BỘ CÔNG THƯƠNG
CỤC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
o0o
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
“NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG E-MARKETING
TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ”
Mã số :
Cơ quan chủ trì : Cục Thương mại điện tử và CNTT
Cơ quan chủ quản : Bộ Công Thương
Chủ nhiệm đề tài : ThS. Bùi Thị Thanh Hằng
8949
NĂM 2010
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN………………………………………………………… 1
I. Sự cần thiết của việc thực hiện đề tài 5
II. Mục tiêu của đề tài 6
III. Phương pháp tiến hành 6
I. Phân tích cơ sở pháp lý 44
1. Hệ thống văn bản pháp lý về giao dịch điện tử, công nghệ thông tin 44
2. Văn bản quy phạm pháp luật về quảng cáo 46
3. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác (spam và privacy) 50
II. Phân tích thực trạng triển khai và ứng dụng e-marketing 60
1. Thực trạng v
ề nhận thức 60
2. Thực trạng cung cấp 63
3. Tình hình ứng dụng 78
4. Nhu cầu về dịch vụ e-marketing 86
Dưới đây là một số kết quả quan trọng khác trong cuộc nghiên cứu: 87
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
I. Giải pháp về ứng dựng và triển khai hoạt động e-marketing tại doanh nghiệp 89
1. Xây dựng và triển khai đồng bộ 89
2. Một số vấn đề cần lưu ý trong quản lý và phát huy hiệu quả hoạt động
emarketing 95
II. Khuyến nghị 99
1. Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước 99
2. Khuyến nghị đối với doanh nghiệp triển khai e-marketing 100
3. Khuyến nghị đối với người tiêu dùng 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
3
dụng.
Tại Việt Nam, e-marketing bắt đầu xuất hiện và được ghi nhận dấu ấn từ năm 2008.
Hiệ
u quả mà e-marketing mang lại cho doanh nghiệp được đánh giá khá tích cực. Tuy
nhiên, cho đến nay e-marketing vẫn được coi là vấn đề khá mới mẻ do doanh nghiệp
và cộng đồng người tiêu dùng chưa nhận thức đúng đắn về hình phức tiếp thị mới này.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu về hoạt động e-marketing trong thương mại điện tử hi vọng
sẽ giúp doanh nghiệp, người tiêu dùng và các nhà nghiên cứu có cái nhìn tích cực và
toàn diện hơn về e-marketing.
5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
I. Sự cần thiết của việc thực hiện đề tài
Điện thoại phải mất 35 năm để tiếp cận với 25% dân số Mỹ, truyền hình mất 26 năm,
phát thanh mất 22 năm và điện thoại đi động mất 12 năm, còn Internet thì sao? Chỉ
mất 7 năm, trên toàn cầu đã có khoảng 1,6 tỷ người truy cập vào mạng Internet, tốc độ
tăng trưởng là 362.3% từ năm 2000 đế
n 2009. Tại Việt Nam, số người sử dụng
Internet đã lên đến gần 25 triệu, chiếm hơn ¼ dân số quốc gia năm 2009.
1
Đó là những
con số ấn tượng, cho thấy cơ hội kinh doanh cũng như giá trị tiềm năng mà các giải
pháp, sản phẩm và dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin hay ứng dụng phương
tiện điện tử mang lại. Đây cũng là cơ hội hiếm có để các nhà làm chiến lược marketing
, thương hiệu sản phẩm giảm chi phí đầu tư mà vẫn mang lại hiệu quả cao như mong
đợi.
Trong bối cảnh tác động sâu sắc của công nghệ thông tin và các phương tiện điện tử
đối với kinh doanh như hiện nay, marketing là một trong những hoạt động tiên phong
chịu ảnh hưởng từ những biến đổi như vậy. Để đạt tới thành công, các nhà tiếp thị
không thể chỉ đơn giản thêm một vài hoạt động kỹ thuật số vào những kế hoạch tiếp
thương mại điện tử” hi vọng sẽ là một tài liệu tham khảo mang tính thực tiễn cao về
các công cụ tiếp thị điện tử, cũng như những kinh nghiệm trên thế giới về việc triển
khai, ứng dụng trong hoạt động kinh doanh nói chung và thương mại điện t
ử nói
chung.
