ và cà phê không chỉ đóng vai trò quan trọng
trong giai đoạn hiện tại còn thuộc nhóm những ngành hàng có yếu tố tiềm năng
xuất khẩu cao nh
ất, có kim ngạch xuất khẩu mỗi ngành hàng đạt trên 500
triệuUSD/năm. Bên cạnh những ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu cao, các
ngành hàng có kim ngạch dưới 100 triệu USD/năm đối với sản phẩm sữa, sản
phẩm từ sợi đay, rau quả, gạo, hoa tươi, ô tô – xe máy, hàng gia dụng.
Theo đánh giá của ITC thì yếu tố tiềm năng xuất khẩu đối với một số
nhóm ngành hàng của Việt Nam theo mức từ 1 (thấp nh
ất) đến 5 (cao nhất):
- Thứ 1: Nhóm hàng khoáng sản sơ cấp và nhiên liệu với các sản phẩm
dầu thô (chỉ số 3,4), than đá (3,3)
- Thứ 2: Việt Nam là một trong mười nước xuất khẩu hàng đầu thế giới

ổ xung hoàn thiện thành lý
thuyết về lợi thế các yếu tố sản xuất và chi phí cơ hội của một sản phẩm. Mặc
dù có nhiều ý kiến, quan điểm không đồng nhất xong các nhà kinh tế đều thống
nhất là: Thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho tác cả các quốc gia khi mở cửa,
giao lưu kinh tế với bên ngoài dù các nguồn lực sản xuất trong nước có lợi thế
chuy
ển đổi hay không. Ngày nay mọi lợi thế đều nằm trong lợi thế cạnh tranh
quốc gia. Mà theo M. Porter nhà kinh tế học người Mỹ thì lợi thế cạnh tranh
quốc gia được quyết định bởi 6 nhân tố:
-7-
- Các điều kiện sản xuất vốn có (lao động, tài nguyên thiên nhiên, vị trí
địa lý…)
- Các điều kiện thị trường nội địa.
- Các ngành công nghiệp bổ trợ và biến đổi.
- Chiến lược và cơ cấu của các công ty, cạnh tranh trong nội bộ ngành.
- Chính sách và tác động của chính phủ.
- Các nhân tố ngầu nhiên.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF (World Economic Forum) về việc
phát triển quản lý quốc tế IMD (International Institute For management
Development) thì các yế
u tố xác định năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm:
tiềm lực kinh tế nội địa, đổi mới của nền kinh tế, vai trò của chính phủ, tài
chính tín dụng, cơ sở hạ tầng…
Mặc dù có một số điểm khác nhau trong đánh giá song cả hai cách đánh
giá đều có những điểm tương đồn, thống nhất về những nhân tố để một quốc
gia có lợi thế
cạnh tranh là nguồn vốn nhân lực, khoa học công nghệ, chính
phủ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý. Ở nước ta khi đánh giá lợi thế so sánh
các nguồn lực trong kinh tế quốc tế nói chung và thương mại quốc tế nói riêng
người ta thường đề cập đến 3 loại: nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và vị