II. Mục tiêu của đề tài
Cho đến nay, ở trong nước hầu như chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập một cách cụ
thể về phương thức tiếp thị mới này. Vì vậy, trong khuôn khổ của đề tài, tác giả và
nhóm chuyên gia mong muốn sẽ chuyển tài được 3 mục tiêu chính, đó là:
- Nghiên cứu các khái niệm, hoạt động cơ bản của hoạt động e-marketing nói chung;
- Nghiên cứu, đánh giá mức
độ ứng dụng của hoạt động e-marketing trong thương mại
điện tử trên thế giới;
- Nhìn nhận lại thực trạng ứng dụng e-marketing tại Việt Nam để có những đề xuất
mang tính ứng dụng cao.
III. Phương pháp tiến hành
Trong giới hạn về thời gian và nguồn lực của đề tài, phương pháp được tiến hành trong
suốt quá trình thực hiện đề tài bao gồm:
- Thu thập tài liệ
u: tham khảo từ các nguồn có sẵn như Internet , các báo cáo, các giáo
trình nếu có;
- Làm việc trực tiếp với các cơ quan hữu quan, các doanh nghiệp, tổ chức có liên quan;
tham vấn các đơn vị , đối tác nước ngoài;
- Khảo sát / Điều tra: đối tượng điều tra là doanh nghiệp, người tiêu dùng có ứng dụng
thương mại điện tử;
- Nghiên cứu và đề xuất giải pháp.
IV. Phạm vi nghiên cứu
E-marketing là một l
ĩnh vực nghiên cứu rộng, đòi hỏi có sự đồng tư về nguồn lực và
thời gian cao. Vì vậy, giới hạn trong phạm vi đề tài, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung
nhiều góc độ khác nhau.
Theo Philip Kotler, cha đẻ của marketing hiện đại, e-marketing là quá trình lậ
p kế
hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để
đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân dựa trên các phương tiện điện tử và Internet.
(Philip Kotler, Marketing Management, 11
th
Edition, 2007)
Theo Mark Sceats thì e-marketing chính là hoạt động tiếp thị sử dụng Internet là kênh
hiển thị.
Hay theo quan niệm của Chaffey thì e-marketing là hoạt động đạt được mục tiêu nhờ
kỹ thuật truyền thông điện tử.
Hay theo một quan niệm khác thì cho rằng, e-marketing là hoạt động ứng dụng mạng
Internet và các phương tiện điện tử để tiến hành các hoạt động marketing nhằm đạt
được các mục tiêu của tổ chức và duy trì quan h
ệ khách hàng thông qua nâng cao hiểu
biết về khách hàng, các hoạt động xúc tiến hướng tới mục tiêu và các dịch vụ qua
mạng hướng tới thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản và có hệ thống căn cứ định nghĩa khái niệm tại
Luật Giao dịch điện tử, e-marketing là hoạt động tiếp thị, quảng bá sản phẩm, dịch
vụ b
ằng cách ứng dụng các phương tiện điện tử như điện thoại, fax, Internet …
Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu e-marketing ứng
dụng Internet hay còn gọi là tiếp thị trực tuyến.
2. Quá trình hình thành và phát triển
Nhìn chung, quá trình hình thành và phát triển của e-marketing được chia thành ba giai
đoạn:
- Thông tin: các hoạt động marketing điện tử nhằm giới thiệu quảng bá hình ảnh
doanh nghiệp, sản phẩm d
ịch vụ của doanh nghiệp thông qua các website thông tin,
marketing rõ ràng và linh hoạt.
• Không giới hạn về thời gian
E-marketing có khả năng hoạt động liên tục tại mọi thời điểm, khai thác triệt để thời
gian 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần, 365 ngày trong một năm, hoàn
toàn không có khái niệm thời gian chết. Doanh nghiệp có thể cung cấp dịch vụ hỗ
trợ
khách hàng trực tuyến mọi lúc, mọi nơi; tiến hành nghiên cứu thị trường bất cứ khi
nào; gửi email quảng cáo …
• Tính tương tác cao
Tính tương tác của mạng Internet được thể hiện rất rõ ràng. Chúng cho phép trao đổi
thông tin hai chiều và cung cấp nhiều tầng thông tin cũng như tạo ra mối quan hệ trực
tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng. Hoạt động marketing trực tuyến cung cấp thông
tin theo yêu cầu của người sử d
ụng và cho phép người sử dụng xem các thông tin.
10
Khách hàng có thể cung cấp thông tin phản hồi về một sản phẩm nào đó, có thể yêu
cầu nhận thêm thông tin hoặc yêu cầu không nhận thêm thông tin về sản phẩm đó nữa.
• Khả năng hướng đối tượng thích hợp
Hoạt động marketing trực tuyến có rất nhiều khả năng để nhắm vào đối tượng phù
hợp. Doanh nghiệp có thể nhắm vào các công ty, các quốc gia hay khu vực địa lý,
cũng như
doanh nghiệp có thể sử dụng cơ sở dữ liệu để làm cơ sở cho hoạt động tiếp
thị trực tiếp. Doanh nghiệp cũng có thể dựa vào sở thích cá nhân và hành vi của người
tiêu dùng để nhắm vào đối tượng thích hợp.
• Đa dạng hóa sản phẩm
Ngày nay việc mua sắm đã trở lên dễ dàng hơn nhiều, chỉ cần ở nhà, ngồi trước máy vi
tính có kết nối Internet là khách hàng có th
ể thực hiện việc mua sắm như tại các cửa
hàng thật. Sản phẩm và dịch vụ được cung cấp trên các cửa hàng ảo này ngày một
phổ biến xuất hiện trong các chiến lược e-marketing. Việc email được chấp nhận rộng
rãi và hộp thư của khách hàng bị đầy ắp nhanh chóng khiến các nhà tiếp thị sẽ không
thể dùng chiến lược cũ là “vung tiền cầu may” mà phải cố gắng duy trì ở mức thích
hợp. Để làm được điều
đó, các nhà tiếp thị không những phải nỗ lực tạo ra các chiến
dịch có tính thuyết phục mà còn phải tập trung mạnh hơn vào việc phân tích và quản lý
vị trí thư đến, cách trình bày nội dung và quan tâm tới uy tín của doanh nghiệp.
• Tìm kiếm tiếp tục là công cụ chủ yếu nhưng tính phức tạp gia tăng
Chưa có dấu hiệu nào cho thấy các khách hàng sẽ thôi không sử dụng công cụ tìm
kiếm như một công cụ ch
ủ yếu để tìm kiếm sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, các nhà
tiếp thị bằng công cụ tìm kiếm đang bắt đầu chú ý đến một số công cụ tìm kiếm khác
không phải là Google. Không chỉ do sự tăng trưởng đầy triển vọng của Bing ở Mỹ mà
còn do thị trường toàn cầu bị phân chia mạnh mẽ bởi các đối thủ địa phương như trang
tìm kiếm Baidu của Trung Quốc và Yandex của Nga. S
ự cộng tác giữa các đối thủ để
cải tiến các tiện ích, định vị vị trí khiến mức độ phức tạp của hoạt động tiếp thị bằng
công cụ tìm kiếm đang gia tăng.
• Mở rộng mục tiêu và cá biệt hóa trên website
Cá biệt hóa sẽ làm tăng tính phức tạp vì các nhà tiếp thị phải nhắm vào những người
truy cập vô danh dựa trên việc khảo sát URL, từ khóa tìm ki
ếm và định vị vị trí địa lý.
Các nhà tiếp thị đồng thời sẽ phải cung cấp thông tin về email, chào hàng và các thông
điệp trên website để có thể tiếp cận khách hàng tốt hơn thông qua các thông điệp tiếp
thị.