1; bình quân từ năm 1985 đến 2007 mỗi năm tăng 1,16%, trong HDI, hai chỉ số
về tuổi thọ trung bình (đứng thứ 54) và tỷ lệ biết chữ (đứng thứ 69 thế giới) là
khá cao. Song về tổng thể HDI Việt Nam cũng chỉ nằm ở nhóm nước trung
bình, đứng sau các nước trong khu vực: Hồng Kông 24, Hàn Quốc 43, Thái
Lan 54, Malaysia 57, Trung Quốc 94, Indonesia 105.
Như vậy một qu
ốc gia đông dân, lực lượng lao động nhiều song chưa
hẳn đó là một quốc gia mạnh. Thực tế các các quốc gia có dân đông như Trung
Quốc, Ấn Đọ, Indonesia cũng chỉ là những quốc gia đang phát triển. Một quốc
gia mạnh trong phát triển kinh kế vẫn thể hiện ở tốc độ phát triển, sự năng động
trong vận dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ trong phát triể
n
kinh tế - xã hội, nhanh nhạy trong nắm bắt thời cơ phát triển kinh tế. Kết quả
nghiên cứu của NIES và Asean cho thấy nhân tố tiền quyết, quy định thành
công trong phát triển kinh tế là tư chất con người, trình độ công nghệ, hoạt
động quản lý, sự lựa chọn chiến lược phát triển, giải pháp có tính khả thi phù
-9-
hợp với điều kiện quốc gia, dân tộc thời đại: Singapore và Hồng Kông là hình
mẫu của sự thành công trong phát triển kinh tế.
Nước ta có lực lượng dồi dào và những tố chất hiện có, lực lượng lao
động sẽ gia tăng sức mạnh nhiều lần nếu những tố chất đó được khởi động,
đánh thức, kích thích sự phát triển thông qua hoạt động giáo dục, đào tạ
o, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ văn hóa và truyền thống dân tộc. Nếu lao động
được đầu tư cho đào tạo đúng hướng, biết khai thác thì hiệu quả, sức cạnh tranh
sẽ cao và điều quan trọng hơn cả là nguồn nhân lực lao động là nguồn không bị
cạn kiệt, càng khai thác càng phát triển. Việt Nam cần phải nhận diện đây phải
trở thành nguồn lực có tiềm năng và l
ợi thế lớn nhất nếu biết đầu tư và khai
thác đúng hướng.

năng lượng tự nhiên…đồng thời phải cân đối giữa khai thác, sử dụng hiện tại
với nguồn lực giành cho tương lai (than đá, dầu mỏ, khoáng sản…). Đồng thời
với việc khai thác các nguồn tài nguyên phải tính đến hiệu quả
kinh tế - xã hội,
môi trường, phải tính đến lợi ích trước mắt, lâu dài và an ninh kinh tế, chính trị
của đất nước.
- Vị trí địa lý: Nước ta có vị trí địa lý thuận lợi trong sản xuất và giao
thông quốc tế. có hơn 3000 km bờ biển, thuận lợi trong giao thông ahngf hải,
hàng không với lợi thế cảng biển, vịnh quan trọng. Đường biển, đường sông và
tương lai là sắt nối liền 3 nước Đông Dương, m
ột số nước Nies và Trung Quốc
tạo lợi thế cho Việt Nam trong phát triển nhiều loại hình kinh tế nói chung và
kinh tế đối ngoại, xuất khẩu nói riêng. Việt Nam lại có vị trí trong khu vực phát
triển kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao những năm gần đây.
Tuy vậy thời gian qua chúng ta khai thác lợi thế vị trí chưa được nhiều. Vị trí
địa lý là yếu tố quan trọng nhưng không phả
i là yếu tố quyết định cho sự phát
triển. Nhưng nó là tiền đề quan trọng trong giao lưu, buôn bán với bên ngoài.
Có thể xem kinh nghiệm của Singapo và Hồng Kông trong việc phatsb triển
kinh tế nhờ biết khai thác, tận dụng lợi thế vị trí địa lý hay khu kinh tế mở của
Trung Quốc dọc ven biển. Cần phải tận dụng lợi thế vị trí để giảm chi phí vận
chuyển, phải biết các loại hình dị
ch vụ, xác định cơ cấu kinh tế hợp lý mới có
thể phát triển kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng.
Từ đánh giá khái quát trên đây về lợi thế các nguồn lực có thể rút ra
những kết luận sau đây:
-11-
Lơi thế so sánh về nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý thuận lợi
là lợi là lợi thế so sánh tĩnh, lợi thế cấp thấp, thực chất đó là lợi thế chi phí sản
xuất, nên những hàng hóa sử dụng nhiều tài nguyên, lao động sẽ có ưu thế chi

giá trị cố định, vĩnh viễn; có những nguồn lực hôm nay có lợi thế mai lại
-12-
không, do đó cần phải nhận diện, biết khai thác và đầu tư đúng đắn để tái tạo
trong những điều kiện cụ thể của môi trường quốc gia, quốc tế.
Gần đây giáo sư Paul Geugman đưa ra lý thuyết thương mại mới – lý
thuyết chủ chốt về thương mại quốc tế hiện nay, được coi là cuộc cách mạng
trong thương mại quốc tế. Theo lý thuyế
t lợi thế so sánh trong trao đổi thương
mại quốc tế với một mặt hàng chỉ có một chiều thương mại từ nơi có lợi thế
sang nơi không có lợi thế, như nước chảy từ chỗ cao xuống chỗ trũng, không có
chiều ngược lại. Song thực tế thương mại quốc tế lại không phải luôn như vậy,
nhờ vận dụng khái niệm “cạnh tranh
độc quyền” của Robert Salow người từng
đoạt giải thưởng Nobel, Paul Geugman đã đưa ra lý thuyết thương mại mới, lý
thuyết này giải thích quan hệ thương mại nội ngành dựa trên giả định về lợi thế
của nó, nhờ sản xuất quy mô lớn mà giảm được chi phí sản xuất, ngoài ra người
tiêu dùng còn quan tâm đến tính đa dạng của sản phẩm. Do hai đặc tính này lợi
thế quy mô và tính đa dạng củ
a sản phẩm mà người sản xuất sẽ dần trở thành
độc quyền đối với nhãn hiệu sản phẩm của mình, ngay cả khi phải cạnh tranh
với đối thủ khác. Mô hình Paul Geugman giải thích tại sao thương mại quốc tế
vẫn có thể diễn ra giữa các nước có lợi thế tương đối về công nghệ và nhân tố
sản xuất tương tự nhau như Mỹ và Tây Âu đều có lợi thế
về vốn và công nghệ.
Nhưng Mỹ vẫn xuất khẩu xe Ford sang Châu Âu và ngược lại nhập xe BMW từ
Châu Âu về Mỹ. Điều đó là do sự ưa thích về tính đa dạng của nhãn hiệu của
người tiêu dùng cho phép hai hãng xe hơi Ford thuộc Mỹ và BMW của Tây
Đức có lợi thế trong sản xuất. Những sản phẩm nhãn hiệu của mình. Lý thuyết
của Paul Geugman đã trở thành lý thuyết chung trong thương mại quốc t
ế bổ

biệt được các nhà kinh tế thuộc trường phái kinh tế học phát triển củng cố sự
can thiệp của chính phủ vào thương mại quốc tế. Đặc biệt từ những năm 80 các
nhà kinh tế học và hoạt động chính trị nhận ra rằng cơ chế kinh tế thị trường và
sự can thiệp của chính phủ là yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng tuy vậy sự
can thiệp quá mạnh vào các ngành không có tiềm năng lợi thế qua việc sử dụng
hàng rào thuế và phi thuế quan không hợp lý s
ẽ làm những ngành này không
phát triển, thậm chí trở thành gánh nặng cho nền kinh tế.
Chính sách tài chính của nhà nước bao gồm chính sách thuế, tín dụng, lãi
suất, tỷ giá, hỗ trợ xúc tiến, đầu tư… tác động tới các khâu, công đoạn của
chuỗi giá trị xuất khẩu các mặt hàng tiềm năng, nhằm khai thác lợi thế ở các
-14-
khâu, các công đoạn, hoạt động tạo ra giá trị trong xuất khẩu các mặt hàng tiềm
năng.
1.2.1. Cơ chế chính sách thuế khai thác lợi thế để đẩy mạnh xuất khẩu các
mặt hàng xuất khẩu tiềm năng
Thuế là công cụ quan trọng để chính phủ quản lý nền kinh tế, ngoài việc
tạo ra nguồn thu cho ngân sách vì thuế còn có tác động điều tiết, phân bổ các
nguồn lực phân phối về
sử dụng các nguồn lực, tác động đến chi phí, giá thành
sản phẩm, dịch vụ. Thuế có tác dụng điều tiết việc khai thác sử dụng các nguồn
lực cho xuất khẩu hướng hạn chế hay mở rộng quy mô, thuế có tác động tới
việc đầu tư và việc mở rộng quy mô hoạt động nhập khẩu công nghệ kỹ thuât
(giảm thuế nhập khẩu) từ trong xuất kh
ẩu các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng
(giảm thuế xuất khẩu).
Do đó đối với những mặt hàng tiềm năng có lợi thế nhà nước cần cân
nhắc thuế suất thuế đối với các nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và các thiết bị
công nghệ phải nhập khẩu, và thuế, phí đối với hàng xuất khẩu.
Đối với chính sách thuế thu nhập của doanh nghiệp xuấ