• Phát triển và chấp nhận các kênh trực tuyến khác
Các nhà tiếp thị đang đối mặt với sự thay đổi chóng mặt của một loạt các kênh mới
như điện thoạ
i di động (tin nhắn, website, các ứng dụng), rich media (video, podcast,
chơi game), truyền thông xã hội (tiểu blog, mạng xã hội) và rất nhiều thứ khác. Các
tích, thực hiện marketing tích hợp, các giải pháp tiếp thị sẽ được chấp nhận dựa trên
nhu cầu. Dịch vụ thuê phần mềm theo nhu cầu (SaaS) cho phép các nhà tiếp thị cá bi
ệt
hóa chiến dịch mà không phụ thuộc nhiều vào công nghệ thông tin.
• Giải pháp trọn gói rút ngắn khoảng cách giữa phân tích và hành động
Các nhà tiếp thị bị ngập chìm trong biển dữ liệu bởi vô số các kênh trực tuyến. Công
cụ phân tích website giúp các nhà tiếp thị đo lường hoạt động thông qua nhiều kênh
trực tuyến. Nhưng để chuyển đổi thành lời khuyên hữu ích thì vẫn còn đầy thách thức.
Để xóa khoảng cách giữa phân tích và hành động, gi
ải pháp tiếp thị trực tuyến trọn gói
cho phép các nhà tiếp thị đáp ứng nhanh chóng nhu cầu và sự quan tâm của khách
hàng đối với việc cá biệt hóa nội dung website và email, nơi phản ánh tất cả thông tin
thu được thông qua hoạt động phân tích website. Kết quả là sẽ có thêm nhiều chiến
dịch tiếp thị hấp dẫn và thành công nhiều hơn.
II. Các công cụ e-marketing cơ bản
1. Trang thông tin điện tử (Website)
Website là một giải pháp e-marketing quen thuộc đối v
ới các doanh nghiệp. Hầu hết
các doanh nghiệp đều đã thiết kế website riêng để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ và
quảng bá thương hiệu. Tuy nhiên, cách thức khai thác và sử dụng website hiệu quả vẫn
còn là một vướng mắc đối với doanh nghiệp. Để tăng hiệu quả sử dụng, các doanh
nghiệp phải tiến hành theo một trình tự chuẩn. Đầu tiên, tiến hành thiết kế website cần
d
ựa vào mục tiêu và đặc điểm của những người truy cập thường xuyên. Bởi vì mục
tiêu kinh doanh và những người truy cập thường xuyên sẽ quyết định việc website đó
13
trông như thế nào trên màn hình máy tính, cách thức người truy cập tương tác trên
website. Mục tiêu ở đây có thể là cung cấp thông tin chính xác về các vấn đề mới, có
phần mục để người dùng tham gia bình luận, đánh giá chất lượng của bài viết (đối với
yếu tố, bao gồm màu sắc, nút bấm, hình nền, kết cấu, quy tắc, đồ họa, hình ảnh, âm
thanh.
Hộp II.1: Giao diện website bán hàng trực tuyến Amazon năm 1998
14
Hộp II.2: Giao diện website bán hàng trực tuyến Amazon năm 2009
những từ khóa có liên quan. Doanh nghiệp sẽ đặt giá cơ bản cho mỗi click và trả tiền
cho mỗi lần công cụ tìm kiếm hướng khách hàng tới website. Khi có nhiều người truy
cập vào trang web đồng nghĩa với việc doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội trong việc
bán hàng và tạo dựng thương hiệu.
H1:Pay Per Click – Trả tiền theo Click
16
SEO – tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
SEO là chữ viết tắt của từ Search Engine Optimization (tối ưu hóa công cụ tìm kiếm).
SEO là một tập hợp các phương pháp nhằm nâng cao thứ hạng của một website trong
các trang kết quả của công cụ tìm kiếm. Doanh nghiệp không cần trả phí nếu xuất hiện
trong phần kết quả tìm kiếm tự nhiên nên một trang web được tối ưu hóa sẽ tiết kiệm
được rất nhiề
u chi phí chạy Pay Per Click. SEO được chia làm hai phần: onpage
optimization (là cách xây dựng cấu trúc trang web, nội dung trang web, sự chặt chẽ,
kết nối giữa các trang trong trang của bạn) và off-page optimization (là quá trình phổ
biến trang web của bạn đến nhiều người). Các nhà tiếp thị sử dụng SEO với mục tiêu
chủ yếu là nâng cao thứ hạng của danh sách tìm kiếm miễn phí theo một số từ khóa
nhằm tăng lượng truy cập vào trang web.