Giảm đóng góp bảo hiểm xã
hội, cho phép trừ một phần thu nhập
chịu thuế theo số lượng lao động sử
dụng, các chi phí liên quan đến lao
động
Kim ngạch xuất khẩu Giảm thuế thu nhập trên kim
ngạch xuất khẩu
Giá trị gia tăng

Giảm hoặc trừ thuế thu nhập
doanh nghiệp theo doanh thu thuần
(kim ngạch xuất khẩu) hoặc trên giá trị
gia tăng thuần.
Chi phí đặc biệt khác Cho phép trừ chi phí tiếp thị,
-16-
xúc tiến, quảng cáo khi tính thuế thu
nhập doanh nghiệp
Nhập khẩu

Miễn thuế nhập khẩu đối với tư
liệu sản xuất, nguyên liệu, vật liệu cho
dự án
a. Miễn thuế xuất khẩu, đối xử
ưu đãi đối với thu nhập từ hoạt động
xuất khẩu, cho phép trừ một số chi phí
liên quan đến ngoại hối hoặc từ hoạt
động sản xuất cho xuất khẩu
Xuất khẩu
b. Hoàn thuế nhập khẩu, khấu
trừ cho chi phí phát sinh ở nước ngoài

tăng thời gian được miễn giảm thuế hoặc lợi dụng để chuyển lỗ. Ngoài ra còn
có các ưu đãi khác như: giảm thuế cho phần giá trị gia tăng (để khuyến khích tự
chế biến thay vì xuất khẩu nguyên liệu thô), khấu trừ chi phí khối l
ượng thuế
thu nhập trên số lượng lao động sử dụng để khuyến khích giải quyết công ăn
việc làm…
Chính sách thuế, phí cần phải đảm bảo ổn định nhất quán, tránh hiện
tượng gia tăng trốn lậu thuế, hoặc lợi dụng, đồng thời không mâu thuẫn, vi
phạm các quy định của WTO, không thực hiện các bảo hộ hoặc vi phạm tính
bình đẳng các doanh nghiệp trong cạnh tranh và hướng tớ
i sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực, các lợi thế so sánh của các mặt hàng có tiềm năng.
1.2.2. Cơ chế chính sách tỷ giá khai thác lợi thế xuất khẩu các mặt hàng xuất
khẩu tiềm năng
Tỷ giá hối đoái (tỷ giá) là hệ số quy đổi một đồng tiền nước này sang
đồng tiền nước khác; với cách khác tỷ giá là đơn vị tiền tệ của nước này biểu
thị
bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước ngoài. Có hai loại niêm yết tỷ giá:
Phương pháp niêm yết trực tiếp và gián tiếp.
-18-
Phương pháp niêm yết trực tiếp: Niêm yết giá một đơn vị đồng ngoại tệ
bằng số lượng đồng nội tệ khi đó đồng ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền cơ sở,
vài trò yết giá, đồng ngoại tế cố định còn đồng nội tệ đóng vai trò định giá cho
đồng ngoại tệ.
Phương pháp niêm yết gián tiếp: Ngược lại so với phương pháp niêm yết
trực tiếp, khi đó đồng nội tệ cố định còn đồng ngoại tệ đóng vai trò định giá
cho đồng nội tệ, do đó đồng ngoại tệ có giá bao nhiêu thì phải chuyển đổi.
Như vậy tỷ giá là giá cả của tiền tệ, phản ánh sức mua của một đồng tiền
trên thị trường thế giới.
Trong nền kinh tế đối ngoại nhà nước có thể sử dụng t