H2:Search Engine Optimization (SEO) – Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
Trên thực tế, người dùng Internet có thể truy cập vào một website bằng ba cách, đó là:
sử dụng công cụ tìm kiếm; nhấp vào liên kết từ các trang khác; hoặc đánh địa chỉ
URL. Theo báo cáo của Pew Internet & American Life thì gần một nửa người dùng
Internet trên thế giới sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm kiếm thông tin về các vấn đề
khác nhau. Như vậy, quảng cáo thông qua công cụ tìm kiếm là một hình thức có thể
đem lại hiệu quả cao.
bêntronglàbềnvững.
Bước3:Xemxétlạibảngkếtquảvềyêucầuliênkếtvàthưmục/côngcụtìmkiếm.
• Theo dõi lượng truy cập
Việc theo dõi lượng truy cập là một công việc hết sức cần thiết bởi những con số thống
kê về lượng người truy cập này chính là những con số biết nói. Dựa vào báo cáo thống
kê phân tích lượng người truy cập vào trang web, các nhà tiếp thị đưa ra những quyết
định chính xác hơn khi tiến hành các hoạt động quảng bá website, có những điều chỉnh
đúng hướng và kịp thời đối vớ
i cấu trúc và nội dung của website. Hơn nữa, việc theo
18
dõi lượng người truy cập còn giúp các nhà tiếp thị đánh giá hiệu quả của một chiến
dịch quảng bá sản phẩm, dịch vụ hay thương hiệu của công ty.
• Nghiên cứu từ khóa
Để lựa chọn được một từ khóa thích hợp cho website là cả một nghệ thuật.
Tìm kiếm từ: Khi chọn từ khóa, bắt đầu bằng kỹ thuật đảo ngược các trang web của
đối thủ c
ạnh tranh và các trang web xuất hiện ở ba vị trí đầu tiên đối với một cụm từ
tìm kiếm cụ thể. Xem xét lại toàn bộ trang web và lập một danh sách các từ khóa đã sử
dụng. Động não tìm kiếm những cụm từ khác xuất hiện trong văn bản của bạn. Sau đó
sử dụng danh sách này làm dữ liệu cho một vài công cụ tạo từ khóa để tìm ra những
cụm từ phù hợp và những đề
xuất thay thế.
Sử dụng công cụ tạo từ khóa: Các công cụ tạo từ khóa có thể giúp bạn phát hiện ra
các từ khóa hiệu quả cho trang web của bạn. Các công cụ tạo từ khóa như Google
Adwords Keyword, Keyword Discovery, Wordtracker…cho phép bạn nghiên cứu,
phân tích và lọc các từ khóa tiềm năng.
Ví dụ: với công cụ Google Adwords Keyword, bạn chỉ việc nhập từ khóa của bạn vào
và nhấp "Get keyword ideas", sau đó bạn có thể xem xét các thông tin về từ khóa đã
dụng nhất hiện nay trên mạng.
Để thực hiện việc gửi thư điện tử tới ng
ười nhận, công ty phải có được danh sách địa
chỉ thư điện tử của các khách hàng mà công ty muốn gửi thông điệp của mình. Công ty
có thể đi thuê của những công ty chuyên cung cấp các danh sách email hoặc có thể tự
20
làm danh sách email cho riêng mình. Sau khi đã có được danh sách email của các
khách hàng, công ty có thể tiến hành việc gửi email trực tiếp để quảng bá cho sản
phẩm của công ty. Tuỳ thuộc vào sự cho phép của người nhận hay không đối với các
email đó, ta có hai hình thức gửi email trực tiếp là email không được sự cho phép của
người nhận và email được sự cho phép của người nhận.
a. Email không được sự cho phép của người nhận (Unsolicited Email Marketing hay
Unsolicited Commercial Email - UCE) hay còn gọi là Spam
"Spam là hiện tượng một công ty g
ửi thư quảng cáo tới các địa chỉ mà người nhận
không có yêu cầu về thông tin của công ty đó”.
Đây là hình thức marketing bằng email đầu tiên xuất hiện trên Internet. Người tiêu
dùng hay khách hàng thường nhìn nhận hiện tượng spam như là hình thức tiếp thị qua
điện thoại, điều đó có thể gây phiền phức cho họ và rất có thể sẽ khiến họ khó chịu và
có những nhận xét không tốt về công ty đã gửi spam. Tuy nhiên, không ph
ải là không
có cách khắc phục nhược điểm của các spam nếu như nhà tiếp thị vẫn muốn dùng nó.
Một nhà tiếp thị khôn ngoan có thể gửi kèm theo bức thư một món quà nho nhỏ và một
mẫu đăng ký danh sách gửi thư. Chỉ nên gửi quảng cáo của mình đến hộp thư của
khách hàng một hoặc hai lần và số lần nên cách nhau một khoảng thời gian dài để
không gây khó chịu cho người nhận. Đồng th
ời nhà tiếp thị cũng nên nói rõ cho họ
biết nếu họ không muốn nhận thư của công ty nữa, chỉ cần thực hiện một số thao tác
đơn giản là họ có thể loại bỏ tên của mình ra khỏi danh sách nhận thư, cũng như sẽ
ngườitrêndanhsáchemailtrựctiếp.Khihọnhìnvàohộpthưemailcủamìnhđể
xemchủđềcủatấtcảcácemail,nếuthấychủđềhayhọsẽmởemail.
Thôngtinngắngọnđivàochủđiểm,sựquantâmcủangườixemchínhlàhànghoá
cógiátrịtrênmạng. Tránh gửi các phần kèm theo vì mọi người thường không
muốnnhậncácphầnnàytrừphicóyêucầu.
Cungcấpmộtthứgìđócógiátrịtrongmỗilầngửithưnhư:giảmgiá,tintứcquan
trọnghoặcmộtthứgìkhác.Mấuchốtlàphảitạođượclýdođểmọingườimuốnđọc
láthưtiếptheovàcósuynghĩtốtvềcôngty.Kiểmtranhiềukiểukhuyếnmạixem
cáinàocóhiệuquảnhất.
Đưaracácđềnghị: Ngườitiêudùngcầnđượccungcấpmộtlýdothúcđẩyhọđáp
lạivàcôngtycầnđảmbảoviệcliênlạclàthuậnlợinhấtbằngcáchcungcấpcáclựa
chọnphươngtiệnliênlạcchongườisửdụng:địachỉemail,URL,sốđiệnthoạihoặc
sốfax.
Tạoracácđườnglinkkếtnốitrongcácbứcthư:Ngàynay,phươngpháptiếpthị
bằngemailhiệuquảnhấtgồmcácliênkếtnónghoặccácsiêuliênkếttrongthông
điệpbằngemailnhằmđưakháchhàngtớithẳngđịachỉcủanhàquảngcáo.Bằng
những đườnglinknày,người nhận cóthểtìmkiếm được nhiều thôngtin hơn về
công ty qua các cuốne‐bookhaycácwebsiteđược link tới. Nhữngliên kết này
không nênđưa khách hàng tới trang chủmànênđưa họtới thẳngcáctrangđã
đượcthiếtkếdànhchokháchhàng.Bêncạnhđó,côngtynêntạoramộtcuốnsách
điệntửgiớithiệuthậtđầyđủvàchitiếtvềcôngty.Nhữngcuốnsáchđiệntửsẽlà
nhữngcôngcụrấthiệuquảđểquảngcáochosảnphẩmvàcôngtymàkhôngtốn
nhiềuthờigianvàtiềnbạc.