hàng hóa. Trong kinh tế thương trường, tín dụng có nhiều loại theo các tiêu
thức khác (i) tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn (ii) tín dụng sản xuất lưu
thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng (iii) tín dụng ngân hàng, tín dụng thương
mại, tín dụng nhà nước.
Trong quan hệ tín dụng, giá cả tín dụng hay lãi suất tín dụng là yếu tố
quan trọng. Lãi suất tín dụng là công cụ tài chính sử dụng trong quan hệ vay trả
vốn tiền tệ giữ
a người vay và người cho vay lãi suất được xác định bằng tỷ lệ
phần trăm giữa lãi tiền vay phần trả so với tổng số tiền đi vay trong một thời
gian nhất định. Lãi suất cho vay thấp phụ thuộc vào tình hình cung cầu vốn tín
dụng trên thị trường. Chính sách lãi suất là một trong những chính sách lãi suất
vĩ mô quan trọng của một quốc gia. Ngân hàng trung ương thường dùng lãi suất
để điều tiết ti
ền trong lưu thông, từ đó tác động đến lãi suất (cho vay và huy
động) của ngân hàng thương mại từ đó tác động đến hành vi tiết kiệm, đầu tư
của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và
doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng. Đối với các doanh nghiệp sản xuất và xuất
khẩu hàng hóa, lãi xuất cho vay của ngân hàng là chi phí sử dụng vốn vay do
đó ảnh hưởng đến chi phí giá thành, hiệu quả kinh doanh, và khả năng c
ạnh
tranh của doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng hóa, ảnh hưởng quan trọng
đến việc khuyến khích mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất và xuất khẩu hàng
hóa việc tăng lãi xuất cùng với tạo điều kiện thuận lợi cho vay sẽ khuyến khích
mở rộng quy mô xuất khẩu và ngược lại.
-20-
Đối với doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu có tiềm năng lợi thế việc
được vay ưu đãi với lãi suất thấp sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí
vượt khó khăn ổn định sản xuất và xuất khẩu.
Nhà nước qua hệ thống ngân hàng cho vay với lãi suất thấp sẽ giúp mở
rộng quy mô đầu tư, hiện đại hóa thiết bị kỹ thuật công nghệ

- Các khoản chi hỗ trợ kinh phí cho việc quy hoạch xây dựng các khu
công nghiệp sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu trong đó có mặt hàng có tiềm
năng, lợi thế, tạo cơ sở hạ tầng mặt bằng, cung cấp dịch vụ. Các khoản chi cho
việc cải cách thủ tục hành chính, hải quan, dịch vụ tư vấn pháp lý… giúp các
doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thuận lợi trong việc cấ
p phép, giảm bớt
thời gian làm các thủ tục hành chính, hải quan, thuế… đảm bảo các doanh
nghiệp này giảm chi phí tận dụng cơ hội kinh doanh và yên tâm đầu tư vốn.
- Khi tình hình giá cả thị trường biến động chính sách tài chính nhà nước
sử dụng các gói kích thích (dịch vụ như kích cầu) giúp các doanh nghiệp này
khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất và xuất khẩu…
Ngoài các chính sách nêu trên nhà nước áp dụng hình thức thưởng xuất
khẩu tùy theo các tiêu chu
ẩn mà doanh nghiệp đạt được cụ thể:
Tiêu chuẩn 1: doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng (hay một chủng loại mặt
hàng) sản xuất tại Việt Nam mà lần đầu tiên xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
được bổ sung vào danh mục hàng xuất khẩu của Việt Nam có hiệu quả với kim
ngạch đạt 100.000 USD/ năm trở lên, đối với biên giới hải đảo là 50.000 USD/
năm trở lên tính chỉ cho m
ột mặt hàng tiêu chuẩn thưởng này khuyến khích các
doanh nghiệp xuất khẩu nói chung, doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng có tiềm
năng nói riêng khai thác mặt hàng xuất khẩu mới mà tương lai có thể trở thành
mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn
Tiêu chuẩn 2: Doanh nghiệp xuất khẩu có hiệu quả với tổng kim ngạch
năm phải cao hơn năm trước theo quy định của từng thời kỳ của bộ công
th
ương, mà hiện nay áp dụng cho mức tăng trưởng 20% kim ngạch và mức
tuyệt đối là 40.000 USD trở lên
Tiêu chuẩn 3: áp dụng cho các mặt hàng xuất khẩu có chất lượng cao,
được huy chương tại triển lãm, hội chợ quốc tế được tổ chức ở nước ngoài hoặc