Cá nhân hóa các thôngđiệp và đưa ra các thông tin chọn lọc:Hãythêmtên
ngườixemvàodòngtiêuđề,vìnónhanhchónggâyrasựchúýcủangườixemvà
khơidậytrítòmòcủahọ.Nócũngtạoracảmgiácđâylàbứcthưcôngtyviếtđể
22
dànhriêngchohọ,hayđâychínhlàcácthôngtinmàhọđãyêucầu.Nếucóthể,
côngtynêngửichomỗiloạikháchhàngmộtthôngđiệpkhácnhau.Chẳnghạntất
Hầu hết các banner động có từ 2 đến 20 khung. Kiểu quảng cáo này cực kỳ phổ biến,
với lý do đơn giản là nó được nhấn vào nhiều hơ
n so với các quảng cáo banner tĩnh. Vì
có nhiều khung nên các banner này có thể đưa ra được nhiều hình ảnh và thông tin hơn
quảng cáo banner tĩnh. Hơn nữa, chi phi để tạo ra kiểu banner này cũng không tốn kém
và kích cỡ của nó nhỏ thường không quá 15 kilobyte.
- Banner kiểu tương tác: Quảng cáo kiểu banner tương tác ra đời nhằm đáp ứng
nhu cầu khách hàng tốt hơn, cho phép khách hàng tương tác trực tiếp với quảng cáo
chứ không đơn thuần là "nhấn". Các banner loại này còn thu hút các khách hàng b
ằng
23
nhiều cách khác nhau như qua các trò chơi, chèn thông tin, trả lời câu hỏi, kéo menu
xuống, điền vào mẫu hoặc mua hàng.
- Banner dạng rich media: Đây la sự kết hợp công nghệ tiên tiến đưa vào quảng
cáo banner. Rich media là một công nghệ cho phép thể hiện được thông điệp quảng
cáo chi tiết hơn, hoặc ở mức độ tương tác cao hơn so với các banner chuẩn GIF. Rich
media được xem là loại quảng cáo có dải thông cao, gây ảnh hưởng với khách hàng
nhi
ều hơn loại quảng cáo dạng banner động GIF. Banner dạng rich media cho phép
khách hàng hoàn tất việc giao dịch trong quảng cáo mà không phải ra khỏi website của
nhà thiết kế.
Hộp II.3: Giới thiệu về trang báo điện tử VnExpress.Net
Xuất hiện trên môi trường Internet vào những ngày đầu tháng 2/2001, và đến nay,
Vnexpress đã tạo dựng được vị thế và có được lượng độc giả lớn nhất trong các trang
thông tin điện tử của Việt Nam.
Theo Google Analytics, Vnexpress hiện có gần 12,7 triệu độc giả thường xuyên, với
hơn 20 triệu lượt truy cập mỗi ngày. Trong đó, độc giả trong nước chiếm 83%, khoảng
7% ở Mỹ, số còn lại từ các nướ
b. Quảng cáo Interstitial
Quảng cáo Interstitial hay còn gọi là quảng cáo “pop–up” là các quảng cáo xuất
hiện trên màn hình và làm gián đoạn công việc của người sử dụng. Phiên bản quảng
cáo dưới dạng này sẽ bật ra trên một màn hình riêng, khi bạn nhắc chuột vào một
đường link hay mộ
t nút bất kỳ nào đó trên website. Sau khi nhấn chuột, bạn sẽ nhìn
thấy một cửa sổ nhỏ được mở ra với những nội dung được quảng cáo.
Các nhà quảng cáo rất thích sử dụng loại hình quảng cáo này vì chắc chắn nó sẽ
được người sử dụng biết tới. Tuy nhiên, hình thức quảng cáo này khiến một số khách
Nguồn thu chính của VnExpress là từ hoạt động quảng cáo, trong đó quảng cáo
Banner chủ yếu. Các nhà marketer hầu hết đều thích đặt Banner trên VnExpress bởi
khả năng nhắm trọn đối tượng mục tiêu. Tuy nhiên, mức giá đặt Banner trên
VnExpress là khá cao khiến các nhà marketer phải cân nhắc kỹ lượng. Ví dụ như,
muốn đặt một Half Banner trên trang chủ của VnExpress, với kích thước 394x90
pixels với cơ chế là cố định và chia sẻ 3 thì doanh nghiệp phải trả 180,000,000
đồ
ng/tháng.
Nguồn: www.redsailvietnam.com