các nhà xuất khẩu tìm kiếm thị trường và tiêu thụ sản phẩm bằng các quý hỗ
tr
ợ. Năm 2002 DEP đã dùng các quỹ hỗ trợ để thực hiện 3 chính sách xúc tiến
(i) Đối với thị trường mới như Trung Đông, Châu Phi, Mỹ La Tinh, Đông Âu,
Nam Á và Trung Quốc thông qua các hoạt động xúc tiến xuất khẩu và đẩy
mạnh các quan hệ thương mại, thâm nhập thị trường mới mở (ii) Dùng nội tệ
tạo hàng xuất khẩu, khuyến khích việc sản xuất, chế biến các mặt hàng ít hoặc
không s
ử dụng nguyên liệu, vật liệu, cấu kiện nhập khẩu từ nước ngoài.
-23-
- Hỗ trợ trong đào tạo các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm nâng cao kỹ
năng quản trị có hiệu quả.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia vào các hội chợ, triển lãm và tham
gia các đoàn đàm phán kinh doanh tại các thị trường mục tiêu và các thị trường
mới.
- Thành lập các phái đoàn thương mại gồm đại diện cơ quan Chính phủ,
doanh nghiệp xuất khẩu, nhà sản xuất được chính phủ hỗ trợ
để xây dựng hình
ảnh và quan hệ thương mại, đẩy mạnh các quan hệ kinh tế - thương mại, nghiên
cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu mới, nguồn nguyên liệu và công nghệ mới.
Tìm và thiết lập quan hệ với các nhà phân phối nước ngoài, tìm kiếm các nhà
đầu tư và khách hàng tiềm năng. Riêng đối với các mặt hàng lương thực, chính
phủ đã hỗ trợ tài chính qua việc tổ chức thực hiện các chương trình, hoạ
t động
nhằm nâng cao chất lượng và giảm giá thành hàng xuất khẩu, viện thực phẩm
với sự hỗ trợ của Bộ công nghiệp Thái Lan đã có chương trình trị giá 57 triệu
USD để tăng cường nưng lực cạnh tranh của hàng lương thực.
- Hỗ trợ cho sản xuất và xuất khẩu lương thục thông qua các khaonr vay
ưu đãi, lãi suất thấp với thời gian hoàn trả 5 – 7 năm; chính phủ Thái Lan cũng
hỗ trwoj thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp và hàng nông nghiệp

ường đã có , cung cấp các
dịch vụ hỗ trợ như: dịch vụ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, tư vấn, tổ chức
hội thảo, triển lãm…phối hợp với các cơ quan chức năng của chính phủ để mở
rộng sản xuất dầu cọ ở nước ngoài.
MTIC thành lập 1973 với nhiệm vụ kiểm soát xuất khẩu gỗ. Phối hợp
v
ới các khu vực thị trường và tiếp thị, tư vấn
- Chính phủ Malaysia cũng lập 2 chương trình tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
nông nghiệp và chương trình tài chính sử dụng xuất khẩu (ECR).
ECR là chương trình tín dụng ngắn hạn được quản lý bời ngân hàng
trung ương cho mặt hàng thực phẩm và một số mặt hàng xuất khẩu được lụa
chọn. Các khoản vay được thực hiện với lãi suất thaaos h
ơn lãi suất thương
mại. Tín dụng cho 80% giá trị trước giao hàng và 100% sau khi giao hàng. Tín
dụng trước giao hàng có thời hạn tối đa 4 tháng, sau giao hàng là 6 tháng.
-25-
- Chính phủ thành lập quỹ tín dụng với vốn vay ưu đãi hỗ trợ xuất khẩu
 Kinh nghiệm Singapore
Mặc dù là nước có diện tích và dân số nhỏ của Asean song Singapore là
nước dẫn đầu về xuất khẩu của Asean. Biện pháp tài chính thúc đẩy xuất khẩu
của Singapore là áp dụng các biện pháp hỗ trợ thương mại tự do, loại bỏ các
rào cản thương mại, áp dụng tỷ giá hối
đoái thực tế qua đó giúp Singapore có
được một cơ cấu sản xuất và xuất khẩu hợp lý, khai thác được lợi thế so sánh.
Tự do hóa thương mại và thả nổi tỷ giá hối đoái sẽ phản ánh thực hơn tình hình
thị trường và lạm phát qua đó thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư. Singapore
coi rào cản thuể không phải là giải pháp khả thi cho một đất nước thiếu nguồn
nguyên liệu thô.
- Singapore áp d
ụng miễn thuế cho hàng hóa nào dành cho tái xuất khẩu,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status